Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2018

CHÙM THƠ 1-2-3 CỦA PHAN HOÀNG

Nhằm tìm một hình thức thơ mới để thể hiện, nhà thơ Phan Hoàng đã thử nghiệm cách viết Thơ 1-2-3. Mỗi bài thơ gồm 3 đoạn, 6 câu.

Đoạn 1 chỉ 1 câu gồm tối đa 11 chữ, đồng thời cũng là tên bài thơ nhằm tránh sự dễ dãi trùng lắp tên bài thơ của người đi trước dẫn tới đạo văn. Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ. Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ.

Nghĩa là, Thơ 1-2-3 câu và đoạn tương ứng tối đa 11-12-13 chữ, với nội dung đi từ hướng ngoại dần vào hướng nội. Đây là một cố gắng thể nghiệm mới trên hành trình sáng tạo của nhà thơ Phan Hoàng. Đất Việt xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Nhà thơ Phan Hoàng ở Nga


Sống lại giấc mơ trên đồi Chim Sẻ

Mặt trời dừng ngôi sao đỉnh tháp trường Lomonosov
Luzhniki cỏ tươi nguyên không khí lễ hội bóng đá hành tinh

Xanh biếc sông in Moskva tráng lệ thu tầm mắt
đường thoai thoải tuổi xuân chim hót xuyên rừng
khởi hành giấc mơ tri thức ba mươi năm ta mới gặp mình


Moskva chiều thanh vắng xa em

Trỗi dậy trong ta lời ca ngân nga thân quen
giai điệu mơ màng đôi mắt xanh nâu thiếu nữ

Tình nhân thắm nồng cỏ biếc hồn nhiên công viên
vi vu gió gọi trăng trắng đêm bạch dương tình tự
hiện lên gương mặt rằm trăng em thuở mới tượng tình


Dưới ánh trăng Sergei Yesenin bỗng hiện về

Lãng tử trên lưng ngựa lướt qua cánh đồng lúa mì
lững thững rừng phong lá rơi vàng bước chân ngôn ngữ

Với thi nhân khổ đau và cái chết không có điều gì mới
sợ đôi mắt người đẹp buồn hơn, mẹ già khuya sớm cút côi
dưới ánh trăng linh cảm tài hoa bão tuyết xoáy lòng tôi


Hải âu độc thoại điều gì bên vịnh Phần Lan?

Saint Petersburg hạ ấm chuyển thu lạnh mây mưa đá
ánh vàng cung điện trầm tư sông Neva in bóng vĩ nhân

Đâu đây tiếng chạm ly vodka lần đầu Pushkin - Gogol hội ngộ
và tiếng bước chân “ăn bám” đắng cay Brodsky từ giã nước Nga
theo cánh hải âu tôi bay trong nỗi buồn kỳ ảo thi ca!


Giữa bình minh mưa rực sáng bông hồng vàng

Bông hồng Paustovsky nở từ cuộc sống cô đơn sáng tạo
cái đẹp và sự tự do kết tinh từng hạt bụi vàng

Tiếc thương Pasternak và những ngôi sao chói rạng bốn phương
Paustovsky thảng thốt trước bóng tối uy quyền lãng quên báu vật
ánh sáng bông hồng vàng hướng tôi về Tâm hồn Nga - Tarusa


Dostoevsky chẳng quan tâm tượng mình đứng hay ngồi

Đày đoạ ngục tù hay lang thang túng quẫn
ông chỉ ưu tư số phận những kẻ bần hàn

Thần bút chưa dừng ở anh em nhà Karamazov
còn nhiều tội ác và hình phạt những kẻ giàu có bất lương
trĩu nặng ưu tư trang văn sáng soi chín cõi vô thường


Trái tim thơ Olga Berggolts toả ấm nghĩa trang

Không ai bị lãng quên, không điều gì bị quên lãng”
câu thơ sống mãi những người ngã xuống vì Leningrad năm xưa

Tên thành phố đổi thay nhưng tình yêu không bao giờ thay đổi
và chẳng vĩnh cửu nào bằng trái tim nồng nàn Olga Berggolts
xin nghiêng mình trước áng thơ máu xương nâng cánh tâm hồn


27 tuổi đời bay tìm tự do và tĩnh lặng

Khi viên đạn sát nhân tiếp tục bắn vào thơ Nga
cõi hư vô Pushkin đau buồn nắm tay Lermontov

Một mặt trời tái ngộ một mặt trời
vũ trụ thi ca chìm trong bóng đêm tổn thất
tại sao cái đẹp bị dập vùi và cái ác lên ngôi?


Hoàng hôn phương bắc mắt khuya phương nam

Đau đáu đôi mắt u buồn Natalia thương nhớ Pushkin
trái đất ngừng quay sau viên đạn bắn vào lòng tự trọng

Đêm đêm Pushkin vẫn nắm tay Natalia đi về Arbat phố cổ
tình yêu mãnh liệt thi sĩ thời nào cũng ngờ nghệch bão giông
trong mơ vội vàng tôi hôn ngọt mắt em quê nhà thao thức


Có phải Tchaikovsky hoà tấu cùng Mozart?

Nhớ con trai bé bỏng yêu nhạc tôi đi tìm Tchaikovsky
bất ngờ gặp Mozart truyền thần lắng tiếng chim cây phố 

Sống cống hiến phi thường, chết đớn đau bí ẩn
Mozart và Tchaikovsky giao hưởng số phận bi kịch thiên tài
nhân danh tình yêu của con, tôi nguyện cầu bình yên tương lai!

Moskva - Saint Petersburg 9.2018

Nguồn: Báo Đất Việt


TIẾNG NÓI TÂM LINH TRONG THƠ MỘT SỐ TÁC GIẢ THUỘC THẾ HỆ ĐỔI MỚI

“Thế hệ Đổi mới” là một thuật ngữ mang tính quy ước, nhằm chỉ thế hệ nhà thơ Việt Nam xuất hiện và thành danh chủ yếu vào thời kỳ Đổi mới (sau 1986). Về độ tuổi, họ chủ yếu thế hệ 5X, 6X. Các sáng tác của họ thể hiện một quan niệm và thi pháp sáng tạo mới, có nhiều điểm khác biệt so với thế hệ chống Mỹ trước đó. Đó là một thế hệ hội tụ khá nhiều cá tính nghệ thuật riêng, độc đáo như Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Inrasara,...
Ths. Phạm Thị Trịnh (Doãn Minh Trịnh)

Trong công trình Văn hóa tâm linh, Nguyễn Đăng Duy quan niệm: Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng, cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [1; tr.12]. Tiếng nói tâm linh là một phần đời sống tinh thần gần gũi nhưng đầy bí ẩn của con người. Trong bài phát biểu khai mạc Hội thảo khoa học với chủ đề “Văn học và văn hoá tâm linh”, Nguyễn Đăng Điệp đã nhận định tâm linh: là một thế giới có nhiều bí ẩn mà khoa học đến nay vẫn chưa thể giải thích hết được. Nhưng về cơ bản, có thể khẳng định, đó là thế giới gắn liền với niềm tin về những giá trị cao cả, thiêng liêng. Hướng đến tâm linh, con người kỳ vọng hướng tới những giá trị chân thiện mỹ (dẫn theo [2]).

Có thể nói, tiếng nói tâm linh thường gắn với khát vọng hướng tới một cõi sống thiêng liêng, cao cả, giúp con người có niềm tin để vượt qua trở lực của đời sống trần tục, tạo nên một sự cân bằng cần thiết trong đời sống tinh thần của cá nhân và nuôi dưỡng, hoàn thiện tâm hồn họ.

Tiếng nói tâm linh là một chủ đề khá nổi bật trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ Đổi mới. Các tác giả này quan niệm về vô thức, tâm linh như một đối tượng nghệ thuật cần chiếm lĩnh, và hơn thế, như một phương tiện sáng tạo hiệu quả để đào sâu hơn vào đời sống tinh thần phong phú, bí ẩn của con người. Đây là một nội dung hầu như vắng bóng ở nền thơ ca Cách mạng 1945 - 1975. Trước năm 1975, trong nền thơ này, vùng tâm linh bí ẩn mờ khuất trong đời sống tinh thần của con người gần như là một đề tài bị bỏ quên. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên do, trong đó đặc biệt là do hoàn cảnh chiến tranh và quan niệm sáng tạo tương ứng. Bước vào thời hậu chiến và Đổi mới, những thay đổi to lớn trong tình hình đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… cũng tác động nhiều tới các cây bút. Tâm linh được quan niệm như một hiện tượng khách quan của đời sống con người và đã được nhận thức lại một cách sâu sắc và công bằng hơn. Qua con mắt tâm linh, người ta có điều kiện để nhìn sâu hơn vào đời sống nội tâm của cá nhân, để suy ngẫm, nhận diện về những vẻ đẹp tinh thần bí ẩn, sâu xa, trường cửu, để nhận thức sâu hơn về các giá trị sống thiêng liêng, cao cả… Bên cạnh đó, quan niệm sáng tạo của nhiều cây bút thời kỳ này cũng có những chuyển biến, cách tân mạnh mẽ. Thơ giờ đây, với nhiều tác giả, không phải là khúc tráng ca trên chiến hào mà là tiếng nói tinh thần của con người cá nhân, cá thể. Tuy nhiên, dù đi sâu vào những khúc khuỷu sâu kín nội tâm, vào những vùng mờ hư ảo của tâm linh, họ vẫn tìm thấy vang hưởng của tiếng nói của một cộng đồng lớn lao – tiếng nói của nhân quần, nhân loại. Sáng tạo về những vùng tâm linh hư huyễn, với họ, là một cách để tìm tòi, phát hiện đầy đủ hơn về chính nội tâm cá nhân, cũng là của nhân loại, cũng là một cách để mở rộng phạm vi hiện thực mô tả. Đó là cái “hiện thực bên trong”- hiện thực của tinh thần, nội tâm, đối lập với cái “hiện thực bên ngoài”- hiện thực của những cuộc đấu tranh giai cấp, chính trị… Như vậy, viết về hiện thực tâm linh cũng là một cách để người nghệ sỹ mở rộng con đường tìm kiếm, sáng tạo nghệ thuật. Từ đây, thay vì những đề tài, chủ đề mang tính sử thi, họ quan tâm hơn tới đời sống thế sự, đời tư của con người. Thay vì những đề tài chính trị lớn lao, mang tính tập thể, cộng đồng, họ chú trọng hơn đến việc đi sâu tìm kiếm, khai thác tiếng nói nội tâm, bản thể của cái tôi cá nhân. Và cũng rất tự nhiên, từ sự tập trung quan tâm tới  con người xã hội – chính trị trước đó, họ chuyển mối quan tâm sang con người – tư tưởng (theo nghĩa rộng), con người - tâm linh.

Tóm lại, đây không chỉ là một sự thay đổi đơn thuần xuất phát từ bối cảnh lịch sử xã hội. Trên thực tế, đây là một bước chuyển mạnh mẽ trong quan niệm sáng tạo của người nghệ sỹ thế hệ Đổi mới. Nó xuất phát từ quan niệm và nhu cầu nhận thức về đời sống tinh thần của con người một cách đầy đủ hơn, đa chiều hơn, và do đó, cũng trở nên sâu sắc và nhân bản hơn. 

Với nhu cầu mở rộng thế giới mô tả, các nhà thơ thế hệ Đổi mới nỗ lực tìm tòi vươn tới bề sâu của vỉa tầng còn ẩn khuất của đời sống và tinh thần con người để khai thác, tái hiện, chiếm lĩnh. Họ luôn khao khát lý giải, khám phá về bản chất thế giới từ đằng sau cái hiện thực bề mặt được nhìn thấy, và mong muốn từ những hiện tượng, sự vật rời rạc, xa lạ, nhận ra những mối liên hệ ở bề sâu trực giác, tâm linh. Đó là lý do khiến họ đặc biệt quan tâm đến tiếng nói tâm linh bí ẩn trong đời sống con người. Nhu cầu và ý thức sáng tạo này đã tạo nên nhiều nét khác biệt trong nội dung cũng như thi pháp của nhiều tác giả thuộc thế hệ Đổi mới. Cũng từ đây, một thế giới thiêng liêng, bí ẩn, lạ lùng, gắn liền với những cảm xúc hướng thượng, cao cả… thường hiện diện trong thơ của họ. Đó là một thế giới đối lập lại với thế giới hiện hữu trần trục của con người. Nó thường gắn liền với những hình ảnh về cõi mơ, cõi huyền nhiệm, xứ sở của những điều u linh, cái chết…

Tiếng nói tâm linh trong thơ Dương Kiều Minh hiện hữu ngay trong không gian ký ức của ông. Trong tập thơ đầu tay năm 1989 - Củi lửa, Dương Kiều Minh luôn nhắc về quê hương, tuổi thơ của mình với những hình ảnh dòng sông, cánh đồng, khu vườn, mộ cha, mộ mẹ: Nhiều khi buồn nức nở/ngóng cánh đồng bên dòng sông Hồng cuộn đỏ/có nấm mồ cha/nấm mồ mẹ/đấy cố hương/và đây cố hương...(Cố hương). Cánh đồng có đám tang, có ngôi mộ: Nấm mồ không dòng mộ chí/ nhòa trên cánh đồng/ lẽ nào là mẹ...(Bộc bạch III)Đám tang đưa tiễn mẹ tôi vào một ngày mưa lạnh ngổn ngang cánh đồng gặt dở...(Chạnh niềm thôn dã); Cánh đồng nơi đây, nơi cha yên nghỉ, tuổi thơ con ngày ngày tha thẩn bên nấm mồ cha nằm...(Khúc tưởng niệm). Đối với Dương Kiều Minh không gian xám lạnh đầy u buồn đó là hoài niệm của  tuổi thơ một đi không trở lại. Cũng là hình ảnh dòng sông, cánh đồng nhưng cả một thế giới làng quê cùng hình ảnh, nhà cửa, mồ mả, bến sông, cánh đồng, đám ma, hình ảnh người bà, người đàn bà gánh nước đêm... trong thơ Nguyễn Quang Thiều, tất cả chìm trong một giấc mơ đầy huyễn ảo, dị thường:“Cỗ xe tang trôi mãi vào cơn mê/Những con rồng gỗ vảy vàng bay lên trong tiếng kèn, tiếng trống... con nhìn thấy bà nội mặc áo tơ tằm ngồi giữa ngàn ngọn nến/ Bà rót một bình nước mưa trong để đợi con về” (Âm nhạc). Không gian làng quê rộng lớn có hình ảnh dòng sông gắn liền với hình ảnh cánh đồng, có con sông Đáy hiền hòa cùng cánh đồng rau khúc, tiếng con chim quốc... đó là ký ức ám ảnh không nguôi của Nguyễn Quang Thiều. Hành trình về miền ký ức của Nguyễn Quang Thiều vừa huyễn hoặc vừa đậm màu cổ tích và mang đầy tính nghi lễ: Tôi khóc những mùa rau khúc thiêng liêng phủ đầy mưa xuân như phủ đầy cám bếp/ Nơi mãi mãi giấu vùi hơi thở của bà tôi (Tôi khóc những cánh đồng rau khúc)Tôi quỳ xuống vốc cát vào mặt/ Tôi khóc/ Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng (Sông Đáy). Với Nguyễn Bình Phương,  những hình ảnh xuất hiện trong thơ rất quen thuộc, gần gũi nhưng bỗng nhiên biến hóa không biết ở thế giới nào, ở trần gian hay âm giới: Khung cửa hẹp bỗng làm anh hồi hộp/ Có một người trở về sau ánh chớp/ Lặng lẽ mang đi hư ảnh cuối cùng (Bâng quơ); Trong thơ tác giả này, những hình ảnh tưởng như thân quen bỗng trở nên ma quái: Cuối cùng/chiếc gương cũng trào ra những bóng hình ứ đọng (Ở nơi không có cánh). Đọc thơ Nguyễn Bình Phương chúng ta có cảm giác những nhân vật, hình ảnh đang chuyển động trong không gian mộng mị dị kỳ…

Mộng mị, tưởng tượng và linh cảm là biểu hiện cụ thể nhất của tiếng nói tâm linh trong thơ Mai Văn Phấn. Tiếng nói của vô thức, của trực giác, tâm linh luôn ẩn hiện trong thơ Mai Văn Phấn. Dù là trong bất cứ hình ảnh, không gian, khung cảnh nào, hiện thực cuộc sống hay trong không khí lãng mạn của tình yêu đều được giãi bày bởi những cảm giác ma mị lạ lùng: Lỡ vin vào bóng mây qua/Lỡ nghe đắm đuối tiếng ma gọi đò (Gom nhặt cuối mùa); Nơi ấy da thịt em đã ngủ, bởi trong anh có tâm linh thì thầm/Em lần theo bóng mây trôi/Thấm qua sóng lá vô hồi... Hư vô thành yêu em... Em gọi chói chang bên kia sông mơ, con thuyền anh bỗng thành con chó nhỏ (Em xa). Mai Văn Phấn không chỉ dừng ở việc khao khát mơ tưởng mà ông còn muốn mình được trải nghiệm với những cảm giác vô thức trong từng giấc mơ, tưởng tượng hồn rời khỏi xác, để lang thang khắp nơi, để hòa hồn mình cùng cảnh vật, hoa, lá, cỏ, cây, hòa cùng thời gian.

Trong các nhà thơ Đổi mới, không chỉ có nhà thơ Mai Văn Phấn đi tìm hiện thực qua giấc mơ, phản ánh hiện thực qua trực giác tâm linh mà cả Nguyễn Lương Ngọc cũng đi rất xa đến cõi bí ẩn mơ hồ của tâm giới, linh giới. Ngay từ đầu Nguyễn Lương Ngọc đã nhận ra chiều sâu tăm tối, bí ẩn, khó nắm bắt của tâm giới con người. Nguyễn Lương Ngọc chú ý ngay đến nụ cười của hình ảnh Di Lặc sứ: Ông cười/ không thấy tiếng/ tiếng ấy tắt rồi/hay nó đâu đâu ngoài cõi người (Di Lặc sứ). Hình ảnh hiện lên rõ ràng nhưng mơ hồ bất định:“Cuộc sống lạnh lẽo sao/Cuộc chết ấm áp sao” (Lời hát). Đọc thơ Nguyễn Lương Ngọc chúng ta thường bắt gặp những lời thơ hay nói về chốn nương thân cuối cùng, cái chết hay tận cùng của cuộc đời. Cái chết thường trở đi trở lại, khi như một ý nghĩ bất chợt, khi như một tiếng nói mơ hồ từ cõi xa thẳm: Những con đã sinh ra thì đã chết/Những con chưa chết thì chưa sinh ra (Gọi hạc); Anh không thể cất mình lên nổi/Hay chọn đây làm chỗ gửi thân (Tìm gặp).

Đặc biệt đáng chú ý là Inrasara, người mang văn hóa Chăm hòa nhập cùng xã hội hiện đại. Inrasara sinh ra và lớn lên tại miền đất với nhiều hình ảnh đền đài, tượng tháp. Inrasara viết về vùng đất Chăm trong niềm say mê, cảm xúc về tình yêu quê hương tha thiết. Inrasara đã giúp người đọc cảm nhận một nền văn hóa Chăm với nhiều hình ảnh đền đài, tượng tháp linh thiêng, một thánh địa qua Tháp nắng (1996), Sinh nhật cây xương rồng(1997) ,Hành hương em(1999), Lễ tẩy trần tháng tư (2002)... Innasara cho rằng: “Người không học thấy tháp là tháp, người có học thấy tháp vẫn là tháp, chỉ riêng thi sĩ thấy tháp là chim”Nhà thơ viết: Đôi lúc/ nửa đêm/ tôi nghe tháp mọc ngang trời/Như giấc mộng như loá mắt/ tháp có mặt/ như chớp xé như âm vang/Bóng của tháp như dòng sông ma/ trườn qua đêm tối những triều đại/đánh thức ký ức các dân tộc/duyên nợ (hay cả không nợ nần gì) với tháp; với “Tháp hoang” thì “nổi cộm giữa chiều trời ma quái/ung nhọt trên làn da mềm mại/thảm rừng già xanh”.

Về lối viết, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã sử dụng ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu rất đa dạng, biến hóa. Trong thơ Dương Kiều Minh ranh giới quá khứ và hiện tại; giữa mơ và thực rất mong manh, là sự hòa trộn hiện thực và ký ức. Kết cấu đồng hiện, liên tưởng đa tuyến là kết cấu chủ đạo trong thơ Dương Kiều Minh. Ông thường sử dụng giấc mơ, huyễn tưởng, tưởng tượng để giãy bày tiếng nói nội tâm: Mơ mơ cánh đồng thơ ấu/không không không cả bóng người/không bước chân ngày ngây dại/cậu bé bây giờ về nơi?(Cánh đồng thơ ấu); Con nằm ngủ như nàng công chúa út/ lang thang qua những lâu đài/ cây lá um tùm/ cơ man là gió/cơ man là nắng.../ cánh rừng (Giấc mơ). Trí tưởng tượng và những giấc mơ cũng tràn ngập trong thơ Nguyễn Quang Thiều (Trong giấc ngủ muộn, Nhịp điệu châu thổ mới, Âm nhạc...). Những cánh đồng, dòng sông qua trí tưởng tượng trở nên mênh mông, rộng lớn gắn với nhiều ký ức của tuổi thơ. Nguyễn Bình Phương tưởng tượng Nhập chiều, Vọng từ giá sách, Người chèo đò lạnh... là âm vọng của tiếng động, của giọng nói.

Thơ Mai Văn Phấn tạo nên một không gian chập chờn giữa thực và ảo, ở đó những hình ảnh, mảng màu được gọi về từ cõi tâm linh. Trong không gian giấc mơ huyền ảo ấy “anh” thấy mình nhảy nhót như con thú hoang: Trong giấc mơ có anh/Bên em không hề biết/Anh xoài mình khắp những tán cây/Con dốc ven hồ, Vạt hoa trinh nữ/Con thú hoang nhảy nhót trong mơ (Em đừng thức giấc). Có thể nói,  không gian trong thơ Mai văn Phấn là không gian mơ hồ, không bến, không bờ và không giới hạn. Nguyễn Lương Ngọc tạo nên một khoảng trống, mơ hồ hóa về nghĩa trong thơ, với các câu thơ rời rạc, có những âm thanh  kéo dài, lặp lại: Trong mơ đau thắt ngực/Hình xưa lững thững về... Mơ, mơ/Chân đâu/Mình đâu/Buồn tiên cảm hát chân cầu lưu thủy (Tiên cảm);Yêu không thể giải thoát/A...a...a....A...a...a/Người là người, ta là ta/Ta là người, người là ta/ A...a...a....A...a...a (Lời hát).

Thơ Dương Kiều Minh dày đặc những từ đặc tả tính chất hư ảo “mơ”, “không”, “ai”: Mơ mơ cánh đồng thơ ấu/ không không không cả bóng người (Cánh đồng thơ ấu); Ai gọi tên?Mơ vậy/Người đâu ngờ ngợ quen (Niềm nhớ). Nguyễn Quang Thiều thường sử dụng những thán từ: “Ơi”, “hỡi”; những biện pháp tu từ liên tưởng, so sánh, nghịch dị, nhân hóa: Sông Đáy ơi! Chiều nay tôi trở lại (Sông Đáy). Mai Văn Phấn thường sử dụng cấu trúc thơ tự do, thơ không có vần điệu. Hình thức thể hiện này cho thấy nhà thơ không muốn bị đóng khung trong một khuôn mẫu nào mà tự do tưởng tượng, bay bổng: Những bông lau/Phơ phát/Từ không định/Bay vào hư vô... (Tạ ơn bông lau). Liên tưởng, so sánh cũng là thế mạnh của Mai Văn Phấn, tạo nên sự độc đáo trong thơ Mai Văn Phấn: Lỡ vin vào bóng mây qua/Lỡ nghe đắm đuối tiếng ma gọi đò (Gom nhặt cuối mùa). Cách sử dụng từ ngữ gây ảo giác, mộng mị; lối diễn đạt gây ám ảnh, mơ hồ; cách dùng điệp từ đặc trưng trong thơ Nguyễn Bình Phương: Đom đóm lập lòe bay qua thành phố/Để lại nụ cười mơ hồ xanh (Áo đêm); Tường chói tiếng nói chói (Miêu tả những ngày nắng); Mơ theo mưa mưa dắt anh đi (Chớp mắt Huế). Dù mỗi nhà thơ có cách kiến tạo câu, đoạn thơ khác nhau, rất biến hóa, nhưng tựu trung, những lối diễn tả đa dạng đó đều có tác dụng  gợi lên một không gian hư ảo, lạnh lẽo đến lạ lùng, đến rợn ngợp.

Đi sâu vào thế giới tâm linh, các nhà thơ có thể bộc bạch mọi ẩn ức, dằn vặt trong đời sống thực. Đọc thơ Dương Kiều Minh, chúng ta cảm nhận thơ ông tràn ngập nỗi buồn, luôn trằn trọc, dằn vặt, giằng xé cho thấy một đời sống nội tâm không thanh thản. Ông coi đời chỉ là cõi tạm, gửi ở đấy con người thực thể nhưng tâm hồn sống trong hoài niệm, bơ vơ cô độc và không khi nào không buồn. Nỗi buồn và cô độc khiến cái tôi  đằm sâu trong triết  lý. Phơi trải trên những trang thơ ấy là rất nhiều suy tư về phận người, cõi đời. Nhưng trong nỗi buồn đó, ta bắt gặp trong thơ ông luôn bền bỉ niềm tin hướng về cái đẹp và những giá trị tinh thần trường cửu. Với Nguyễn Quang Thiều thơ được dựng nên trong một trí tưởng tượng mênh mông hoang dại, giữa những hình ảnh, sự vật như không tồn tại bất kỳ mối liên hệ nào nhưng vẫn có một sự liên kết nội tại đầy bí ẩn. Giữa cái thực và cái ảo, dữ dội và nên thơ, quen thuộc và kỳ dị, mơ hồ và thấu suốt... tất cả phối trộn vào nhau tạo nên một cảm giác lạ lùng, mơ hồ như sự cất tiếng của giấc mơ đẹp và dữ dội đến ngạt thở. Cũng như Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều luôn hướng về quê hương của mình với nỗi nhớ da diết và tình cảm thành kính của người con tha  phương. Thơ Mai Văn Phấn gửi gắm khát vọng về sự tái sinh, vẹn nguyên, thanh khiết, trong sạch và con người trở về bản ngã chân thật. Có lẽ, đó cũng là niềm mong mỏi của ông về sự sống vẹn toàn, giá trị thiêng liêng của hơi thở, của cánh hoa, tiếng chim, nhựa sống, của đất đai, của nước, ánh sáng, bóng tối, cơn mưa, tia nắng. Nguyễn Lương Ngọc không phủ nhận việc hợp nhất giữa sự sống và cái chết, giữa đời sông trần tục và cõi tâm linh, giữa cái phù du và vĩnh cửu. Điều này lý giải tại sao thơ Nguyễn Lương Ngọc luôn có những mô tip đối lập giữa cái chết và sự tái sinh, sự ra đi và trở về như: “Run rẩy như vừa sinh lại...” (Cảm nhận); “Từ nước sinh ra/ Mai có nước ta về” (Từ nước).Với Inrasara ngủ yên hay còn phiêu bạt trong quá khứ tìm về cội nguồn Chăm, tìm về  thánh địa để làm hồi sinh một nền văn minh từng bị lãng quên và lu mờ: Ôi! Linh hồn tháng Mười/mà giấc mơ được tạc từ bóng hoa dại/đã rụng lâu rồi ở đồi tuổi thơ/đêm nay chợt sáng lên run rẩy (Những linh hồn tháng mười). Thơ Nguyễn Bình Phương, Inrasara, Trần Tiến Dũng… cũng thể hiện được chiều sâu của tâm thức khi đi vào thế giới tâm linh.

Như vậy, khai thác, mô tả tiếng nói tâm linh như một đối tượng thẩm mỹ, các nhà thơ hướng tới cái đích có thể chiếm lĩnh sâu sắc, rộng rãi hơn đời sống tinh thần, nội tâm  con người hiện đại và điều đó cũng góp phần tạo nên sự khác biệt khá rõ trên phương diện đề tài, chủ đề, lối viết của các nhà thơ thế hệ Đổi mới so với thế hệ cầm bút trước đó.

Những tác phẩm văn học viết về thế giới tâm linh thường tạo được chiều sâu ám ảnh trong tâm thức người đọc. Những điều thiêng liêng, cao cả được hiện lên qua những hình ảnh, biểu tượng, ý niệm thể hiện khát vọng vươn tới thế giới thanh sạch và tĩnh tâm. Chính vì thế, việc đọc thơ của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trở nên khó khăn hơn. Nhưng, từ một góc nhìn khác, đó cũng là một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn riêng của những cây bút này trong nền thơ ca Việt Nam đương đại.

PHẠM THỊ TRỊNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Hiền Nguyễn (2014), Văn học và Văn hoá tâm linh, những biến chuyển xưa - nayVanhocquenha.vn.

Nguồn: NVTPHCM


Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

CÁCH HIỂU CÁC BÀI THƠ HAIKU CỦA BASHO TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 10

Trong vườn thơ Nhật Bản, thơ hai-cư gắn liền với các tên tuổi tiêu biểu như: Buson, Chora, Chigô, Kikaku, Ba-sô...
Nhà thơ Basho

Lần đầu tiên thơ hai-cư được đưa vào chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 ở nhà trường phổ thông nước ta với một số bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Ba-sô. Mặc dù nằm ở phần đọc thêm nhưng sách giáo khoa và sách giáo viên đã có một hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bài khá rõ ràng. Tuy nhiên, người viết bài này qua bước đầu tìm hiểu cũng có một cách hiểu, một vài điều muốn trao đổi cùng quý đồng nghiệp gần xa. Cũng cần nói thêm, người viết không có tham vọng trình bày như một bài soạn giảng mà chỉ chú trọng đến một số đặc điểm nghệ thuật của các tác phẩm như một nét chấm phá đơn sơ, mong rằng sẽ nhận được nhiều góp ý đáng kể. Ngoài những ý chính về nghệ thuật được các soạn giả trình bày trong sách giáo viên như: thủ pháp tượng trưng, chất triết lí, cảm thức thẩm mỹ, ngôn ngữ; thơ hai-cư còn có những đặc điểm nghệ thuật nổi bậc sau.

1. Ở hầu hết 8 bài thơ in trong sách giáo khoa, bước đầu tìm hiểu sơ bộ ta thấy lộ lên một số điểm chung, mà tiêu biểu là nghệ thuật sử dụng thủ pháp tương phản, đối lập giữa các cặp phạm trù: vũ trụ - con người, vô hạn - hữu hạn, không gian - thời gian, hữu hình - vô hình, có - không, đen - trắng, tĩnh - động, tối - sáng, nhất thời - vĩnh hằng... Chính sự tương phản đối lập đó nhà thơ đã làm nổi bậc một cách cụ thể những vấn đề được nói đến trong thơ, và đây cũng chính là một cách giải mã khám phá bài thơ theo một hướng thi pháp riêng.

Từ một cuộc hành trình trở về quê hương sau mười năm xa cách, cảm nhận chính nỗi lòng mình với quê hương, về những điều được mất trong cuộc đời, nhà thơ Ba-sô viết:

Đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ê-đô là cố hương. (1)

Bằng trải nghiệm cũng như cảm nhận trong cuộc đời ở khoảng thời gian mười năm xa quê, nhà thơ khắc họa trước mắt chúng ta hai vùng đất khác nhau, hai khoảng không gian, thời gian xa vời; đất khách và quê hương, xưa và nay. Trước cái vô hạn của không gian thời gian ta bắt gặp cái hữu hạn trong cuộc sống con người khi tuổi mỗi ngày một qua đi, sự gắn bó với quê hương mỗi ngày một ngắn lại, từ đó nhà thơ cảm thấy yêu cuộc sống này hơn và "ngộ" ra một điều đâu cũng là quê hương. Ê-đô là cố hương. Như vậy trước cái hữu hình rộng lớn, nhà thơ biến thành cái vô hình nhỏ bé trong lòng tự mình biết để cảm nhận và diễn tả trải dài tình cảm nỗi niềm của mình đối với quê hương và đất nước. Bài thơ ngắn gọn còn là một triết lí sâu sắc trong quy luật tình cảm của con người với bất cứ nơi đâu khi bước chân mình đã qua, dù ngắn hay dài thì chuỗi thời gian ấy khó vơi trong mỗi chúng ta, một lúc nào đó chợt nhớ mình lại cảm thấy day dứt xót xa như còn mang một món nợ lớn trong đời.

Một lần ngang qua cách rừng, nghe tiếng vượn hú não nề, nhà thơ nghĩ đến tiếng khóc của những em bé bị bỏ rơi trong khu rừng, ông viết:

Tiếng vượn hú não nề
hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc
gió mùa thu tái tê. (4)

Bài thơ được cảm nhận bắt đầu từ giác quan thính giác. Tai nghe tiếng vượn hú rồi nhà thơ liên tưởng đến một điều có tính chất bức thiết trong cuộc sống con người (hay tiếng trẻ bị bỏ rơi). Đây không phải là sự chuyển đổi giữa nghe và nghĩ mà là một sự chuyển động giữa động và tĩnh: âm thanh bên ngoài, tiếng lòng sâu lắng của nhà thơ. Hai chi tiết tiếng vượn hú và tiếng trẻ bị bỏ rơi giữa cơn gió mùa thu tạo cho người đọc cảm nhận được một bức tranh trong bài thơ vừa thật vừa ảo. Cái ảo là khoảng âm thanh không rõ ràng trong nhất thời, cái thực là chính là tiếng lòng của con người với thời cuộc nhân sinh tồn tại vĩnh hằng trong cuộc đời vốn có nhiều điều chưa nói hết. Bài thơ giản dị trong sáng nhưng ý nghiã tư tưởng lại vượt ra ngoài lớp vỏ ngôn từ chật hẹp gò bó khô khan.

Một lần khi mùa xuân đến, cảm nhận cánh hoa đào rơi lả tả bên hồ Bi-oa, nhà thơ viết.
Từ bốn phương trời xa
cánh hoa đào lả tả
gợn sóng hồ Bi-oa. (6)

Bút pháp trong bài thơ thể hiện trước hết là ở sự tương phản đôí lập giữa không gian vũ trụ bao la (bốn phương trời xa) với những cái gì nhỏ bé hạn hữu trong đời sống thường ngày (cánh hoa rơi, mặt hồ gợn sóng). Nghệ thuật bài thơ còn thể hiện ở bút pháp động và tĩnh, giữa sáng tối, không gian và thời gian, thiên nhiên và con người... Người đọc cảm nhận một bức tranh non nước thiên nhiên hữu tình tinh tế có pha chút thiền tông phật giáo. Bài thơ còn thể hiện một triết lí tương giao giữa sự vật hiện tượng với vũ trụ làm cho hồn thơ nhẹ nhàng bay bổng lay tận chiều sâu trái tim người đọc.

Có thể dẫn một bài thơ hai-cư khác của Ba-sô cũng tương tự.

Trên cành khô
cánh quạ đậu
đêm thu.

Cả ba sự vật: con quạ, cành cây khô, đêm thu đã có sự đối lập tạo nên một khung cảnh thật ảm đạm. Con quạ đậu trên cành cây khô trụi lá vào đêm thu đã cuốn hút con người vào cõi mông lung tàn tạ. Mặt khác bài thơ không chỉ là nỗi buồn mà còn là sự tương phản giữa màu đen con quạ nhỏ xíu và màng đêm bao la hiu quạnh, con người cảm thấy nhỏ bé trước không gian rộng lớn bao la...

2. Thơ hai-cư chỉ là những nét chấm phá đơn giản, mạch logic của bài thơ có nhiều khoảng trống tạo sự liên tưởng cảm nhận ở người đọc. Chất liệu và đối tượng được đề cập trong thơ cũng không có gì cao xa lạ lẫm mà chỉ bình thường như: thiên nhiên con người, trăng tuyết hoa chim vượn khỉ, còn có cả bùn đất cỏ cây... Khi nghe tiếng chim đỗ quyên nhà thơ giật mình:

Chim đỗ quyên hót
ở kinh đô
mà nhớ kinh đô (2)

Tiếng chim là tín hiệu gợi nhớ của lòng người trong thơ ca từ xưa đến nay. Cũng thế, Ba-sô một lần nghe tiếng chim để rồi khoảng trống trong lòng lại ùa về như một kí ức day dứt khó quên. Điều dễ nói cũng là điều khó nói, thế mà nhà thơ đã thốt thành lời. ở đây ý thơ chưa diễn đạt hết mọi cung bậc đến tận chiều sâu tâm hồn nhưng khoảng lặng đã làm cho lòng ta tự hỏi tiếng chim hay tiếng lòng của nhà thơ? Chủ thể trữ tình bị xóa nhòa, ranh giới giữa quê hương và con người được bắt cầu bằng tiếng chim đỗ quyên trong mùa hè, dưới chiếc cầu đó là dòng sông lòng cuồn cuộn chở bao nhiêu phù sa bồi đắp cho quê hương.

Từ chất liệu đơn giản, ý thơ bộc phát, sự liên tưởng của nhà thơ có tính chất nhân văn hướng về đồng loại cộng đồng dân tộc hay những vấn đề lớn lao trong tư tưởng tình cảm của con người.

Mưa đông giăng đầy trời
chú khỉ con thầm ước
có một chiếc áo tơi. (5)

Rõ ràng ước muốn của chú khỉ trong bài thơ hoàn toàn do chủ quan nhà thơ nghĩ giúp. Dó là sự tưởng tượng khi đang nhìn thấy chú khỉ ngồi ướt nhem bên vệ rừng khi nhà thơ đi qua. Chú khỉ đơn độc cũng là hình ảnh của người nông dân, những trẻ em Nhật trong cơn mưa đông lạnh lẽo. Nốt lặng của bài thơ được thể hiện qua những hình ảnh đơn sơ mộc mạc, là tấm lòng của con người với những sinh vật bé nhỏ tội nghiệp và đó cũng chính là lòng yêu thương đối với những người nghèo khổ.

3. Trong thơ hai-cư ngoài một số bài có những cụm từ quý ngữ (từ chỉ mùa) cụ thể như hoa đào-mùa xuân, tiếng ve-mùa hè... còn có nhiều bài không có. Những bài này chỉ có một số từ ngữ gợi mùa như: mù sương trong bài số 1 gợi mùa thu, chim đỗ quyên trong bài số 2 gợi nhớ mùa hè, cánh đồng hoang vu bài 8 gợi nhớ mùa đông... Nhận xét về thơ hai-cư Nhật Bản, nhà thơ Tagor (Ấn Độ) cho rằng, trong thơ hai-cư "nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài rồi bước nhanh sang một bên". Như vậy những từ này có khi được coi là đề tài, là điểm sáng, "là con mắt" để khám phá nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Chỉ vài nét chấm phá thời gian, người đọc có thể nắm bắt đề tài, tạo sự liên tưởng một cách dễ dàng.

Vắng lặng u trầm
thấm sâu vào đá
tiếng ve ngâm. (7)

Tiếng ve ngâm là mùa hè, tiếng ve ngâm lại thường diễn ra vào buổi chiều nên ta dễ dàng nhận ra nội dung của bài thơ là tiếng ve im ắng cất lên trước cảnh đá vật nơi cửa thiền trong một buổi chiều chưa tắt nắng gợi cho con người một nỗi lòng u tịch mênh mông, lúc đó con người có thể ngộ ra một điều gì trong cuộc sống cho riêng mình. Nghệ thuật của bài thơ là sức gợi, là tính liên tưởng, là phương pháp suy luận. Nghệ thuật bài thơ cũng là tiếng nói, là nỗi lòng, là tâm tư tình cảm con người gửi gắm với công chúng yêu thơ hôn nay và mai sau...

Giải mã và tìm hiểu thơ hai-cư , một thể thơ nổi tiếng trong thơ ca Nhật Bản và thế giới là một điều vốn rất khó. Trên đây chỉ là những nét chấm phá có tính chất chủ quan của người viết đối với những bài thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10. Đây cũng chỉ mới là bước tìm hiểu ban đầu, có lẽ còn nhiều điều chưa thỏa đáng, mong rằng quý thầy cô, quý đồng nghiệp sẽ có tiếng nói sâu hơn, góp phần đưa thể thơ này đến với người đọc một cách thật gần gũi.

ĐÀO TẤN TRỰC
Nguồn: Tạp chí Thơ



Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI THẦY

Tháng 11 năm nay, bên những câu chuyện thường lệ về tình cảm thầy-trò, những người làm giáo dục và quan tâm đến ngành đổ dồn chú ý vào một câu chuyện vĩ mô. Đó là câu chuyện về triết lý giáo dục. Nó ở đâu, là gì, vì sao tìm hoài chưa thấy?

Triết lý giáo dục là vấn đề đã được xới ra từ ít nhất mười năm trở lại đây, và được cho là nguyên nhân của tình trạng bế tắc, đổi mới và cải cách liên miên mà không có kết quả của hệ thống giáo dục hiện thời.

Nhưng hơn chục năm đã trôi qua mà bức tranh cũng không sáng sủa gì hơn, khi đúng dịp 20/11 này, câu chuyện về triết lý lại được các đại biểu quốc hội đặt ra và chất vấn, rằng triết lý giáo dục là gì, tìm ở đâu, vì sao không thấy trong dự thảo Luật giáo dục sửa đổi?

Những quan sát, và trải nghiệm của tôi và gia đình, trong năm nền giáo dục khác nhau, cả Á lẫn Âu cho thấy, triết lý giáo dục là một trong những vấn đề cốt tủy của giáo dục. Tuy nhiên, với các nước châu Âu nơi tôi đã có trải nghiệm, thì một phần lớn của triết lý giáo dục đã được mã hóa vào trong hiến pháp và luật pháp nói chung, trở thành một phần của tinh thần thời đại. Phần còn lại, có tính cách lý luận và khoa học, được triển khai dưới dạng triết học về giáo dục.

Nhưng với Việt Nam, do đặc trưng văn hóa quen với việc khái quát ngắn gọn, xã hội pháp quyền chưa thực sự trưởng thành, triết học về giáo dục cũng chưa có, nên triết lý giáo dục trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Triết lý giáo dục sẽ không chỉ đóng vai trò định hướng cho nền giáo dục, mà còn mang trong mình âm hưởng của xã hội tương lai mà chúng ta muốn hướng tới. 

Riêng tôi, sau nhiều lần thảo luận về triết lý giáo dục, đã đi đến kết luận rằng, chỉ có thể tìm thấy triết lý giáo dục ở sản phẩm đầu ra, tức ở hình mẫu con người mà nhà trường muốn đào tạo, hoặc trong cách thức thiết kế các nguyên tắc vận hành hệ thống giáo dục. Dù tiếp cận ở góc nhìn nào đi chăng nữa, thì triết lý giáo dục của một hệ thống sẽ thể hiện ở sản phẩm đầu ra. Một cách ngắn gọn, triết lý giáo dục chính là câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi: Hệ thống giáo dục hướng đến việc đào tạo con người nào?

Câu trả lời của tôi: Đó là con người tự do, có khả năng lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc sống.

Vì sao lại như thế? Vì tuy chi tiết có nhiều điểm khác nhau, nhưng về đại thể, sản phẩm đầu ra của các hệ thống giáo dục có thể được chia thành hai nhóm lớn: Con người công cụ và con người tự do.

Rõ ràng, trở thành con người công cụ không phải là mục đích sống của chúng ta, cũng không có tính nhân văn và bền vững, nên một nền giáo dục lành mạnh không thể chọn mục tiêu đào tạo con người công cụ, vì bản thân điều đó đã phản lại giáo dục. Vì thế, một thế thống giáo dục lành mạnh bắt buộc phải hướng đến việc đào tạo những con người tự do, thay vì con người công cụ.

Về mặt nguyên tắc, triết lý giáo dục một khi đã được xác lập, sẽ trở thành kim chỉ Nam cho mọi hoạt động giáo dục, từ xác định mục tiêu, xây dựng chương trình, lựa chọn phương pháp giảng dạy, đào tạo đội ngũ giáo viên, đến xây dựng cơ sở vật chất, kỷ luật và văn hóa học đường. Cơ chế quản trị và vận hành hệ thống giáo dục cũng không ngoại lệ. Tất cả đều chịu sự định hướng và chi phối của triết lý chung.

Do đó, triết lý giáo dục, một khi đã được xác lập, sẽ mang trong mình bản chất của sự độc đoán. Đó là một nghịch lý. Về nguyên tắc, để khắc chế sự độc đoán của triết lý giáo dục, thì bản thân nó phải mang trong mình nội hàm của sự tự do. Nếu không, triết lý ấy sẽ thoái hóa trở thành một sự áp chế độc đoán, và chắc chắn sẽ lạc hậu, bị phản đối và bị thay thế.

Chỉ khi nào mang trong mình tinh thần của tự do, thì triết lý giáo dục mới đáng tin, mới thực sự là triết lý giáo dục, thay vì một khẩu hiệu để hô hào. Nhưng để tạo ra hai chữ "tự do" này, còn quá nhiều bài toán chưa được giải trong giáo dục nước nhà.

Câu chuyện về con người tự do đang trở thành một vấn đề thực tiễn và bức bách, khi sự phát triển của robot và trí tuệ nhân tạo đang ngày càng lấy đi hầu hết những công việc có tính lặp đi lặp lại. Dự báo của Đại học Oxford cho thấy, trong khoảng 20 năm tới, sẽ có khoảng 50% số công việc hiện giờ sẽ biến mất và được thực hiện bởi các robot.

Thoạt nghe, 20 năm tưởng chừng là chuyện đường dài, nhưng trên thực tế, nó là khoảng thời gian tương ứng với việc một trẻ em ở tuổi đi học ngày hôm nay rời ghế nhà trường và để bước vào đời.

Vì thế, phụ huynh, và cả các em, có quyền đặt ra câu hỏi: Vậy Nhà trường sẽ đào tạo con tôi trở thành người như thế nào, con người công cụ để cạnh tranh với robot, hay con người tự do, có khả năng đối mặt với những thay đổi mà thời đại công nghệ mang tới?

Đối mặt với câu hỏi đó, Nhà trường, đặc biệt là các trường công, không dễ gì có câu trả lời, vì nó thuộc về một vấn đề vĩ mô mà Nhà trường không chịu trách nhiệm và không đủ thẩm quyền để giải quyết. Đó là vấn đề của cả hệ thống giáo dục, và rộng hơn, là của quốc gia.

Với các trường tư, vì có thêm không gian để xoay xở, vấn đề sẽ đỡ ngột ngạt hơn và giải pháp cũng sẽ nhiều hơn. Nhưng thực hiện việc này cũng không phải dễ. Phải là những trường hiểu rất rõ, nắm rất vững về giáo dục và rất tâm huyết với giáo dục, thì mới có thể xoay chuyển được.

Giờ xin trở lại với câu chuyện của ngày hôm nay, câu chuyện của người thầy trong những ngày tháng 11: Trong bối cảnh triết lý giáo dục của chúng ta còn mù mờ như thế, thì các nhà giáo phải làm gì? Cụ thể hơn, khi cả hệ thống giáo dục còn đang bế tắc về triết lý, khi bốn chữ "triết lý giáo dục" không xuất hiện trong Luật giáo dục và Dự thảo sửa đổi, thì nhà giáo phải làm gì, phải dạy như thế nào?

Xin thưa, sứ mệnh đích thực của giáo dục là nâng đỡ và phát triển con người. Tương tự như bác sĩ, có thể không chữa được mọi loại bệnh, người thầy cũng không thể dạy cho học sinh mọi điều cần dạy. Nhưng có một điều người thầy có thể làm được, ngay cả khi giáo dục còn chưa có định hướng và triết lý rõ ràng. Đó là: Hãy nâng đỡ và phát triển con người.

Đó là sứ mệnh đích thực của giáo dục, cũng chính là sứ mệnh của người thầy.

GIÁP VĂN DƯƠNG
Nguồn: Vnexpress


Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

CẦN TỈNH TÁO VÀ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN

Càng ngày, những vấn đề chính trị, thời sự của xã hội đất nước càng được quần chúng nhân dân quan tâm nhiều hơn, bàn luận nhiều hơn. Gia tăng không khí tranh biện sôi nổi có thể xem là một tín hiệu tích cực, dân chủ trong lộ trình phát triển văn hóa xã hội. Người dân đang ngày càng cởi mở và có trách nhiệm hơn đối với xã hội và đất nước - một thể hiện rõ nét của ý thức công dân.

Nhưng văn hóa tranh biện đang bộc lộ những lỗ hổng, những khiếm khuyết, lệch lạc… khó có thể khắc phục trong một sớm một chiều. Điều này xuất hiện không chỉ trên mạng xã hội mà ngay cả trên báo chí và hệ thống truyền thông chính thống.

Người Việt hiếu thắng khi tranh luận. Người Việt hăng tranh cãi để giành phần hơn, phần thắng nhưng rất thiếu chỗ dựa, cơ sở lý tính đầy đủ và chính xác để làm sáng tỏ chân lý. Điều này dường như trùng khít với một nhận định được đưa ra trong cuốn "Tâm lý học đám đông" của Gustave Le Bon: "Cái đáng sợ nhất là người ta không nói bằng tiếng nói của bản thân, mà luôn núp sau một tập thể, nâng cao nó thành tiếng nói của một giai tầng trong xã hội và tự cho mình là chính nghĩa tuyệt đối".

Người ta dễ thấy rằng người Việt đang trong giai đoạn thiếu, hoặc yếu nền tảng văn hoá tranh luận. Chúng ta chỉ có ngôn từ để cãi vã và hơn thua.


Mạng xã hội là con dao hai lưỡi, vì vậy tranh luận trên mạng xã hội nếu không kiểm soát được cảm xúc, dễ gây tổn thương cho người khác. (Ảnh mang tính minh họa)
Trên mạng xã hội, người ta dễ bị ảnh hưởng bởi đám đông, hoặc ưa lợi dụng tâm lý đám đông để che giấu trách nhiệm của bản thân. Tự nhiên chủ nghĩa, người ta cho rằng không cần tôn trọng đối thủ tranh biện, tha hồ xỉ vả, văng tục, “chụp mũ” người đối thoại... Đó là cách tự hạ mình, lưu manh hóa khi tranh luận. Dữ kiện đưa ra không giúp trở thành lập luận làm sáng tỏ vấn đề, chỉ thỏa mãn việc trút bức xúc của bản thân và chà đạp đối thủ. Tinh thần cao cả, trong sáng, hướng thượng trong tranh luận biến mất.

Đặc trưng của mạng xã hội là tính tương tác thuận lợi và nhanh chóng. Trên mạng xã hội, người ta dễ dàng gặp những người cùng sở thích, cùng yêu hoặc ghét những thứ như nhau. Mỗi người tham gia mạng xã hội đều có xu hướng xích lại gần nhau trong một nhóm có cùng khuynh hướng suy nghĩ, đồng dạng lập luận và phù hợp sở thích. Tương tác trên mạng xã hội dễ bị ảnh hưởng bởi chính ý kiến mà người chủ trang nêu ra.

Phản ứng xã hội mang tính nhị nguyên: hoặc đồng thuận, hoặc phản đối. Lâu dần, người tham gia mạng xã hội sẽ có xu hướng loại bớt khỏi danh sách bạn bè thường xuyên giao tiếp những người có chính kiến hoặc cách nhìn không phù hợp và tụ họp thành nhóm những người đồng tình.

Rốt cục, sau một quá trình tương tác lâu dài, người ta chỉ được cung cấp những thông tin một chiều, được đọc những lời vừa ý. Theo thời gian, vì thiếu tỉnh táo, người ta sẽ hoàn toàn không hiểu được các quan điểm khác mình.

Điểm thiếu hụt chính là nhận thức. Hạn hẹp hiểu biết cộng với niềm tin ngây thơ, bị lôi kéo vào hội chứng đám đông đang đẩy đa số người phát ngôn trên mạng sa vào vũng lầy dân túy chủ nghĩa, có xu hướng đả phá, truy tận gốc, “bức tử” giới mà họ coi là có quyền chức, là lớp tinh hoa, nhiều đặc quyền đặc lợi.

Và họ chính là "đám đông" mà đám dân chủ cơ hội (tôi không nói những người mang tư tưởng dân chủ thực sự) muốn lợi dụng, kích động để tạo "hậu thuẫn". Các KOLs (Key opinion leaders - những người có ảnh hưởng đối với cộng đồng ở trên mạng) đều có một lượng lớn người hâm mộ (fans) đông đảo dạng này.

Người hâm mộ luôn tung hô, ủng hộ điên cuồng các “thần tượng” nhưng chưa chắc đã biết là đang ủng hộ cái gì, đúng hay sai. Các bài viết lợi dụng đám đông, sặc mùi dân túy đó cũng thường chẳng có nội dung gì hay ho, chỉ đơn giản là chửi chế độ, chửi nhà nước - chính quyền hoặc nói lấy được, thậm chí bịa đặt và nói càn...

Tuy đông đảo, nhưng lượng người hâm mộ không thể thành một lực lượng xã hội thật sự. Họ chỉ là tập hợp một số đông thiếu chủ kiến, dễ bị lung lay và bị lợi dụng, kích động. Họ rất dễ cùng công kích thóa mạ một chủ trương, một chính sách, một hiện tượng, một vụ việc khiến họ bất mãn, để rồi ngay sau đó quay sang công kích, mạ lị lẫn nhau. Họ mang sẵn trong óc tinh thần hư vô chủ nghĩa, không có mấy ý thức chính trị rõ ràng. Họ chỉ áp đảo dư luận bằng số đông.

Ngay cả các “hot KOLs” cũng rất dễ sa lầy vào cái bẫy do chính mình tạo ra. Sự tung hô của đám đông khiến họ ngày càng lún sâu vào việc viết, trình bày sao cho hợp khẩu vị đám đông, để rồi chính họ sẽ rơi tõm vào vũng bùn tha hóa. Họ trở nên ảo tưởng độc tài truyền thông, một dạng cá nhân ảo tưởng vĩ cuồng khi được đám đông dại dột và thiếu tỉnh táo sùng bái, tung hô thành thần tượng.

Trong bài viết khá dài có tựa "Narrative Techniques of Fear Mongering" (Kỹ thuật thổi phồng nỗi ám ảnh sợ hãi), nhà báo Mỹ Barry Glassner đã từng nhận định: "Lúc tốt nhất, mạng xã hội đem lại tiếng nói cho những người yếm thế, đưa bất công ra ánh sáng; còn lúc tệ nhất, nó là vũ khí huỷ diệt thanh danh hàng loạt, khuếch đại những phỉ báng, bắt nạt sự ngu ngốc vô tình của con người. Mạng xã hội là một con dao hai lưỡi. Chọn cách kiểm soát và sử dụng nó như một người đầy tớ tốt hay chấp nhận nó chi phối như một ông chủ xấu của chính ta, điều đó hoàn toàn phụ thuộc và sự sáng suốt của mỗi cư dân mạng".

Chọn sự tỉnh táo, có trách nhiệm với bản thân và xã hội hay cảm tính thả mình trôi theo sự vô trách nhiệm, dạt dần về phía hư vô chủ nghĩa, đó vừa là phẩm chất, vừa thể hiện năng lực của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, cần nhớ rằng bất kỳ trong hoàn cảnh hay trường hợp nào, một lập luận tốt là một lập luận dựa trên lý lẽ và bằng chứng. Nó phải thỏa mãn hai điều kiện là tính hiệu lực và tính đúng đắn.

NGUYỄN HỒNG LAM
Nguồn: VNCA


Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2018

SỐNG CHẬM CUỐI TUẦN: HỌC ĐI

Ông cha ta có câu “Học ăn, học nói, học gói, học mở” để nói về cái việc học đầu đời của mỗi con người. Nhờ được "học ăn, học nói, học gói, học mở" ngay từ thuở ấu thơ nên con người đã hình thành nên nhân cách, hiểu được cách ứng xử trong cuộc đời. Nhưng sao chỉ có học ăn, học nói, học gói, học mở mà không có “học đi”?
Tranh của họa sĩ Hữu Lộc (Tranh dự thi Giải Biếm họa Báo chí Việt Nam 2018)

1. Người ta chỉ nói “tập đi" chứ chẳng ai nói "học đi" cả. Người xưa nghĩ: Đi là cái bản năng của con người. Sinh ra, lớn lên tự khắc sẽ biết đi. Tương tự, bây giờ mới phổ biến từ "học bơi", chứ trước kia thường nói "tập bơi", hẳn cũng vì quan niệm: trẻ em sống ở vùng biển, vùng sông nước, tự khắc theo bè bạn nhảy tùm xuống nước rồi sẽ biết bơi.

Vì thế, chỉ cần "tập đi", "tập bơi" là đủ. "Tập" tức là học cách làm theo người khác. Tập đi cũng khác nào sau này là tập đi xe đạp. Cứ làm theo là khắc biết đi, chẳng cần học hành cho mất công.

Lối tư duy ấy nó phù hợp với một xã hội nông thôn, nông nghiệp của đất nước ta thuở xưa. Nông thôn xưa thì làm gì có đường sá, xe cộ, quanh quẩn chỉ trong lũy tre làng. Đường sá trong làng chỉ dăm chục mét sống trâu xây gạch để đi khỏi lầy lội. Qua khỏi cổng làng là đường đất gồ ghề đầy ổ trâu, ổ gà và bị băm nát bởi lốt chân trâu. Mưa xuống thì lầy lội. Giá có cái xe đạp đi lại cũng thật khó khăn. Trừ khi có việc lên huyện, ra tỉnh mới được biết thế nào là đường cái quan, thế nào là xe cộ.

Bởi thế, việc học đi, học cách đi lại thế nào cho an toàn, cho phải luật, phải lệ cũng chẳng có ai đặt ra cả. Có chăng người ta chỉ bảo nhau đi đứng thế nào cho cái dáng người nó đàng hoàng, thanh thoát.

Nhìn cái dáng đi dáng đứng mà đoán được cái tính nết, cái tư cách của con người. Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà đi là cái thế đi của kẻ trượng phu. Đi đứng ngả nghiêng, khuỳnh khuỳnh, chân chữ bát, đi đứng xiêu vẹo hay khúm na khúm núm, lùi ra lùi vào là lối đi của kẻ tiểu nhân…

2. Việc học đi thuở xưa chẳng có ai đặt ra mà có đặt ra thì cũng chẳng biết dạy đi như thế nào vì làm gì có đường sá, xe cộ, luật lệ đi lại, xử phạt mà dạy.

Nay, nông thôn chúng ta đang tiến nhanh trên con đường đô thị hóa. Đường sá mở ra tới tận thôn xóm. Hầu như nhà nào cũng có xe đạp, xe máy và có hộ đã sắm xe công nông, xe tải, xe con. Việc đi lại khắp nơi trên đất nước không còn giản đơn như xưa nữa. Ra đường không thể theo lối “đường ta, ta cứ đi”. Muốn đi phải thì đi phải, muốn đi trái thì đi trái. Muốn rẽ ngang rẽ tắt là cứ tùy tiện mà rẽ. Bởi thế, việc học đi đã trở thành một nhu cầu học tập của tất cả mọi người.

Trẻ em ở nông thôn, thành thị ngày nay đến lớp mẫu giáo hay vào trường tiểu học đều phải học đi theo đúng luật giao thông. Các em đã được dạy cách qua đường, nhận biết đèn xanh đèn đỏ và đi bên phải đường…

Tuy nhiên, nhiều ứng xử phức tạp trong việc đi lại trong hệ thống giao thông hiện đại thì chỉ học như vậy cũng chưa đủ. Ở cấp mẫu giáo, tiểu học trong nhiều vùng nông thôn miền núi, theo chương trình học tập, các em cũng biết khi thấy đèn đỏ thì dừng lại, đèn xanh thì vượt qua nhưng thực tế tại quê mình thì làm gì có đèn giao thông, đại lộ. Lớn lên, các em lên tỉnh, ra thành phố học tập, làm việc lại phải có thời gian làm quen và lập phản xạ giao thông đô thị. Đó cũng là một quá trình học tập và thích ứng.

Nhiều người lớn từ nông thôn ra thành phố, nếu không được học và được thực hành tham gia đi lại cũng rất bỡ ngỡ và khó khăn trong thích ứng đi lại nơi đô thị.

3. Cũng phải nói một điều nữa rằng tổ chức giao thông đô thị của chúng ta còn quá nhiều bất cập. Nhiều người nước ngoài sống trong các đô thị lớn, với họ, luật giao thông quá rành nhưng khi phải đi lại trên đường sá Thủ đô hay các đô thị lớn của ta họ cũng chẳng biết đi như thế nào nữa vì dù có bật đèn xanh ở nơi ngã tư đường thì người đi bộ vẫn phải tìm cách lách mà qua các làn xe. Sang Việt Nam, lại phải học cách đi lộn xộn của người Việt chẳng giống ai.

Có nhà khoa học nước ngoài chỉ vì thích thú nghiên cứu các dòng người đi lại lộn xộn ở Thủ đô ta để tìm ra cái quy luật của người đi lộn xộn, nêu thành học thuyết về sự đi lại hỗn độn nên đã bị tử nạn khi qua đường!

Bởi vậy, học cách đi lại là một chuyện, tổ chức sao để đi lại cho khoa học cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng để đảm bảo cái quyền đi lại an toàn của mọi người.

Có chuyện ông bố đèo con trên xe máy, tới ngã tư, đèn đỏ, mắt trước mắt sau không thấy cảnh sát giao thông đứng gác góc phố là phóng vèo qua. Thằng con ngồi sau nhắc bố “Sao đèn đỏ bố lại vượt qua"? Ông bố trả lời “Ối dào! Làm gì có công an mà sợ”. Thầy cô giáo dạy một đằng, cha mẹ lại dạy con một nẻo. Bố dạy con đi lại như thế thì chuyện học đi ở nhà trường phỏng có ý nghĩa gì?

Lại đây đó có chuyện cảnh sát giao thông rình hễ ai chạm vạch là cầm dùi cui ra chặn để phạt, thậm chí “làm luật”. Không phải nơi nào cũng được như cảnh sát giao thông ở Đà Nẵng thấy xe tỉnh lạ không thuộc đường thì ân cần giải thích và hướng dẫn người đi cho đúng luật mà không đe nẹt phạt nặng hay “làm luật”.

Rõ ràng trong giao thông của đất nước ta còn quá nhiều điều cần phải học. Từ cách học đi cho đúng luật, học tổ chức giao thông cho văn minh hiện đại và học cách ứng xử giữa người đi đường với nhau, cách ứng xử giữa cảnh sát với nhân dân cho phải phép.

Có lẽ nên thêm vào bài học đầu đời của dân Việt ta ngoài “học ăn, học nói, học gói học mở” cần phải có thêm “học đi” nữa. Không thể muốn đi thế nào thì đi.

VŨ THẾ LONG
Nguồn: TTVH



LỜI TRONG ĐỜI SỐNG VÀ LỜI TRONG THƠ, CÁC VẤN ĐỀ CỦA THI PHÁP XÃ HỘI HỌC - Kỳ 2

Nếu chúng ta đã chỉ ra được dù chỉ là khả năng của một cách tiếp cận xã hội học đối với cấu trúc nghệ thuật nội tại của hình thức thi ca, thì nhiệm vụ của chúng ta cũng có thể coi là đã hoàn thành.
Dịch giả Ngô Tự Lập

V

Điều gì phân biệt một phát ngôn ngôn từ nghệ thuật – một tác phẩm thơ hoàn chỉnh chẳng hạn – với một phát ngôn trong đời sống?

Ngay từ cái nhìn đầu tiên cũng rõ, rằng ở đây từ  không ở và không thể ở trong cùng một mối quan hệ chặt chẽ như vậy với tất cả các yếu tố của bối cảnh phi ngôn từ, với tất cả những gì được nhìn thấy và nhận biết trực tiếp, như trong đời sống. Một tác phẩm thi ca không thể dựa vào các vật và sự kiện của môi trường xung quanh như một cái gì đó đương nhiên, mà không đưa vào đó dù chỉ là một gợi ý đến chúng trong phần ngôn từ của phát ngôn. Về mặt này, ngôn từ trong văn học, tất nhiên, phải đáp ứng những đòi hỏi lớn hơn nhiều: nhiều điều vẫn nằm trong đời sống ngoài ranh giới của phát ngôn bây giờ phải tìm được một đại diện bằng ngôn từ. Từ quan điểm đối tượng - thực dụng, trong tác phẩm thơ không thể có sự không nói hết.

Liệu từ đó có thể suy ra, rằng trong văn chương, người nói, người nghe và nhân vật, khi lần đầu tiên gặp nhau, không hề biết gì về nhau, không hề có một tầm nhìn chung, và do đó họ không hề dựa vào một cái gì và không hề ngụ ý bất cứ gì gì? Một số người, trên thực tế, có khuynh hướng nghĩ đúng như vậy.

Thật ra, ngay cả tác phẩm thơ cũng được đan kết chặt chẽ với bối cảnh không được nói ra của cuộc sống. Nếu quả thực là tác giả, người nghe và nhân vật gặp nhau lần đầu tiên như là những con người trừu tượng, không hề được gắn với nhau bởi bất kỳ một tầm nhìn chung duy nhất nào, mà chỉ lựa chọn các từ trong từ vựng, thì hầu như sẽ không có ngay cả một tác phẩm văn xuôi, và dĩ nhiên là không có một tác phẩm thơ nào. Khoa học, ở một mức độ nào đó, đến gần với giới hạn này – một định nghĩa khoa học chứa tối thiểu những ngụ ý; nhưng có thể chứng minh được, tuyệt đối không có ngụ ý là không thể.

Trong văn chương, vai trò của hàm ý đánh giá là đặc biệt quan trọng. Có thể nói rằng tác phẩm thơ – là một bộ tích tụ mạnh mẽ những đánh giá xã hội không được nói ra thành lời: mỗi từ đều lấp đầy các đánh giá như vậy. Chính những đánh giá xã hội như vậy tổ chức hình thức nghệ thuật như là biểu hiện trực tiếp của mình.

Đánh giá là cái chủ yếu xác định sự lựa chọn ngôn từ của tác giả và cảm giác của người nghe về sự lựa chọn này (đồng-lựa chọn). Bởi lẽ, nhà thơ lựa chọn ngôn từ không phải từ trong từ điển, mà từ bối cảnh đời sống, nơi chúng lắng đọng và thấm đẫm sự đánh giá. Như vậy, nhà thơ lựa chọn những sự đánh giá liên quan đến các từ, và từ quan điểm của những người hóa thân thành người mang các đánh giá này. Có thể nói, rằng nhà thơ luôn luôn làm việc với sự đồng cảm thông hoặc không đồng cảm, đồng ý hay bất đồng với người nghe. Thêm nữa, đánh giá còn chủ  động cả trong mối quan hệ với đối tượng của phát ngôn – với nhân vật. Ngay cả việc đơn thuần lựa chọn một tính từ hoặc một ẩn dụ đã là một hành vi đánh giá tích cực, đồng thời hướng tới hai hướng: người nghe và nhân vật. Người nghe và nhân vật – đó là hai thành viên thường trực của sự kiện sáng tạo, mà không một khoảnh khắc nào không là một sự kiện giao tiếp sống động giữa họ.

Nhiệm vụ của thi pháp xã hội học hẳn sẽ được giải quyết nếu chúng ta có thể giải thích mỗi yếu tố của hình thức như là một sự biểu hiện tích cực của sự đánh giá trong hai hướng đó – tới người nghe và tới đối tượng của phát ngôn –nhân vật. [5a] Nhưng để hoàn thành nhiệm vụ này, ở thời điểm hiện nay, chúng ta có quá ít dữ liệu. Chúng ta chỉ có thể cố gắng phác thảo nhiều nhất là những tuyến đường sơ bộ theo hướng này.

Mỹ học hình thức chủ nghĩa hiện đại định nghĩa hình thức nghệ thuật như là hình thức của chất liệu. Việc thực hiện nhất quán quan điểm này buộc người ta phải bỏ qua nội dung - trong tác phẩm nghệ thuật không còn có chỗ dành cho nó; trong trường hợp tốt nhất, nó là một yếu tố của chất liệu và do đó chỉ gián tiếp được tổ chức bởi hình thức nghệ thuật, cái trực tiếp thuộc về chất liệu. [6]

Với cách hiểu như vậy, hình thức mất đi tính chất đánh giá chủ động của mình và trở thành cái gợi nên những cảm giác dễ chịu hoàn toàn thụ động ở người cảm thụ.

Hình thức, tất nhiên, được thực hiện nhờ chất liệu, được gắn liền trong chất liệu - nhưng trong ý nghĩa của mình, nó vượt ra ngoài ranh giới của chất liệu. Ý, ý nghĩa của hình thức không thuộc về chất liệu, mà thuộc về nội dung. Chẳng hạn, chúng ta có thể nói rằng hình thức của một bức tượng không phải là hình thức của đá cẩm thạch, mà là hình thức của cơ thể con người, và nó "nhân vật hóa" người được mô tả, hay "ca tụng", hoặc có thể, “hạ thấp” anh ta (phong cách biếm họa trong nghệ thuật tạo hình), tức là nó thể hiện một sự đánh giá nhất định về người được mô tả.

Nhưng đặc biệt rõ ràng là nghĩa đánh giá của hình thức trong thơ. Nhịp điệu và các yếu tố hình thức khác thể hiện rõ ràng một thái độ chủ động nào đó đối với đối tượng được miêu tả: hình thức ca ngợi, than khóc hay chế giễu anh ta.

Mỹ học tâm lý gọi đó là "yếu tố tình cảm" của hình thức. Còn đối với chúng ta, điều quan trọng ở đây không phải là khía cạnh tâm lý của vấn đề, điều quan trọng là chính xác những sức mạnh tâm lý nào tham gia vào sự sáng tạo hình thức và sự tiếp nhận đồng sáng tạo nó - quan trọng là ý nghĩa của những trải nghiệm này, tính chủ động của chúng, và tính định hướng của chúng vào nội dung. Nhờ hình thức nghệ thuật, người sáng tạo giữ một lập trường chủ động nào đó trong mối quan hệ với nội dung. Hình thức bản thân nó không nhất thiết phải dễ chịu – giải thích nó một cách khoái lạc chủ nghĩa là việc làm vớ vẩn - hình thức phải là một sự đánh giá thuyết phục về nội dung. Chẳng hạn, hình thức của kẻ thù thậm chí có thể là kinh tởm - trạng thái tích cực, sự hài lòng của người cảm thụ mà hình thức đó cuối cùng dẫn đến là hệ quả của điều sau: hình thức đó xứng đáng với kẻ thù và nó được thực hiện thuần túy mặt kỹ thuậtbằng chất liệu. Nghiên cứu hình thức cần phải đi theo cả hai hướng này: trong quan hệ với nội dung như là sự đánh giá tư tưởng của nó, và trong quan hệ với chất liệu như là sự thực hiện về mặt kỹ thuật của sự đánh giá này.

Sự đánh giá tư tưởng được biểu hiện bằng hình thức tuyệt đối không thể di chuyển vào nội dung dưới dạng một phán quyết, dù là đạo đức, chính trị hay loại nào khác. Sự đánh giá phải ở trong nhịp điệu, trong chính chuyển động giá trịcủa tính ngữ, của ẩn dụ, trong trình tự triển khai của sự kiện được miêu tả; nó phải được thực hiện chỉ bằng các phương tiện hình thức của chất liệu. Nhưng đồng thời, tuy không đi vào nội dung, hình thức vẫn không đánh mất liên hệ với nội dung, sự gắn kết với nó - nếu không như vậy, nó sẽ trở thành một thí nghiệm kỹ thuật, bị tước đi mọi ý nghĩa nghệ thuật thực sự.

Cái định nghĩa chung của phong cách, được thi pháp cổ điển và tân cổ điển đưa ra, và sự phân chia phong cách thành hai loại cơ bản, "cao" và "thấp", phản ánh chính bản chất đánh giá chủ động đó của hình thức nghệ thuật. Cấu trúc của hình thức, trên thực tế, có tính thứ bậc, và về mặt này nó gần gũi với sự phân cấp chính trị và pháp lý. Cũng tương tự như vậy, nó tạo ra trong nội dung được tạo hình một cách nghệ thuật một hệ thống phức tạp các mối quan hệ thứ bậc: mỗi yếu tố của nó - ví dụ, một tính ngữ hay ẩn dụ - hoặc là đề cao cái được môt tả, hoặc là hạ thấp hoặc đánh đồng nó. Sự lựa chọn nhân vật hay sự kiện xác định ngay từ đầu cao độ chung của hình thức và chấp nhận thủ pháp này hay thủ pháp khác để tạo hình - và nói đến yêu cầu cơ bản về tính thích hợp của phong cách là nói đến tính thích hợp thứ bậc đánh giá của hình thức và nội dung: chúng phải tương thích với nhau. Sự lựa chọn nội dung và sự lựa chọn hình thức - đó là một và cùng một hành vi xác lập lập trường cơ bản của người sáng tạo - và trong nó phản ánh cùng một sự đánh giá xã hội.

VI

Một phân tích xã hội học có thể xuất phát, tất nhiên, từ thành phần lời nói, ngôn ngữ học thuần túy, của tác phẩm, nhưng nó không nên và không thể tự đóng kín trong các ranh giới của thành phần đó, như trong cách tiếp cập của thi pháp ngôn ngữ học. Bởi lẽ, cả việc tiếp nhận nghệ thuật một tác phẩm thơ khi đọc cũng xuất phát từ các ký hiệu viết (Tức là từ hình ảnh trực quan của các từ được viết hoặc in), nhưng ngay ở khoảnh khắc tiếp theo của sự tiếp nhận, hình ảnh trực quan ấy đã được mở ra và gần như đã bị hấp thụ bởi những yếu tố khác của từ - phát âm, giọng nói, ngữ điệu, ý nghĩa - và những yếu tố này, tiếp đó, sẽ dẫn chúng ta vượt ra ngoài ranh giới của từ. Và như vậy, chúng ta có thể nói, rằng quan hệ giữa yếu tố thuần túy ngôn ngữ học của tác phẩm với chỉnh thể nghệ thuật cũng giống hệt như quan hệ giữa  ký hiệu viết với chỉnh thể lời nói. Và lời trong thơ – đó là "kịch bản" của sự kiện - một sự tiếp nhận nghệ thuật từng trải sẽ trình diễn nó, trong khi dự đoán một cách tinh tế trong ngôn từ và các hình thức tổ chức của nó những mối quan hệ tương hỗ cụ thể sống động giữa tác giả với cái thế giới được anh ta miêu tả, và với bên thứ ba tham dự vào mối quan hệ này – người đọc. Ở nơi nào mà sự phân tích ngôn ngữ học chỉ nhìn thấy các từ và mối quan hệ giữa các yếu tố trừu tượng của chúng (ngữ âm, hình thái học, cú pháp, và những yếu tố khác), nơi đó những mối quan hệ giữa con người, được phản ánh và kết tinh trong chất liệu ngôn từ, được bộc lộ ra cho sự tiếp nhận nghệ thuật sống động và sự phân tích xã hội học cụ thể. Ngôn từ - đó là bộ xương mà chỉ được bao bọc bởi thứ da thịt sống động trong quá trình tiếp nhận sáng tạo, do đó, chỉ trong quá trình giao tiếp xã hội sống động.

Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ cố gắng phác thảo, dưới hình thức ngắn gọn và sơ bộ, ba yếu tố căn bản trong mối quan hệ giữa các bên tham gia vào sự kiện nghệ thuật, những yếu tố xác định các đường hướng cơ bản, sơ lược của phong cách thi ca như một hiện tượng xã hội. Việc chi tiết hóa các yếu tố ấy trong phạm vi bài viết này, tất nhiên, là không thể.

Chúng ta không bao giờ xem xét tác giả, nhân vật và độc giả bên ngoài sự kiện nghệ thuật, bởi vì cả ba đều tham gia vào bản thân sự tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật, và bởi vì cả ba đều là những yếu tố cấu thành thiết yếu của tác phẩm. Đó là những sinh lực quyết định hình thức và phong cách, và một người cảm thụ có kinh nghiệm cảm nhận hoàn toàn rõ ràng. Tất cả những đặc tính mà một sử gia văn chương và xã hội có thể đưa ra về tác giả và nhân vật - tiểu sử tác giả, sự mô tả nhân vật chính xác hơn theo trình tự thời gian hay mang tính xã hội học, v.v…, - ở đây, tất nhiên, được loại trừ: chúng không trực tiếp gia nhập vào cấu trúc của tác phẩm, mà vẫn nằm bên ngoài nó. Chúng ta cũng chỉ xét người đọc nào được chính tác giả tính đến và tác phẩm hướng đến, và do đó xác định từ bên trong cấu trúc của nó – nhưng tuyệt đối không phải là công chúng thực tiễn  mà trên thực tế là lượng độc giả của một nhà văn.

Yếu tố đầu tiên của nội dung xác định hình thức là thứ hạng giá trị của sự kiện được miêu tả và kẻ mang nó – nhân vật (được gọi tên hoặc không được gọi tên), xét trong mối liên hệ chặt chẽ với thứ bậc của tác giả và độc giả. Ở đây chúng ta có một quan hệ hai chiều, cũng giống như trong đời sống pháp lý và chính trị: chủ nô - nô lệ, người cai trị - người bị trị, bạn - bạn, v.v…

Giọng điệu cơ bản của phong cách phát ngôn, như vậy, được xác định trước hết bởi ai là người đang được nói tới, và quan hệ của người đó với người nói như thế nào: đứng trên, dưới, hoặc ngang hàng với anh ta trong hệ thống phân cấp xã hội. Nga hoàng, cha, anh, tôi tớ, bè bạn – với tư cách nhân vật của phát ngôn – cũng xác định cả cấu trúc hình thức của nó. Đến lượt mình, trọng lượng thứ bậc riêng của nhân vật lại được xác định bởi bối cảnh giá trị cơ bản bối cảnh không nói ra, trong đó hòa quyện cả phát ngôn thi ca. Cũng tương tự như cách "ẩn dụ ngữ điệu" trong ví dụ đời sống của chúng ta xác lập mối quan hệ sống động với đối tượng phát ngôn, mọi yếu tố phong cách của tác phẩm thi ca thấm đẫm mối quan hệ đánh giá của tác giả đối với nội dung và thể hiện lập trường xã hội cơ bản của anh ta. Xin nhấn mạnh một lần nữa, rằng chúng ta đang nói không phải về các đánh giá tư tưởng, được đưa vào nội dung phát ngôn dưới hình thức phán quyết và kết luận của tác giả, mà về sự đánh giá bằng hình thức, căn cốt hơn và sâu sắc hơn, được phản ánh trong chính cách nhìn và sắp xếp chất liệu nghệ thuật.

Một số ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Nhật, có một kho phong phú và đa dạng các hình thức từ vựng và ngữ pháp đặc biệt, mà cách sử dụng phụ thuộc chặt chẽ vào thứ bậc của nhân vật trong phát ngôn (kính ngữ). [7]

Chúng ta có thể nói, rằng: cái mà đối với người Nhật vẫn còn là một vấn đề ngữ pháp, thì đối với chúng ta đã là một vấn đề phong cách. Những thành phần thiết yếu của phong cách sử thi anh hùng ca, bi kịch, thơ ca ngợi, v.v… được xác định bởi chính địa vị thứ bậc như vậy của đối tượng phát ngôn trong mối tương quan với người nói.

Không  nên nghĩ rằng văn chương hiện đại đã đánh mất mối tương quan thứ bậc như vậy giữa người sáng tạo và nhân vật: nó chỉ trở nên phức tạp hơn, sự phân tầng chính trị - xã hội cùng thời với nó không còn được phản ánh trong nó với cùng một độ nét như, chẳng hạn, trong chủ nghĩa cổ điển - nhưng nguyên tắc thay đổi phong cách phát ngôn tùy theo sự thay đổi giá trị xã hội của nhân vật thì, tất nhiên, vẫn còn nguyên hiệu lực. Bởi lẽ, nhà thơ không thù ghét một kẻ thù riêng, không yêu thương và trân trọng một người bạn riêng, không vui hay buồn vì những sự kiện trong cuộc đời riêng. Ngay cả khi các nhà thơ có vay mượn một phần đáng kể cảm xúc của mình từ số phận của cuộc đời riêng tư của mình, thì anh ta vẫn phải xã hội hóa cảm xúc đó, và, do vậy, phải làm cho sự kiện tương ứng với nó sâu sắc thêm đến mức độ nó có ý nghĩa xã hội.

Yếu tố thứ hai của mối quan hệ tương hỗ giữa nhân vật và tác giả quyết định phong cách, là mức độ gần gũi giữa họ với nhau. Khía cạnh này, ở tất cả các ngôn ngữ, còn có một biểu hiện ngữ pháp trực tiếp: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba, cùng cấu trúc thay đổi của mệnh đề tùy thuộc vào việc ai là chủ ngữ ("Tôi", "Bạn" hay "Nó"). Hình thức của phán xét ​​về ngôi thứ ba, hình thức hướng tới ngôi thứ hai, hình thức của phát ngôn về bản thân mình (và biến thể của các hình thức này) – về mặt ngữ pháp đã là khác biệt. Do đó, ở đây, bản thân cấu trúc của ngôn ngữ phản ánh sự kiện quan hệ tương hỗ giữa những người nói.

Trong một số ngôn ngữ, các hình thức thuần túy ngữ pháp còn có khả năng linh hoạt hơn trong việc truyền đạt các sắc thái của mối quan hệ xã hội giữa những người nói và những mức độ gần gũi khác nhau giữa họ. Về mặt này, rất thú vị là hình thức số nhiều trong một số ngôn ngữ: cái gọi là những hình thức "bao gồm" và "loại trừ" (inclusive và exclusive). Ví dụ, nếu người nói, khi sử dụng từ «мы», muốn nói đến cả người nghe, anh ta sẽ bao gồm cả người nghe vào chủ ngữ của phát ngôn bằng cách sử dụng một hình thức (trong tiếng Việt là “chúng ta” – NTL); nếu anh đang nói đến bản thân mình và một người khác («мы» với ý nghĩa là "tôi" và "anh ta"), thì ông ta lại sử dụng một hình thức khác (trong tiếng Việt đó là “chúng tôi” - NTL). Tương tự như vậy là cách sử dụng dạng kép của số nhiều trong số ngôn ngữ Australia. Cũng vậy là sự tồn tại hai hình thức riêng biệt cho số ba: một hình thức nghĩa là "Tôi, Bạn, Nó", một hình thức khác nghĩa là - "Tôi, Nó, Nó" ("Bạn" – tức người nghe – bị loại trừ) [8]

Trong các ngôn ngữ châu Âu, những quan hệ này và những quan hệ tương hỗ tương tự giữa những người nói không có sự biểu hiện ngữ pháp riêng biệt. Đặc điểm của những ngôn ngữ này trừu tượng hơn và ít khả năng hơn trong việc phản ánh tình huống phát ngôn bằng các cấu trúc ngữ pháp của chính nó. Nhưng bù lại, những mối quan hệ tương hỗ này được thể hiện – cực kỳ tinh tế hơn và có sự phân biệt hơn rất nhiều - trong phong cách và ngữ điệu của phát ngôn: bằng các thủ pháp thuần túy nghệ thuật, tình huống xã hội của việc sáng tạo được phản ánh đầy đủ trong tác phẩm.

Hình thức của tác phẩm thơ ca, do vậy, trong rất nhiều yếu tố, được xác định bởi cách tác giả cảm nhận nhân vật của mình như là trung tâm tổ chức của phát ngôn.  Hình thức trần thuật khách quan, hình thức hướng đến (cầu nguyện, thánh ca, một số hình thức trữ tình), hình thức tự thoại (xưng tội, tự truyện, hình thức tự thú trữ tình – hình thức quan trọng nhất của thơ tình) - được xác định chính bởi mức độ gần gũi giữa tác giả và nhân vật.

Cả hai yếu tố mà chúng tôi đã chỉ ra - giá trị thứ bậc của nhân vật và mức độ gần gũi của nhân vật với tác giả, xét một cách riêng rẽ, biệt lập, vẫn chưa đủ để xác định hình thức nghệ thuật. Vấn đề ở chỗ, tham gia vào trò chơi bao giờ cũng có bên thứ ba – người nghe, kẻ làm thay đổi mối quan hệ giữa hai bên kia (tác giả và nhân vật).

Bởi lẽ, mối quan hệ tương hỗ giữa tác giả và nhân vật không bao giờ thực sự là mối quan hệ riêng của họ: hình thức bao giờ cũng tính đến bên thứ ba - người nghe – kẻ có ảnh hưởng rất căn bản đến mọi yếu tố của tác phẩm.

Người nghe có thể xác định phong cách của phát ngôn thi ca theo hướng nào? Cả ở đây, chúng ta cũng phải phân biệt hai yếu tố chính: thứ nhất, sự gần gũi của người nghe với tác giả và, thứ hai, quan hệ của anh ta với nhân vật. Không có gì tai hại cho mỹ học hơn là sự bỏ qua vai trò độc lập của người nghe. Có một ý kiến, rất phổ biến, cho rằng người nghe phải được coi là bình đẳng với tác giả, trừ một điểm về mặt kỹ thuật, rằng lập trường của một người nghe có kinh nghiệm là phải tái tạo một cách đơn thuần lập trường của tác giả. Trong thực tế, vấn đề không phải như vậy. Đúng hơn, có lẽ phải khẳng định ngược lại: người nghe không bao giờ bình đẳng với  tác giả. Người nghe có một vị trí riêng, độc lập, trong các sự kiện sáng tạo nghệ thuật; người nghe phải giữ một lập trường đặc biệt, lập trường hai mặt, trong sự kiện đó: trong mối quan hệ với tác giả, và trong mối quan hệ với nhân vật - và lập trường này sẽ quyết định phong cách của phát ngôn.

Tác giả cảm nhận người nghe của mình như thế nào? Trong ví dụ phát ngôn trong đời sống, chúng ta đã thấy sự đồng ý hay bất đồng của người nghe có mức độ quan trọng quyết định như thế nào đối với ngữ điệu. Điều này cũng đúng đối với mọi yếu tố của hình. Nói một cách hình ảnh, người nghe thông thường ở bên cạnh tác giả như là đồng minh của ông ta; nhưng trường hợp cổ điển như vậy về vị trí của người nghe còn xa mới thường xuyên xảy ra.

Đôi khi người nghe bắt đầu tiếp cận với nhân vật của phát ngôn. Biểu hiện rõ nhất và điển hình nhất của việc đó là phong cách bút chiến, đặt nhân vật và người nghe vào cùng một mặt phẳng. Thể loại châm biếm cũng có thể nắm bắt cả người nghe - xem anh ta như là gần gũi với nhân vật bị chế nhạo, chứ không phải gần gũi với tác giả đang chế nhạo: điều này giống như một hình thức chế nhạo bao gồm, khác biệt căn bản với hình thức chế nhạo loại trừ, trong đó người nghe đồng tình với tác giả là người chế nhạo. Một hiện tượng thú vị có thể quan sát thấy ở chủ nghĩa lãng mạn, nơi thường thấy tác giả có vẻ như liên minh với nhân vật để chống lại người đọc (F. Schlegel – “Lucinde”; trong văn học Nga, một phần của "Nhân vật thời đại chúng ta").

Rất độc đáo và thú vị nếu phân tích cảm giác của tác giả về người nghe dưới các hình thức xưng tội và tự truyện. Mọi chuyển đổi cảm giác từ sự quy phục ngoan ngoãn trước người nghe như trước quan tòa được công nhận, đến sự ngờ vực khinh bỉ và sự thù địch đối với anh ta - có thể quyết định phong cách của lời thú tội và tự truyện. Một tư liệu vô cùng thú vị minh họa cho điều này có thể thấy trong tác phẩm của Dostoevski. Phong cách tự thú của những "Ghi chép" của Iippolit (trong "Thằng ngốc") được quy định bởi mức độ gần như tột cùng của sự ngờ vực khinh bỉ và sự thù địch đối với tất cả những ai sẽ lắng nghe lời thú tội lúc lâm chung này. Cũng giọng điệu như vậy, nhưng được mềm hóa đôi chút, quyết định phong cách của "Những ghi chép dưới hầm". Sự tin tưởng và công nhận lớn hơn nhiều về quyền của người nghe được thể hiện bởi phong cách của "Những lời tự thú của Stavrogin", mặc dù cả ở đây đôi khi vẫn bùng phát thái độ gần như hận thù đối với anh ta, tạo nên những sự đột biến phong cách. Sự điên dại, như một hình thức đặc biệt của phát ngôn, quả thực, đã nằm ở ranh giới của nghệ thuật, được xác định trước hết bởi xung đột vô cùng phức tạp và khó hiểu giữa người nói và người nghe.

Đặc biệt nhạy cảm với tư thế của người nghe là hình thức thơ trữ tình. Điều kiện chính của ngữ điệu trữ tình là sự tự tin không thể lay chuyển vào sự đồng cảm của người nghe. Chỉ cần sự nghi ngờ len lỏi vào tình huống trữ tình, phong cách trữ tình sẽ lập tức thay đổi. Mâu thuẫn như vậy với người nghe biểu hiện sinh động nhất trong cái gọi là "mỉa mai trữ tình" (Heine, trong thơ mới - Lafarge, Annensky, v.v…) Hình thức mỉa mai nói chung được hình thành bởi xung đột xã hội: đó là sự gặp gỡ hai cách đánh giá điển hình trong cùng một giọng nói và sự giao thoa của chúng, sự loạn nhịp.

Mỹ học hiện đại đã đưa ra một lý thuyết đặc biệt, gọi là lý thuyết "tố tụng” về bi kịch, bản chất của nó rút lại là cố gắng hiểu cấu trúc của bi kịch như là cấu trúc một phiên tòa. [9]

Mối quan hệ tương hỗ giữa một bên là nhân vật với dàn đồng ca, và bên kia là lập trường chung của người nghe – quả thực có tuân theo, ở một mức độ nhất định, sự giải thích pháp luật. Nhưng, tất nhiên, vấn đề chỉ có thể là sự tương tự. Cái chung căn cốt giữa bi kịch - và mọi tác phẩm nghệ thuật – với quá trình tố tụng rút lại chỉ là sự hiện hữu của "các bên", tức là, sự hiện diện của một những bên tham gia với những lập trường khác nhau. Những cụm từ rất thường được dùng để nói về nhà thơ, như "vị quan tòa", "người vạch mặt", "nhân chứng", "người bảo vệ" hay thậm chí là "đao phủ" (cụm từ của phong các «trào phúng đả kích» - Juvenal, Barbier, Nekrasov, và những người khác), và tương ứng là những mô tả nhân vật và người nghe – dưới hình thức tương tự hé lộ cùng một cơ sở xã hội của thơ. Trong mọi trường hợp, tác giả, nhân vật và người nghe không bao giờ hòa trộn vào một sự thống nhất lãnh đạm nào đó, mà luôn giữ những lập trường độc lập; đó thực sự là "các bên", nhưng không phải của một phiên tòa, mà của một sự kiện nghệ thuật với cấu trúc xã hội riêng biệt, và tác phẩm nghệ thuật chính là “biên bản” của nó.

Ở đây, sẽ không thừa khi nhấn mạnh thêm một lần nữa, rằng chúng ta luôn luôn nói đến người nghe như  một thành viên nội tại của sự kiện nghệ thuật, kẻ quy định hình thức tác phẩm từ bên trong. Ngang với tác giả và nhân vật, người nghe là một yếu tố thiết yếu bên trong của tác phẩm và hoàn toàn không trùng với cái gọi là "công chúng", nằm bên ngoài tác phẩm, với các yêu cầu và thị hiếu nghệ thuật mà ta có thể trù tính một cách có ý thức. Việc trù tính có ý thức như vậy không có khả năng xác định một cách trực tiếp và sâu sắc hình thức nghệ thuật trong quá trình sáng tạo sống động của nó. Hơn nữa, nếu sự trù tính có ý thức về công chúng như vậy giữ bất kỳ vị trí nghiêm túc nào trong công việc sáng tạo của nhà thơ - nó chắc chắn sẽ mất đi sự thuần khiết nghệ thuật của nó và suy thoái thành một kế hoạch xã hội thấp kém.

Sự trù tính bên ngoài này nói lên, rằng nhà thơ đã đánh mất người nghe nội tại của mình, đã bị tách rời khỏi chỉnh thể xã hội, cái có thể, từ bên trong, ngoại trừ tất cả những suy tính lạc đề, xác định những sự đánh giá của anh ta cũng như hình thức nghệ thuật của những phát ngôn thi ca của anh ta – cái hình thức biểu hiện những đánh giá xã hội căn bản đó. Nhà thơ càng bị tách rời khỏi sự thống nhất xã hội của nhóm của mình, sẽ càng có khuynh hướng trù tính đến các yêu cầu bên ngoài của một công chúng nhất định. Chỉ có một nhóm xã hội xa lạ đối với nhà thơ mới có thể quy định sự sáng tác của anh ta từ bên ngoài. Bên trong nhóm của mình, sự quy định từ bên ngoài như vậy không cần thiết: nó ở trong chính giọng nói của nhà thơ, chủ yếu trong giọng điệu của anh ta, trong các ngữ điệu - cho dù nhà thơ muốn hay không muốn. Nhà thơ tiếp nhận ngôn từ và học cách ngữ điệu hóa chúng suốt cuộc đời mình trong quá trình giao tiếp toàn diện với môi trường của anh ta. Những ngôn từ và ngữ điệu này, nhà thơ bắt đầu sử dụng ngay từ lời nói bên trong để nghĩ và nhận biết bản thân mình, thậm chí ngay cả khi anh ta không nói ra. Cho rằng có thể nắm bắt một thứ lời nói bên ngoài đi ngược với lời nói bên trong của mình, rằng có thể dùng những thủ pháp ngôn từ-bên trong để hiểu rõ bản thân và thế giới - là ngây thơ. Nếu trong một vài trường hợp nào đó trong cuộc sống ta có thể tạo ra nó, thì khi bị tách rời khỏi những cội nguồn nuôi dưỡng nó, nó cũng sẽ không có bất kỳ tính năng sản nghệ thuật nào. Phong cách của nhà thơ được sinh ra từ phong cách không thể kiểm soát được của lời nói bên trong của anh ta, và lời nói bên trong này là một sản phẩm của toàn bộ đời sống xã hội của anh ta. "Phong cách – đó là con người"; nhưng chúng ta có thể nói: phong cách – đó ít nhất là hai người, hay chính xác hơn, ít nhất là một người và nhóm xã hội của anh ta thông qua một đại diện có thẩm quyền của nhóm - người nghe - một thành viên thường trực của lời nói cả bên trong và bên ngoài của người đó.

Vấn đề là ở chỗ, mọi hành động ý thức ít nhiều rõ ràng đều là không thể thiếu lời nói bên trong, không thể thiếu ngôn từ và ngữ điệu - đánh giá, và, do đó, đã là một hành động xã hội, một hành động giao tiếp. Ngay cả một sự tự ý thức riêng tư nhất cũng đã là một nỗ lực để chuyển dịch bản thân mình vào ngôn ngữ chung, trù tính đến quan điểm của người khác, và, do đó, đã bao gồm trong nó sự định hướng tới người nghe. Người nghe đó có thể chỉ là một kẻ mang sự đánh giá của nhóm xã hội mà người nhận thức thuộc về. Về mặt này, ý thức, trong chừng mực chúng ta không bị phân tâm bởi nội dung của nó, đã không chỉ là một hiện tượng tâm lý, mà trên hết là một hiện tượng tư tưởng, một sản phẩm của sự giao tiếp xã hội.

Thành viên thường trực đó của tất cả các hành vi ý thức của chúng ta quy định không chỉ nội dung, mà – điều chính yếu đối với chúng ta – cả bản thân sự lựa chọn nội dung, lựa chọn chính những gì được chúng ta nhận thức, và, do đó, quy định những đánh giá – những đánh giá thâm nhập vào ý thức và thường được tâm lý học gọi là "giọng điệu xúc cảm" của ý thức. Người nghe, kẻ xác định hình thức nghệ thuật, được sinh ra từ chính thành viên thường trực này của tất cả các hành vi của ý thức chúng ta.

Không có gì nguy hại hơn việc hình dung cấu trúc xã hội tinh tế này của sự sáng tạo ngôn từ theo cách tương tự với lối tư biện nhận thức luận và trơ trẽn của nhà xuất bản tư sản, luôn "tính đến tình hình của thị trường sách" và áp dụng, khi mô tả cấu trúc nội tại của tác phẩm, những phạm trù như "cung và cầu". Thật đáng buồn, nhiều “nhà xã hội học" cũng có xu hướng đồng nhất sự phục vụ xã hội của nhà thơ với các hoạt động của một nhà xuất bản năng động.

Trong điều kiện kinh tế tư bản, thị trường sách, tất nhiên, "điều chỉnh" các nhà thơ, nhưng điều đó trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể đồng nhất với vai trò điều tiết của người nghe như là một yếu tố cấu thành thường trực của sáng tạo nghệ thuật. Đối với một sử gia văn học thời đại tư bản chủ nghĩa, thị trường là một yếu tố rất quan trọng, nhưng đối với thi pháp lý thuyết, ngành nghiên cứu cấu trúc tư tưởng cơ bản của nghệ thuật, yếu tố bên ngoài này là không cần thiết. Nhưng cả trong lịch sử văn học cũng không được phép nhầm lẫn lịch sử của thị trường sách và ngành xuất bản với lịch sử thơ ca.

VII

Tất cả các yếu tố mà chúng ta đã khảo sát quy định hình thức của phát ngôn nghệ thuật: 1) giá trị thứ bậc của nhân vật hoặc sự kiện, cái là nội dung của phát ngôn; 2) mức độ gần gũi của nhân vật với tác giả; 3) người nghe và mối quan hệ tương hỗ của anh ta, một mặt, với tác giả, và, mặt khác, với nhân vật – chính tất cả những yếu tố này là những điểm bổ sung các lực lượng xã hội của hoạt động ngoài nghệ thuật vào thơ ca. Chính nhờ cấu trúc xã hội-bên trong như vậy, từ mọi phía,  sự sáng tạo nghệ thuật chịu ảnh hưởng xã hội của các lĩnh vực khác trong đời sống. Các không gian tư tưởng khác, đặc biệt là hệ thống chính trị-xã hội, và, cuối cùng, nền kinh tế, quy định thơ không phải chỉ từ bên ngoài, mà dựa trên các yếu tố cấu trúc bên trong nói trên của nó. Và ngược lại: sự tương tác nghệ thuật giữa tác giả, người nghe và nhân vật có thể tác động đến các lĩnh vực khác của giao tiếp xã hội.

Để lý giải đầy đủ và toàn diện các câu hỏi về việc ai sẽ là nhân vật điển hình của văn học trong một thời đại nhất định, định hướng hình thức điển hình của tác giả trong mối quan hệ với anh ta ra sao, mối quan hệ tương hỗ giữa nhân vật, tác giả và người nghe trong chỉnh thể sáng tạo nghệ thuật phải ra sao, đòi hỏi phải phân tích toàn diện các điều kiện kinh tế và tư tưởng của thời đại.

Nhưng những vấn đề lịch sử-cụ thể này vượt ra ngoài giới hạn của thi pháp lý thuyết, và nó còn có một nhiệm vụ quan trọng nữa. Cho đến nay, chúng ta mới chỉ đề cập đến những yếu tố quy định hình thức trong mối quan hệ của nó với nội dung, tức là, như là biểu hiện của đánh giá xã hội về chính nội dung đó, và chúng ta đã thấy rằng mọi yếu tố của hình thức đều là sản phẩm của tương tác xã hội. Nhưng chúng ta cũng đã chỉ ra, rằng hình thức còn phải được hiểu từ một phương diện khác - như là hình thức được thực hiện nhờ một chất liệu nhất định. Điều này mở ra một loạt dài những câu hỏi liên quan đến mặt kỹ thuật của hình thức.

Tất nhiên, những vấn đề kỹ thuật này chỉ có thể khu biệt một cách trừu tượng từ các vấn đề xã hội học của hình thức: không thể phân biệt một cách thực sự giữa ý nghĩa nghệ thuật của một thủ pháp nào đó - chẳng hạn, một ẩn dụ liên quan đến nội dung và thể hiện sự đánh giá bằng hình thức về nó (ẩn dụ hạ thấp đối tượng hoặc tôn vinh anh ta đến tột bậc) – và một mô tả thuần túy ngôn ngữ học về thủ pháp này.

Ý nghĩa phi ngôn từ của ẩn dụ - sự tổ chức lại các giá trị và vỏ ngôn ngữ của nó – sự chuyển dịch ngữ nghĩa - chỉ là những điểm nhìn khác nhau về cùng một hiện tượng thực tế. Nhưng điểm nhìn thứ hai phụ thuộc vào điểm nhìn đầu tiên: nhà thơ sử dụng phép ẩn dụ để tái tổ chức các giá trị, chứ không phải để làm các bài tập ngôn ngữ học.

Tất cả các vấn đề của hình thức có thể được nắm bắt trong mối quan hệ với chất liệu, trong trường hợp này, là nối quan hệ với ngôn ngữ được tiếp nhận về mặt ngôn ngữ học; sự phân tích kỹ thuật, như vậy, quy về câu hỏi, nhiệm vụ nghệ thuật - xã hội của hình thức được thực hiện nhờ những phương tiện ngôn ngữ học nào. Nhưng nếu thiếu kiến ​​thức về nhiệm vụ này, nếu trước hết không làm sáng tỏ ý nghĩa của nó, sự phân tích kỹ thuật sẽ là vớ vẩn.

Các vấn đề kỹ thuật của hình thức, tất nhiên, vượt ra ngoài giới hạn nhiệm vụ mà chúng ta đặt ra. Thêm nữa,  sự khảo sát chúng đòi hỏi tiền đề là một sự phân tích sâu sắc và chuyên biệt hơn rất nhiều về mặt xã hội-nghệ thuật của thơ: ở đây chúng ta chỉ có thể phác ra những hướng chính của một phân tích như vậy.

Nếu chúng ta đã chỉ ra được dù chỉ là khả năng của một cách tiếp cận xã hội học đối với cấu trúc nghệ thuật nội tại của hình thức thi ca, thì nhiệm vụ của chúng ta cũng có thể coi là đã hoàn thành.

NGÔ TỰ LẬP dịch 
Nguồn: Tạp chí Nhà Văn & Tác Phẩm

Nguyên bảnВОЛОШИНОВ BH:“Слово в жизни и слово в поэзии. К вопросам социологической поэтики” Звезда, 1926, № 6, стр. 244-267.

________________________________________
 
[1] Xem: Sakulin P.N. "Phương pháp xã hội học trong nghiên cứu văn học." M. 1925.

[2] "Các yếu tố của hình thức thi ca (âm, từ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu, thể loại), chủ đề thi ca, phong cách nghệ thuật nói chung - tất cả đều đã được nghiên cứu sơ bộ một cách nội tại, sử dụng các phương pháp được thi pháp lý thuyết phát triển, dựa trên tâm lý học, mỹ học và ngôn ngữ học, và những phương pháp đang được vận dụng trên thực tế bởi, chẳng hạn, cái gọi là phương pháp hình thức "(Sakulin P.N. "Phương pháp xã hội học trong nghiên cứu văn học", tr. 27).

[3] "Xem văn chương là một hiện tượng xã hội, chúng ta không thể không đến với câu hỏi về lý do xuất hiện của nó. Đối với chúng ta, đó là – tính nhân quả xã hội học. Chỉ đến bây giờ, một sử gia văn học mới có quyền đứng ở vị trí của nhà xã hội học và đưa ra câu hỏi "Tại sao", để bao gồm các sự kiện văn học vào quá trình chung của đời sống xã hội trong một thời đại nhất định, và sau đó để xác định vị trí của chúng trong sự vận động lịch sử chung. Và khi phương pháp xã hội học đó cũng thể hiện sức mạnh của, mà khi được ứng dụng vào lịch sử văn học, trở thành phương pháp lịch sử-xã hội học.

Trong giai đoạn nội tại đầu tiên, tác phẩm được quan niệm như một giá trị nghệ thuật theo nghĩa xã hội và lịch sử của nó" (Sakulin P.N. "Phương pháp xã hội học trong nghiên cứu văn học," tr. 27, 28).

[4] Chúng tôi chỉ phân biệt giữa lý thuyết và lịch sử nghệ thuật về mặt phân công lao động kỹ thuật. Không có khoảng cách phương pháp luận nào có thể có giữa chúng. Các phạm trù lịch sử được sử dụng một cách mạnh mẽ, tất nhiên, trong mọi lĩnh vực của khoa học nhân văn, cả lịch sử lẫn lý thuyết.

[5] "Enthymeme" (Tam đoạn luận tỉnh lược), trong logic học, là tên gọi của một phép suy luận, trong đó một tiền đề không được thể hiện mà chỉ ngụ ý. Ví dụ: Socrates là người, do đó ông phải chết. Hàm ý - "mọi người đều phải chết."

[5a] Chúng ta tạm gác lại những vấn đề về kỹ thuật của hình thức, về mà chúng ta sẽ bàn sau đây.
[6] Quan điểm Zhirmunsky.

[7] Xem: Humboldt W. Kawi-Werk. II, 335, và trong sách giáo khoa tiếng Nhật: Hofmann IV Japan Sprachlehre. S. 75.

[8] Xem: Matthews G.H. Aboriginal languages of Victoria; xem thêm: Humboldt W. Kawi-Werk.

[9] Sự phát triển thú vị nhất của quan điểm này, xem:. Cohen H. Ästhetik des Reinen Gefühls, Bd. 2



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều