Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

MỘT LỐI ĐI MANG TÊN VŨ THANH HOA

Thơ Vũ Thanh Hoa không chối bỏ cách chọn và tiếp nhận tinh hoa của người đi trước. Những cung bậc trong thơ nữ thi sĩ đã và đang gọi tên một giọng điệu riêng, đa thanh và đa sắc. Tôi cố gắng tìm hiểu hướng cách tân của nữ thi sĩ, dù biết rằng 182 bài thơ của ba thi tập mở hàng là thách thức cám dỗ…
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa

Mỗi lần viết về một nhà thơ tôi thường rất lo lắng. Tôi rất dị ứng với bài bình theo lối “Tầm chương trích cú” rồi bình tán ban phát vài câu, một tí khen, một tí gợi ý gọi là… Thơ thực thơ không cần cái món điểm tâm lõng bõng nước ấy. Nó cần một sự thấu hiểu, chí ít là trình bày những thấu hiểu (dù chủ quan), sự thấu hiểu của phía được tặng với người đã lao lung sáng tạo.

Khi đọc “Ngày đi qua” của Hà Đình Cẩn, tôi đã rất đỗi ngạc nhiên khi bạn tôi, một nhà viết ký và viết kịch lại xuất hiện tập thơ có nhiều mồ hôi và cả máu trong chữ. Vì thế tôi mới hân hoan rằng “Anh cứ nghĩ anh chỉ chăm chăm với văn xuôi thôi, cuộc đời nào có đơn giản vậy. Thơ, có khi nó nằm ngay bên lề trinh trắng trang văn mà anh không thình lình nhận thấy đấy thôi. Người ta đã đo được thời gian có khi trước cả văn minh sông Hằng, tôi đoan chắc các nhà thơ còn có thể cân được thời gian xem nặng, nhẹ thế nào từ thủa con người biết hát ca tiếng nói”. Vũ Thanh Hoa tôi biết trước hết là tiếng văn. Nhưng tiếng thơ có lẽ mới Vũ Thanh Hoa nhất. Tôi cứ tưởng khi Hoa nhờ viết lời bạt cho “Nỗi đau của lá”, thì thơ với Hoa chỉ là một cuộc dạo chơi cho đỡ “cuồng cẳng”. Lúc ấy tôi nghĩ, cái công viên tráng lệ thi ca có đường pit, vậy thì cứ thư dãn, dạo hoặc chạy trên đưởng pit thơ bổ, khỏe chứ có làm mấy ai sai khớp, gẫy chân. Mà, cái cô có tiếng văn trẻ trung này thì… chả cái gì không dám thử!

Trên giá sách của tôi giờ đĩnh đạc ba tập thơ của Vũ Thanh Hoa đặt cùng hàng một số tác phẩm của các nhà thơ nữ mà tôi có: “Nỗi đau của lá” (2005), “Trong tôi có người đàn bà khác” (2009), “Lời cầu hôn đêm qua” (2012). Ba tập thơ với 182 bài thơ, trên 270 trang in, 12 năm dồn nén 43 năm sống, mà chắc chắn mới chỉ như chặng đầu của cuộc đi lao lực và đầy bất trắc trong cái công viên bao la có bao nhiêu là tráng lệ, nhưng đã nhằng nhịt các lối người đời khai mở. Tôi “nhìn” thấy bước chân Vũ Thanh Hoa đi có ý thức trên một lối riêng tự mở trong cái công viên ấy. Vì thế tôi linh cảm rằng thơ mới là Vũ Thanh Hoa nhất. Đành rằng, thi thoảng tôi vẫn đọc văn xuôi của Hoa, thi thoảng có ghé cái web đầy màu sắc mà Hoa xây riêng cho mình, để chơi, và dành cả những tòa văn trang trọng cho bè bạn văn chương cả trước, và cả người cùng thời…

1.
Trời đã khuya rồi, tôi ngẩn ngơ
Ngắm nhìn ngọn núi phủ mây mờ
Gió ơi gió có về nơi ấy
Cho gửi lòng này một ý thơ
(Không đề -1985)

Tôi phải trích cẩn thận, ghi rõ năm Vũ Thanh Hoa viết bài thơ có lẽ thuộc những bài thơ đầu tiên trong vô số thơ kiểu học trò, thơ học mót “chả biết vì sao tôi buồn” thì sinh ra … cái sự. Một bài tứ tuyệt của người thích làm thơ. Thế thôi. Chắc bây giờ mỗi lần đọc lại, cô nữ sĩ với bút pháp mới và hiện đại, cô nữ sĩ làm ta choáng ngợp với lập ngôn thơ tình khai nguyên, tươi tắn và tràn trề ý thức về tình yêu: “24 giờ vòng quanh tờ lịch mỏng/ 24 giờ trống rỗng/ 24 giờ ngổn ngang/ 24 giờ đấu giá từng giây từng phút/ Lơ lửng giấc mơ tỉa tót” (24 giờ); cô nữ sĩ có đôi mắt nhân hậu nhìn vết sẹo làm đau cô như một bông hoa vừa nở, sẽ không khỏi tự mỉm cười, tự độ lượng. Bài thơ này nữ sĩ in trang trọng mở đầu tập thơ con so “Nỗi đau của lá”. Vì sao Vũ Thanh Hoa làm thế? Vì muốn trung thực được với người thì trước hết phải tập trung thực với mình. Nó là một bài thơ quá tầm thường, dĩ nhiên. Nhưng Hoa lại in trang trọng cho tập thơ chào bạn đọc, như thế là tự trọng, là Hoa công khai rằng có thể bạn sẽ chê bài thơ con con và rất đỗi tầm thường khai nghiệp của tôi, nhưng tôi là tôi, tôi bắt đầu có thể từ một cái gì không đáng kể. Đã có bao tài danh cũng bắt đầu để dựng một sự nghiệp từ cái… không đáng kể!

Trong cái lời bạt viết cho tập thơ đầu tiên của Vũ Thanh Hoa 12 năm trước, tôi nhớ rằng, cái cô nữ sĩ thuộc về thì tương lai rất gần từng nhiều năm theo cha, mẹ (các nhà ngoại giao) sống không ổn định ở nhiều nước khác nhau vùng Phi Châu rộng lớn, táp cháy và xa xôi. Tôi đã từng nêu một phỏng định rằng có bao nhiêu phần trăm cái tinh thần “Phi” trong văn thơ Vũ Thanh Hoa khi cô đối thoại trước trang viết để dần thành một cá tính chữ, một bản sắc chữ, một thể chất nghĩ?

Có ngay đây:

“Đứng trước biển rộng, em nói: Em yêu anh
Ngước mặt nhìn trời xanh, em nói: Em yêu anh
Giữa phố đông người, em nói: Em yêu anh
Khi gặp anh, em lạnh lùng thinh lặng
Em nghe thấy có muôn vàn tiếng vọng
Giữa biển, giữa trời, giữa nghìn người, Anh nói:
Anh yêu em
(Tiếng vọng)

Đây nữa:

Trước bão giông em bình thản
Trước thị phi em mỉm cười
Trước núi cao, biển rộng, vực sâu em cắn răng bước đi
đôi chân trần rướm máu
Thế nhân đổi trắng thay đen, thế nhân ô trọc,
thế nhân lọc lừa, em ngẩng đầu kiêu hãnh
(Trước Anh)

Có một chiều hoàng hôn xuống thấp, mặt trời dường như đã bị những con sóng Thái Bình Dương chờ chực nuốt chìm. Tôi ngồi với Xa Di, anh bạn làm thuê khoan dầu người Phi Châu da đen. Chúng tôi cùng nhìn ra biển. Xa Di nhớ Phi Châu. Xa Di khe khẽ hát: “Mặt trời vội vàng thế/ Mặt trời thiêu đốt và cát xám mênh mông của ta cũng thiêu đốt/ Sao không ở lại thêm với nhau/ Ta biết rồi/ Mặt trời lại đi tìm biển/ Người yêu ta hàm răng đều và trắng như ngà voi/ Người yêu ta nước da đồng hun và bộ ngực nở trần lấm tấm bụi cát/ Người yêu của ta đã bỏ ta rồi/ Chỉ còn xa mạc và ta chơ vơ trên mặt đất/ Ta vẫn hát/ Ta hát chia tay mặt trời và chia tay em…”. Tôi không hiểu hết tinh thần của lời ca Xa Di. Một giai điệu đăm đăm ẩn ức. Một giai điệu mênh mang và buồn se thắt. Khi “Thế nhân đổi trắng thay đen, thế nhân ô trọc, thế nhân lọc lừa” mà “ngẩng đầu kiêu hãnh” là một sự tự trọng. Chứ sao? Cái tinh thần “Phi” nó ngấm trong thơ Hoa lúc nào, tôi không biết. Mà sao lại cần phải giải thích? Hãy cứ đọc: “Phút anh nói yêu em, em nghe thổn thức trong lòng/ Phút ôm anh trong vòng tay, em thấy buồn bất tận/ Thời gian có dừng lại đâu, đang dần trôi về sáng/ Đến ngày mai anh có còn của em?/ Đến ngày mai anh vừa lạ vừa quen/ Là người đàn ông đi qua em như bao người đàn ông khác…” (Hư ảo).Khi “chữ” dám đi tới tận cùng của sự trung thực “chữ” trở nên kiêu hãnh. Một nhà thơ đã nói với tôi như thế!

Tôi đã dừng rất lâu trước bài thơ “Gửi chồng cũ”. Bài thơ này Vũ Thanh Hoa viết ngày 1 tháng 5 năm 2004. Thật trớ trêu. Cái ngày Quốc tế lao động, cái ngày loài người lựa chọn làm lễ hội tưng bừng cho những người lao động cải tạo và xây nên thế giới thì nữ thi sĩ một mình lặng lẽ viết gửi người chồng cũ:

“Vầng trăng mãi xẻ đôi, câu thề đành bỏ ngỏ
Chẳng thể nào bắt trái tim lặng vắng
Dập dồn cung bậc nồng say
Càng cố ngọt ngào càng nhận lắm đắng cay
Bi kịch của đời người khi tình yêu giả dối
Anh có lỗi hay em có lỗi?
Tìm làm chi, câu thơ đã nhạt nhòa”

Không! Câu thơ sẽ không nhạt và cũng sẽ không nhòa. Thơ Vũ Thanh Hoa nhất định sẽ không nhạt và không nhòa. Sự thương tổn có thể giết chết con người, nhưng, sự thương tổn với nhà thơ, đôi khi, lật một trang không định trước. Bởi vì: “Lũ trẻ sẽ lớn lên, hai ta sẽ già/ Theo thời gian, lỗi lầm thành bé nhỏ/ Ta chắt chiu sợi tình còn sót lại/ Đan lẫn vào tấm thảm của ngày mai” (Gửi chồng cũ)Bởi vì sức chịu đựng của con người trước những tổn thương, trước thất vọng còn quá nhiều bí ẩn. Phàm các nhà thơ hay lô loa rằng họ là cái loài dễ bị thương, dễ bị chèn ép, dễ bị đánh khuỵu nhất. Ngoa quá. Những nhà thơ thực tài là những cây phong ba. Mọi bão táp chỉ làm họ thêm cứng vững. Vũ Thanh Hoa là một cây phong ba, cây phong ba trong cơn bão đời Hoa. Hoa khảng định mình khi gửi cho người chồng cũ, người chồng từng mơ mộng và hy vọng chở che, nương tưa. Và, ở cái khúc ngoặt không mong muốn ấy chứng minh một Vũ Thanh Hoa không chịu ngã: “Trên nhành cây, gió ngừng thổi bao giờ…/ Thơ chẳng giống hôm qua, đã sang bài thơ khác/ Mỗi bình minh em vẫn khe khẽ hát/ Đã lỗi nhịp rồi, giai điệu của ngày xưa” (Gửi chồng cũ).

Trạng thái trầm cảm, bị bỏ rơi, thất vọng, tan nát có lẽ không tránh khỏi. Vũ Thanh Hoa không che đậy hay phủ định nó. Sự cô đơn, đôi khi cô độc sau cú sốc nghiệt ngã dễ gì không để lại sẹo. Vũ Thanh Hoa cũng không ảo tưởng chối bỏ hay hắt hủi: “Tàn tro của mùa đông/ Ủ những cánh hoa rơi…”, cho nên sau mất mát ta có thể cảm thông khi Hoa viết: : “Tàn tro của mối tình đánh mất/ Cứa vết sẹo dài, đau buốt số phận người rỉ máu…”. Ta có thể tìm thấy tâm trạng ấy trong “Tàn tro”, Soi gương”, “Ngoảnh lại” và rất nhiều bài thơ trong thi tập đầu tiên. Ta cũng có thể thấy cả gai xước và một cách tự trình bày điềm tĩnh, trần trụi, váng vất, có khác thường nhưng cũng đầy khao khát trong nhiều bài thơ của Hoa ở tập thơ này. Có thể tâm trạng bạn đọc khi đọc “Nỗi đau của lá” sẽ dừng lại giống tôi ở các bài thơ mà thi tập này không bỗng dưng mang tên. Nhưng, đó lại là những câu chuyện dễ gây mất ngủ. Nếu phải viết thêm, nói thêm về tập thơ này, tôi không muốn. Cứ để cho lớp da non trở lại dần tươi nhuận trên vết sẹo phũ phàng hôm nào. Tôi chỉ những muốn một lần nữa nhắc lại câu thơ Hoa đã viết: “Trên nhành cây, gió ngừng thổi bao giờ”. Gió vẫn ngầm thổi, nhiều tái tê và còn thổi. Đúng thế. Câu thơ đã nói. Và, nghĩa là Vũ Thanh Hoa đã bộc bạch và thú nhận. Ta sẽ nhiều bất ngờ với một thi sĩ Vũ Thanh Hoa khác đi ở hai tập thơ nối tiếp. Hai tập thơ khảng định con đường thơ vào chín đã và đang gọi mời, đĩnh đạc lật qua trang, đã và sẽ gọi tên một giọng điệu riêng, một tư duy mới và trẻ, một hướng cách tân thơ cám dỗ.

2.
Trên thi đàn Việt thế kỷ XX, Hoàng Cầm là ông hoàng thơ tình tôi yêu thích nhất. Hồn thơ ông là đôc đáo, còn hơn thế, là đôc nhất vô nhị. Ông yêu khăng khăng vũ trụ quan yêu của riêng ông, nên thơ Việt bi tráng và diễm lệ mới hữu sinh cây thảo quế Hoàng Cầm:

Chiều nay cuốc gọi ngoài đê
Chị em thui thủi về quê với bà
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Cáo nằm chung gối thì ta lại về
Bấy giờ em hát chị nghe
Không còn tiếng cuốc sang hè nữa đâu
(Mưa đêm – Hoàng Cầm)

Cũng trên thi đàn Việt thế kỷ XX, một tài nữ bất tử nữa mà tôi nghiêng mình thi lễ duy chỉ một Xuân Quỳnh. “Thơ tình cuối mùa thu”, “Thuyền và biển”, “Sân ga chiều anh đi”… và bao nhiêu thi phẩm của tài nữ thi nhân đã là tài sản chung không mấy ai không đọc, hoặc đã nghe, hoặc hát lên dẫu chỉ một lần!

Một đôi lần tôi đã nghe Vũ Thanh Hoa hát ca khúc phổ thơ Xuân Quỳnh. Và cũng có lần tôi nghe người thi sĩ trẻ thông minh và dễ mến trò chuyện với các đồng nghiệp về vẻ đẹp duy mỹ trong thơ Hoàng Cầm. Như thế, cũng có nghĩa thơ của thế hệ đi trước được Hoa nâng niu, trọng thị và lưu một góc trong sâu thẳm.

Quan trọng hơn, Vũ Thanh Hoa đang chăm chỉ một bàn tiệc thơ tình với chất liệu và cách thức của riêng Hoa, vị cuốn hút của riêng Hoa. Có đắng, có chua chát, có cay tê và có ngọt ngào. Có gì đó trong sắp đặt, trong cấu tứ, thi ảnh, cách nghĩ mới mẻ, sáng trưng và trực diện. Có tinh khôi và có đâu đó còn đôi ba vết xước. Nhưng chỉ việc dốc lòng làm một bàn tiệc tặng bao cung bậc của tình yêu và dâng tặng con người sao lại không vui mừng trước bữa tiệc nhọc nhằn và nhiều công phu ấy. Vũ Thanh Hoa là một trong đội ngũ tươi mới những nhà thơ thế hệ mới như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Lê Mỹ Ý, Bình Nguyên Trang, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Thu Phương, Hoàng Chiến Thắng, Trịnh Sơn, Nhụy Nguyên và… Thơ của mỗi họ có thể chưa mĩ mãn cho mọi đòi hỏi nhiều khi quá đơn chuẩn, có khi là những đòi hỏi võ biền và lạ kỳ, nhưng đích là những bàn tiệc, những bàn tiệc đầy màu sắc và hương vị mới. Họ thuộc một thế giới cụ thể chứ không quá đa cảm, cả tin, nhiều duy lý. Một thế giới khó khăn hơn, đa chiều, nhiều quyết liệt và cũng bộn bề hơn. Họ xả thân, đôi khi đơn độc đối mặt với chiều ngược lại để khảng định mình, để tồn tại hòa đồng và rắn giỏi mở cánh cửa ra thế giới. Cũng có người bỏ dở, lưỡng lự, so đo. Có người đã hoặc đang gây sức nóng và thu hút được những ánh mắt tin tưởng. Hãy tôn trọng quyền chọn đường thơ của họ. Họ là đội ngũ những nhà thơ của thế kỷ XXI. Họ sẽ thay chúng ta xây một thế giới thi ca mới. Sẽ rất lâu, sẽ rất dài, sẽ nhiều thành công nhưng nhiều hơn là những thất bại. Phải mất bao nhiêu năm Thơ Việt mới vượt thoát cớm bóng thơ luật Đường? Thơ luôn luôn đòi hỏi những cách tân. Mà đội ngũ cách tân cho thơ dòng chủ đạo ắt là những thi sĩ trẻ. Điều ấy không cần bàn cãi!

Có một người đàn bà khác trong Vũ Thanh Hoa, đó là người đàn bà thơ của tín ngưỡng thơ mới, hiện đại và mạnh mẽ – đó là thơ quyết tìm hướng khác với ngôn ngữ,thi ảnh và nhịp điệu đang thúc bách để ứng xử tương thích với thời đại không giống hôm qua. Người đàn bà khác ấy có tự vấn thì cũng tự vấn và tự trả lời không thể như cái nếp sống chậm, mơ mơ của văn hóa đình làng, bến nước, cây đa và tre lũy, hay nhịp một hai trong đô thị nho nhỏ, xinh xinh với ôn hòa trước đó. Họ hào phóng hơn, mạnh mẽ hơn, ít thời gian hơn, gấp gáp hơn nên quà thơ có khác: “Anh hỏi: Anh là gì của em/ Là mặt trời/ Là vì sao/ Là một nửa/ Tất cả vẫn đúng đấy/ Nhưng anh yêu/ Thiên hạ nói rồi…”. Và cách Hoa trả lời thật ngắn gọn, không thể phủ nhận sự mới mẻ, trực ngôn, độc đáo. Đây là cách trả lời mang tên Vũ Thanh Hoa:

“Nốt ruồi nhỏ trên ngực em
Anh thấy
Từ lúc mẹ sinh em
Đến khi em chết
Em gọi đó là Anh”
(Định nghĩa anh)

“Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa/ Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Bây giờ người ta không yêu thế đâu, đa phần ngưới ta yêu…ào một cái. Đấy là thời xa xôi, thời cụ cố chúng ta yêu nhau. Có nuối thì cũng: “Từ thủa ấy/ Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời!…/…ới diêu bông!” (Hoàng Cầm). Thời ấy cả thẹn vân vi mận mận đào đào không phải của thời mở cửa, thời công nghiệp hóa, thời nối mạng với toàn thế giới.. Quần bò, áo phông, la tốp, phôn tay… thì phải “Nốt ruồi nhỏ trên ngực em” đàng hoàng, kiêu hãnh. Kiêu hãnh đến độ “Em gọi đó là Anh”. Tháng năm gần gặn Vũ Thanh Hoa hơn là thế giới thơ Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh sẽ định nghĩa về người yêu của chị thế nào? Khác nhiều chứ: “Anh thân yêu, người vĩ đại của em/ Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối/ Một chút mặn giữa đại dương vời vợi”. Ba vẻ đẹp của ba thời đại chuyển luân. Thời mận mận đào đào là nón thúng ấp e, là áo mớ bảy mớ ba, là mượn lá diêu bông để nói hộ lòng mình. Thời của Xuân Quỳnh nữ sĩ là vẻ đoan trang của người đàn bà luôn nhận mình thua thiệt. Nhưng, thời của Vũ Thanh Hoa là thời người đàn bà mạnh mẽ “Trong em có người đàn bà khác”.

Trước thời mở cửa, trước thời công nghệ thông tin tặng cho con người cái công năng vô biên của nó thì Hoàng Cầm phải đi tìm bóng hình người thương cô lẻ quá:

“Nếu có ngày mai anh trở gót
Quay về lãng đãng bến sông xa
Thì em còn đấy hay đâu mất?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà
(Nếu anh còn trẻ)

Còn thời @, thời Vũ Thanh Hoa chỉ cần:

“Dỗi lòng ảo ảnh thôi mà
Mong manh nối mạng như là chiêm bao
Đường truyền bất chợt chênh chao
Cúi đầu mật mã gánh bao la buồn”
(Lục bát internet)

Thế là một cái cô đơn một cái buồn bã của anh đi bộ, quá lắm là cưỡi cái xe đạp Sít – tẹc- linh. Còn một cái cô đơn, cái bất chợt buồn không kịp bã hôm nay là la tốp và siêu xe bao nhiêu là nhãn hiệu.
Nhưng chớ vội chì chiết rằng thời la tốp và siêu xe người ta lòng dạ khô ngói và quá nhiều vô cảm. Tất nhiên có nhưng đâu phải loài thi sĩ. Người thi sĩ mọi thế hệ đều dễ buồn, buồn nhân bản:

“Nhận dòng tin nhắn vu vơ
Lặng mình ngơ ngẩn bây giờ… ngày xưa
Chợ chiều tất tả bán mua
Một mình xuôi phố mưa lưa thưa
… buồn
(Lục bát phố)

Tôi tìm vào thế giới thơ Vũ Thanh Hoa càng nhận ra mình bảo thủ. Thời đại công nghiệp hơn nhưng cũng thực dụng hơn. Thời đại tốc độ hơn, nhanh yêu và cũng có thể chóng tàn. Một thời đại có thể thổi lệch mọi giá trị. Mà mình khư khư níu lại thời gian đã mất thì chính mình rất có thể biến mất. Anh là con chim vặn dây cót, có thể, nhưng anh là metal toys hay là con chim đầy sức sống có tiếng hót của họa mi lại là chuyện khác.Thơ Vũ thanh Hoa hiện sinh hơn, bắt kịp, đúng lúc, hòa vào chứ không chối bỏ đương đại. Nữ thi sĩ biết tiếp nhận những biến thiên và cả biến thái, bình tĩnh và gọi tên nó vang lên trong thơ mình: “Em giật mình tỉnh dậy/ giấc mơ ngủ lại trên giường/ mặt trời lay/ đồng hồ gọi/ tích tắc em trôi vào phố đông/ những đứa bé trên phố đều giống con em/ những người đàn bà trên phố đều giống em/ vội vã/ nặng trĩu/ lập trình”. Nhưng, Hoa biết tìm ra sự cân bằng của chính mình trong cái thế giới tốc độ ấy: “còn xanh trời và trắng mây yên ả/ lá rơi/ vàng hoe phố/ thu/ xa…” (Phố lá). Thật hay, nhịp thơ ngắn, gọn, cô quánh, nhanh, hiện đại, mà vẫn gợi, điều đó rất rõ. Tôi không theo kịp và chậm dần rồi thở dốc trong nhịp sống ấy. Nhưng may thay Vũ Thanh Hoa đã chỉ dẫn cho tôi rằng những người đàn bà trong thế giới công ngiệp và thực dụng hôm nay vẫn nguyên vẹn trái tim biết yêu và… dễ mủi lòng, chỉ có cách yêu có lẽ nhanh hơn, cuống quýt hơn và khang khác mà thôi: “khi em hờ hững lạnh lùng/ trong em có người đàn bà khác”… “khi em nói lời đắng cay/ trong em có người đàn bà khác”…”khi em nói lời chia tay/ trong em có người đàn bà khác”. Không! Em thề là không,thực ra em vẫn là người đàn bà yếu lòng, nên: “người đàn bà nồng nàn hơn lửa/ muốn đốt cháy anh”…”người đàn bà mong manh yếu ớt/ muốn khóc trên vai anh”… “ngưới đàn bà muốn ôm anh thật chặt/ vùi anh trong biển mưa hôn” (Trong em có người đàn bà khác). Đây là bài thơ xứng đáng chọn vào tuyển tập thơ tình.

Trong bài “Phố thở” lại là một bài thơ gọi đúng cái nhịp điệu quá nóng hôm nay. Tôi thích bài thơ vì nó vẫn cứ là thơ tình theo cách Vũ Thanh Hoa. Nghĩa là dù thế nào, nói điều gì thì chất liệu trữ tình, ngôn ngữ biểu cảm trữ tình, thi ảnh trữ tình vẫn là chủ thể. Không phải ai cũng viết được thơ tình theo cách ấy:

“mở cửa ngày
sáng nghe phố thở
những mặt người kín mít khẩu trang
tay đeo găng
đầu bảo hiểm
Em lẫn vào thế giới mộng du
múa theo điệu valse của nộm
cười nụ kĩ thuật số
phát âm lập trình

Nhưng chỉ gọn ba câu: “trả khói bụi về màn hình computer trắng/ đêm nghe phố thở/ em lạc trong giấc mơ anh” là lập tức nguyên vẹn thơ tình- thơ tình hiện đại và mới mẻ Vũ Thanh Hoa.

3.
Trong một lần về quê mấy năm trước, tôi có dịp dự một tiệc văn mini với vài nhà thơ đàn chị, đàn anh ở Hà Nội. Đêm ấy lạnh buốt, gió bấc vỗ và rít qua khe cửa kính nhỏ mà tiệc văn có nóng lên bất chợt . Có nóng không vì rượu, tôi vốn miễn nhiễm rượu. Các anh, chị đêm ấy cũng không ai quá chén. Mà khổ quá, viêm túi triền miên đâu dễ lu bù. Nói như người Nam, quá lắm vài xị đế. Cái nóng bất thình lình vì một nhà thơ bỗng nói: Cánh trẻ bây giờ nhiều đứa mình hãi quá. Mình mới viết một bài phê bình tháng trước, cũng chỉ là điểm qua loa một số câu thơ làm tình làm tội ngữ pháp và quá gợi dục, dẫn bình mấy câu thơ nhàn nhạt nói về cái buồn chả biết buồn gì, thế là cô ta lên blog nhảy dựng viết bài sỉ vả, có ghê không! Bạn văn cười ồ nêm vui chút ớt tỏi, tuy thực chất không ai ác ý. Chỉ hơi lạ là không có sự bình tĩnh lái đi làm cho lời chê sục sạo sang đàm tiếu những sinh hoạt ngoài văn chương. Tôi, kẻ đi sau, lại trú tỉnh lẻ, đành giữ miệng. Quả là thi thoảng cũng có những phản ngôn thái quá. Cô nọ khăng khăng từ chối giải thưởng nọ. Chị kia phân phát mấy trang đánh máy ngay Đại hội Nhà văn, kèm một ông văn trẻ trai tốt mã tháp tùng phấn chấn. Kể ra người đàn anh buông lời phàn nàn cũng là dễ hiểu. Vì ông bức xúc. Tôi là nhà thơ chả có thành tựu gì, tuy nhiên ngoài sự ứng xử quả có cương thái, tôi nghĩ, thời buổi dễ dàng công bố tác phẩm và văn chương mạng bùng nổ, xem ra vẫn ít cái sự đọc nhau chu đáo và hệ thống cho đến nơi đến chốn. Ấy là chưa kể có không, cả sự ngộ văn (tôi không viết: ngộ nhận). Mà ngộ văn đâu chỉ lớp trẻ!

Tôi không trung dung. Sách in la liệt, cho, biếu, tặng là chính. Tuy thế cũng có đọc chứ. Vẫn cố đọc cả trẻ lẫn già khi kiếm được sách. Mình là anh nhà thơ quê lại trú tỉnh lẻ, cũng cố gắng đọc để bớt ngu. Tôi cứ nghĩ cảm tính thế này: Cuộc cách tân văn chương xin đừng khe khắt. Nó là tất yếu, chưa bao giờ ngừng, sẽ là mãi mãi khi loài ngưới còn cần văn chương. Song hành với tất yếu ấy luôn là sự cố gắng thử tìm ra cách diễn đạt khác đi, nên diễn tiến ấy chênh chao đôi chút, cả thi hình, thi ảnh, nghữ pháp, văn ngôn có khi nghịch nhĩ ngược quán tính, cương sốc bất thình lình trong một số tác giả trẻ quãng tuổi nào đó chứ không là tất cả.

Vũ Thanh Hoa viết:

“góa phu
kí sinh hoài niệm
non nõn mộng hoa
nhập nhòe vàng hiu cuống lá
hổn hển hồi sức những chùm lông tơ
thoi thóp mọc trên vết rạn của kỳ sinh nở”
(Kí sinh)

Đọc đoạn trích này, chắc người đàn anh của tôi trong tiệc mini bữa nọ sẽ đăm chiêu. Nó sex à? Đã “Hổn hển hồi sức những chùm lông tơ” lại còn “Thoi thóp mọc trên vết rạn của kỳ sinh nở”. Nó tả “cái kia” à? Dạ thưa không. Khi Hoa viết tiếp “chuốt búp măng/ những móng tay xây xát nợ nần/ đánh phấn tô son/ nhằng nhịt chân chim nơi chân trời bí mật/ vớt mùa/nhớ/ quên/ vương vãi/ ký sinh trườn dậy/ ký sinh dãy chết/ hoài niệm vỡ tan giữa viện bảo tàng” sao lại bảo nó tả cái kia? Người đàn bà muốn quẫy thoát khỏi kiếp buộc vào sống ký đấy ạ. Nếu đọc tiếp đoạn kết tái tê của bài thơ: “góa phụ âm thầm/ đếm/ mảnh/ vết thương” (Ký sinh), rõ những thằng sở nó gây ra sự hồi tỉnh và công phẫn đấy ạ. Chưa bàn đến hay, hay chưa hay theo tiêu chí quán tính. Ngôn ngữ thơ trẻ gắt chói lên như thế, vì bóng tối ê chề là trơ trẽn có thật. Những bóng tối tàn nhẫn mang khuôn mặt nhơn nhơn cần vả cái bốp. Cần thứ thơ với biểu đạt mạnh có lẽ phải thế. Mới và vì sao không hay. Tôi ao ước học hỏi cách mới của thơ. Nhưng không làm được! Vậy quán tính của tôi có chịu vỡ ra để nhận lấy và có nên khư khư quán tính?

Ở bài thơ “Nỗi buồn mặc định” Vũ Thanh Hoa viết như có thể hát lên, câu thơ rất ngắn, mát rượi và đẹp tinh vi, ấm nóng và nồng nàn dư ba:

“em nắm tay em
thầm thì gió gọi
mây đổ xuống chiều rưng rức mưa”

Rồi Hoa lại viết:

“úp mặt vào yêu
em đọc kinh sám hối
xin từ bi về ngụ cư
nhắm chặt mắt
người bước đi
bóng lại trở về”

Khi tự họa, cũng là lúc Vũ Thanh Hoa vừa nhìn thấy thực mình và bóng hồn bằng thi điệu cùa một nữ sĩ còn trẻ nhưng đã mang vấp vỡ vừa của ngoại cảnh vừa đoan dị số phận. Nhịp thơ trầm đi, nhạc thơ nhiều quãng lặng, nhưng thi ảnh, thi hình đậm đặc tâm hồn đa cảm, như nến cháy dịu dàng: “tôi vẽ hình nhân tôi/ bóng đổ dài bức tường lạnh/ tôi khóc tôi cười/ hình nhân thinh lặng/ tôi hao mòn/ hình nhân tinh nguyên/ tôi đếm trên tay những sợi gân xanh/ chằng chịt mùa thay giấc/…tôi cúi đầu thay áo/ hình nhân bất tận son môi”. Nhà thơ trẻ không giả chữ hay che đậy chữ lên thông minh, vì thế: “tôi vẽ hình nhân tôi/ tôi gặp bóng/ tôi gặp bão/ tôi gặp mùa”. Cảm xúc như sóng lớp trong lòng nữ sĩ, chao… và ru.

Vũ Thanh Hoa muốn đi tới gốc giấc mơ số phận mình, nên :”trong giấc mơ đêm qua/ tôi cầu hôn/…tôi kết một chiếc nhẫn/ đeo vào ngón tay mình/ tôi nói: đồng ý”.(Lời cầu hôn đêm qua). Rất nhiều bài thơ trong tập thứ 3 đắc dụng một kết cấu thi ảnh linh động, gợi nghĩ, đan cài không diễn ngôn thuần, chủ động hé một không gian mở cho bạn đọc thoại cùng nhà thơ.

Cuộc hôn nhân với thi ca là đừng từ hôn chính mình. Vũ Thanh Hoa là một trong những tiên phong của cuộc đi không dễ dàng này.

Thơ Vũ Thanh Hoa không chối bỏ cách chọn và tiếp nhận tinh hoa của người đi trước. Những cung bậc trong thơ nữ thi sĩ đã và đang gọi tên một giọng điệu riêng, đa thanh và đa sắc.

Tôi cố gắng tìm hiểu hướng cách tân của nữ thi sĩ, dù biết rằng 182 bài thơ của ba thi tập mở hàng là thách thức cám dỗ. Bài viết còn đại cương này chỉ là mới khởi đi việc tìm những hạt vàng vừa thấy. Hy vọng sẽ trở lại với các bài viết chuyên đề, các lời bình một hoặc nhiều bài thơ cụ thể đối với khu vườn Thơ Vũ Thanh Hoa!

Vĩ thanh riêng

Anh Đỗ Hằng!

Tôi vừa dạo rón rén vườn thơ Vũ Thanh Hoa. Bỗng nôn nao nhớ anh. Cái ngày thu năm 1986, nắng biển còn gắt, trong cái khuôn viên Sở Ngoại vụ Đặc khu khi ấy anh dúi vào tay tôi mấy gói thuốc lá Sài Gòn, cái món khói hiếm quý cho cánh phóng viên hay viết đêm sở hữu đặc sản chuyên dụng là Mai, Đà Lạt đen. Con bé nó chạy ào vào như cơn gió, tóc tai bã bết mồ hôi, cười như nắc nẻ, khoanh tay “Em chào anh! Con chào ba!” rồi nó lại chạy biến đi chơi. Anh cười cười: Con gái cưng đấy… hiếu động lắm, chả biết mai sau thế nào!

Anh ạ! Vũ Thanh Hoa đã là một nhà thơ. Tôi không nói quá lên nguyên nghĩa của từ này. Vũ Thanh Hoa sinh ra là cho thơ. Vũ Thanh Hoa có thể không tiếp nối ba và mẹ làm nhà ngoại giao, nhưng xin anh thật vui, cô con gái nuông cưng của anh đang nối những tâm hồn con người với con người. Ngày nào anh từng nói vui khi bắt thóp tôi có làm thơ qua loa, rằng: Những nhà thơ chính là những nhà ngoại giao cao quý. Anh nói đấy nhé! Tôi vẫn nhớ cái cách anh nói tinh tế và động viên cho đứa em đỡ ngượng khi bất chợt biết tôi đang vật vã vần điệu cho một bài trám báo với chữ nghĩa tàng tàng.

Hoa đã tự mở lối, dù lối ấy còn đâu đó chút gợn sự chưa thật hoàn hảo giữa cái công viên thi ca khổng lồ, lộng lẫy, đã chi chít những con đường lớn nhỏ. Lại nhớ một hôm anh sang buổi đêm soát lại một bài anh viết theo đặt bài của tòa soạn. Phút nán lại chuyện phiếm với chúng tôi, anh hỏi: Các cậu nghĩ nên ví sự có khác nhiều ít giữa các thế hệ như thế nào? Mỗi người nói một cách ví theo liên tưởng riêng. Thấy tôi chỉ cười, anh nhắc vui: Hoàng Quý chớ đánh trống lơ, cậu nghĩ thế nào? Tôi nói đại: Em nghĩ như cầu Thăng Long công nghệ bê tông với cầu Long Biên, cầu Tràng Tiền chủ yếu là sắt thép. Anh cười lớn, Thú vị, rất thú vị…

Giờ mác nhãn nhà thơ, lại đang viết về nhà thơ kế cận là con gái cưng của anh, thật không ngờ câu trả lời tam toạng cho vui khi ấy lại có nghĩa, như anh nhận ra trước và kêu to: rất thú vị. Nhớ lại chi tiết ấy, thú thật trong khi viết ít dòng về Thơ Vũ Thanh Hoa lại nghĩ những thế hệ cây cầu. Qua dòng chảy không dễ sống sót của thơ từng là các thế hệ lớp lớp đã bắc những cây cầu định mệnh. Có lẽ vẻ đẹp của các thế hệ những cây cầu cũng có điểm gì đó liên đới anh ạ. Thơ – cầu kim loại mang vẻ đẹp cổ điển hay là có thể ví với Long Biên, Tràng Tiền. Thơ – cây cầu kềnh càng hơn nhưng đẹp chứ, mạnh mẽ chứ, có thể ví với Thăng Long và nhiều nữa. Thơ – cây cầu công nghệ mới cần đổi thay, hay ta tạm ví là cầu dây văng tinh khôi Mỹ Thuận chăng. Nếu anh vẫn chia sẻ với cách ví von hồi nào thì anh ạ, Vũ Thanh Hoa hôm nay đang vừa là người thiết kế, vừa là người thợ thi công thêm một cây cầu dây văng mang tên Vũ Thanh Hoa. Phải suy nghĩ không ngừng nghỉ, ma ám, với cảm xúc bùng nổ và tìm hệ mĩ cảm mới, để có thể dần bắc một cây cầu thi ca mới tới bờ hun hút mà người yêu thi ca chờ đón trên dòng thi giang nhiều bất trắc. Nếu coi nó như một lối đi, một con đường thì tôi đã ghi sự ước định phần nào ở tên bài viết.

Thưa anh! Cây cầu ấy, lối đi ấy đang vút đi. Nếu ta coi mỗi bài thơ đạt tới ngưỡng hay, mới mẻ là một nhịp vừa bắc, hoặc một đóa thảo thi để lại trên lối vừa mở, thì Vũ Thanh Hoa đã làm được:

Cuối năm dọn nhà
thấy mình trong tấm ảnh cũ
thấy mình trong chồng sách cũ
thấy mình trong câu thơ cũ
thật lạ
cuối năm dọn nhà
thấy người trong tấm ảnh cũ
thấy người trong chồng sách cũ
thấy người trong câu thơ cũ
thật quen
cuối năm dọn nhà
nhặt nhạnh
một cũ
hai cũ
những cũ
rất nhiều cũ
nhận ra
vết sẹo góc nhà
đột ngột nở hoa
(Cuối năm dọn nhà)

Anh sẽ lại bảo: Cậu bình thế nào? Thú nhận với anh: Thêm lời bình vào nhịp hoàn mỹ hay đóa thảo thi đó nữa sao? Sẽ vô duyên… có thể!…

Vũng Tàu - Noel, 2012
HOÀNG QUÝ

__________________

1. Nhà Ngoại giao Đỗ Hằng tên thật là Vũ Thanh Hà (1924 – 1997)Ông là thân sinh thi sĩ Vũ Thanh HoaÔng tốt nghiệp Khoa triết Đại học Tổng hợp Hà Nội niên khóa 1959 – 1963. Giỏi nhiều ngoại nghữ, đặc biệt là tiếng Pháp. Là nhà ngoại giao xuất sắc từng đảm nhiệm các chức vụ ở Bộ Ngoại giao, vụ Tây Á Phi Châu, rồi Ba Lan, Tanzania.

Năm 1974, ông là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Tanzania kiêm nhiệm 5 nước Châu Phi khác: Nammibia, Botswana, Zimbabwe, Mozambique, Swaziland…

Năm 1982 ông về nước đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Sở Ngoại vụ Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo đến khi mất (1997). Đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Sở Ngoại vụ tiếp ông là người vợ, thân mẫu nữ thi sĩ – đối tượng của bài viết này.

2. Thực ra năm 1986, Vũ Thanh Hoa đã khá lớn. Cô bé con gái cưng của nhà ngoại giao tôi gặp buổi ấy gầy nhẳng, khuôn mặt như lứa trẻ còn hồn nhiên, kết bạn tất với mọi đứa bé quanh cái phố nhỏ. Còn nhớ anh Đỗ Hằng nói vui: Nhẽ tuổi hay soi gương rồi đấy chứ, thế mà gày nhom, lười ăn lắm. Anh thở dài: Cuộc sống gay go vá víu quá. Trẻ con không lớn được… Những ngày ấy cơn bão thiếu thốn sau 75 thổi bạc mặt người. Các con tôi cũng gày ốm liêu xiêu… Thật may, sự hồn nhiên và kỳ diệu trong tâm hồn trong veo của chúng thắng tất cả. Tôi những định viết rõ trong bài. Rồi thấy… không cần!

Theo NVTPHCM


Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

LINH MỤC LƯƠNG KIM ĐỊNH - TRIẾT GIA VIỆT ĐẦY TRÀN TINH THẦN DÂN TỘC

Tôi phải xấu hổ mà thú thật rằng, dù cùng là đồng hương Bùi Chu, cùng đồng đạo Công Giáo và cũng theo đuổi môn triết học với ông mà chúng tôi không biết ông là ai vì trước những năm 2000, ở miền Bắc chẳng sách vở nào nhắc đến tên ông. Gần đây, chúng tôi mới tìm hiểu về ông và thật ngưỡng mộ ông. Đó là một triết gia lớn của dân tộc Việt Nam, tràn đầy tinh thần dân tộc, tràn đầy lòng yêu nước. Ông là Linh mục Lương Kim Định.
Linh mục Lương Kim Định

Ông sinh ngày 15-6-1915 (có tài liệu nói năm 1914), tại Trung thành, Hải Hậu, Nam Định. Ông đi tu và được phong linh mục năm 1943. Ông học Triết tại Giáo hoàng học viện Alber le Grand, sau đó về dạy Triết tại Đại chủng viện Quần Phương. Năm 1947, được gửi đi học ở Học viện Công Giáo Paris (Institus de Paris) và Học viện Cao học Trung Hoa Paris (Institut des Hautes Etudes Chinoises, Paris). Năm 1958 về nước là Giáo sư Triết học Đông phương tại Học viện Bảo Tịnh, đại học Văn khoa Sài Gòn, viện đại học Vạn Hạnh… Ông cùng vài giáo sư khác như Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Đăng Thục sáng lập ra khoa Triết học phương Đông ở Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1958. Sau 30-4-1975, ông qua Hoa Kỳ rồi mất ngày 25-3-1997 trong đau yếu, bệnh tật. Ông để lại 45 tác phẩm (không kể một số tác phẩm thất lạc) và gây ra tranh cãi cho nhiều người cho đến tận hôm nay. Nhưng dù thế nào cũng phải công nhận ông là triết gia lớn của Việt Nam của thế kỷ XX, tràn đầy tinh thần dân tộc mà như GS Trần Văn Đoàn (Đài Loan) nhận xét trong cuộc hội thảo ngày 18-1-1997: “Kim Định vượt xa Trần Đức Thảo trong lĩnh vực suy tư và trong tinh thần ái quốc cũng như sự nhiệt tâm của kẻ sỹ”. Sách báo ở Việt Nam hiện nay chỉ ghi nhận GS Trần Đức Thảo là triết gia duy nhất. Như vậy là chưa đủ và làm nghèo triết học Việt Nam.

1- Lương Kim Định là triết gia lớn

Ông không chỉ là một trong những người sáng lập ra khoa Triết học Phương Đông ở Đại học Văn khoa Sài Gòn mà còn là người để lại nhiều tác phẩm triết học sâu sắc. Trong đó, tác phẩm đầu tiên ra đời năm 1965 là cuốn “Nhân bản”, ông đã phác thảo nên một ngành triết học mới. Đó là Triết Việt hay Việt Nho hay An Vi. Ông viết:

“An Vi tương đương với an hành. Vô vi sẽ là đối cực với hữu vi. Nói An Vi chính là quân bình đang đứng giữa hữu vi và vô vi. Còn nói chung vì nó là đợt trung dung: hữu nhược vi, thực nhược hư (có mà như không, thực mà như giả). Phải tế vi lắm mới đạt được cái rất mỏng manh nhỏ bé và vô ý một chút là ngả sang hữu hoặc vô” (1).

Ông chỉ ra đặc điểm của Triết Việt, liên quan trực tiếp đến nền văn hóa phương Đông:

“Triết Việt cũng đã vươn lên đến đợt tâm linh nên đã đi từ thơ ca, vũ nhạc đến minh triết, không duy lý hay duy tình nhưng tình lý bao lấy nhau. Dẫu bên ngoài của sứ vụ đó theo như tục lệ ông bà vươn lên lễ gia tiên. Dù Thượng Đế nhân hành vươn lên Hạn Thiên “vô thành vô xứ”. Chỗ nào cũng suy ra nét song trùng dọc với ngang, trên với dưới, nhờ vậy tránh được nạn duy lý để trở nên nền triết lý nhân sinh toàn diện. Đó là nhân chủ, tức con người, không bị tước đoạt mà còn giữ được, còn làm chủ được mệnh hệ của mình” (2).

Trước đây, nhiều người tin rằng triết học chỉ có ở phương Tây, con phương Đông cùng lắm chỉ có triết lý. Lương Kim Định cũng cho rằng, Đông phương thiên về minh triết và triết lý, còn Tây phương thiên về triết học. Trong cuốn “Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây”, ông đã chứng minh khá rõ những điều khác biệt giữa Đông và Tây nhưng đã khẳng định phương Đông trong đó có Việt Nam có một nền triết học sâu sắc, biết vượt lên những hạn chế của triết học Tây phương, một nền triết học vĩ đại nhưng theo ông là một chiều hoặc duy tâm hoặc duy vật:

“Nói vắn tắt thì từ ông tổ triết học Tây Âu cho đến nay chỉ có thứ triết học một chiều thôi. Tuy cũng có những trường hợp ngoại lệ, nhưng nó chỉ như cánh nhạn lẻ loi giữa tiết đông tuyết lạnh, không làm nên được mùa xuân với muôn hoa sắc vì không được chính quyền công nhận nên đời sống xã hội vẫn nằm bẹp dưới đất như chính triết học…Thế nghĩa là văn minh Tây Âu có rực rỡ huy hoàng đến đâu, cũng mới là cái ngai vàng của Oedipe không mang lại hạnh phúc trường tồn, còn làm thui chột con mắt thứ ba, chính là tuệ nhãn nên chỉ nhìn thấy nhị kháng mà không thấy ra chỗ hòa, đành chọn một bỏ một, thành ra đủ thứ duy, mà đã duy kiểu này hay duy kiểu khác đều quanh quẩn từ 1 sang 4 và từ 4 về 1 hoài mà không tìm ra đàng thứ 3. Ôi triệt tam, triệt tam” (3).

Logic của Aristos dứt khoát khẳng định hoặc có hoặc không chứ không có dạng vừa có vừa không, tức là triệt tam. Triết học phương Tây cũng rất sâu sắc khi bàn về quan hệ của các sự vật, hiện tượng trong không gian, thời gian nhưng rất ít quan tâm đến con người. Lương Kim Định cho rằng, triết học phải lấy con người làm trung tâm. Ông viết:

“Muốn hiểu biết về con người, cần phải biết địa vị của con người trong trời đất, trong vũ trụ hay nói theo triết học là trong không gian. Nhận thấy cơ cấu Thời – Không đang sụp đổ, tác giả đi gõ cửa những nhà khoa học lớn như Enstein với thuyết tương đối trong không gian, thời gian như chiều kích thứ tư của vạn vật, rồi đi gõ cửa các triết gia hiện đại nhất như Heidegger, tác giả cuốn “ Hữu thể và thể giác”. Sau đó trở lại với Đông phương, khảo sát quan niệm chữ Thời trong Kinh Dịch, Kinh Thi, chúng ta sẽ có được sự thích thú khi nhận ra sự gặp gỡ Tây Đông trên bậc tối thượng. Chúng ta khám phá ra những ý tưởng sâu thẳm tiềm ẩn trong Tam tài, Ngũ hành, Hồng nhạn, Thái thất…Với nền triết lý của lịch pháp phương Đông, đặt nền trên huyền sử, cung cấp cho chúng ta chìa khóa để mở kho tàng bí ẩn của nền văn hóa nước nhà nhằm xây đắp một nền triết lý Việt Nam mới hợp với cảm quan của con người thời đại” (4).

Vì vậy, Lương Kim Định chủ trương xây dựng một thứ đạo đó là “Đạo Nhân”, đạo của con người. Xưa nay, các lý thuyết triết học chia ra ba loại: lấy Thượng đế làm chủ gọi là Thiên chủ. Có loại lấy vũ trụ vạn vật là chủ gọi là vật chủ. Còn ông, lấy con người là chủ nên gọi là nhân chủ. Ông đưa ra câu ca dao: “Có trời mà cũng có ta/ Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” để khẳng định, người Việt đã biểu thị ý thức nhân chủ từ lâu rồi. Tư duy đó mềm dẻo:

“Sự vật có là có, không là không nhưng với con người thì là uyển chuyển, có mà không, không mà vẫn có. Nói theo huyền số thì đó là con số 3. Tất cả túi khôn Đông phương nằm trong số 3 đó… Để thấy rõ sự uyển chuyển của cơ chế này cần đối chiếu với cơ chế Tây Âu đi theo lối 2 là 2 mà cụ thể là tư sản với quyền tuyệt đối nên chỉ có nhị đối kháng là tư sản với vô sản. Đó là đầu mối gây tai họa trầm trọng cho đến ngày nay giữa tư bản và vô sản…Chính sự bám víu nọ gây ra nạn vô sản tức cảnh huống những người không có tài sản. Đã không có tài sản tất trở nên nô lệ. Thế là trong xã hội phân ra có chủ nô, có giai cấp tiếp đến là có giai cấp đấu tranh liên tục. Trái lại Việt xưa theo lối vào uyển chuyển nên không theo tư bản hay vô sản mà theo lối bình sản tức là đứng giữa tư bản và vô sản, uyển chuyển giữa có với không” (5).

Số 3, chính là triết lý An Vi mà ông khởi xướng và có hàng trăm nhóm An Vi sau này đã thành lập theo tư tưởng của ông xuất hiện ở nhiều nước như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Pháp…Ông viết:

“Một trời, hai đất, ba người”. Ba người là một nét đặ trưng cho triết lý An Vi, coi người như một tài ngang với trời, đất nên còn gọi là “tham thông”, cả ba cùng tham dự. Nếu trời làm thì đất làm và con người cũng làm. Có làm mới tham thông, mới là một tài trong ba tài. Con người khác con vật ở chỗ tham dự, cùng làm đó nên còn gọi là nhân chủ. Con người làm chủ sự vật. Không giữ được điều đó thì là vật chủ tức con người để cho sự vật sai khiến. Ví dụ coi tiền tài sản vật cao hơn mình, hơn người, hơn những mối nhân luân. Đó là vật chủ. Còn tin tưởng vào số mệnh, định mệnh, con người không còn giữ lại cho mình quan hệ nào để có thể sửa phận mình. Đấy gọi là thiên chủ, thần chủ” (6).

Ông vẫn quan niệm triết học là một khoa học hiểu biết chắc chắn, nguyên nhân sâu xa về sự vật hiện tượng nhưng triết Tây hiểu thế giới nhưng quên biến cải con người, triết Ấn Độ thì trốn đời tìm nơi cực lạc. Để khắc phục những thiếu sót của các lý thuyết triết học trên thế giới, cả Đông lẫn Tây, theo Lương Kim Định là phải từ bỏ triết học một chiều, tiếp nhận triết học hai chiều, phải kết hợp cả vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt triết Việt phải có chiều kích tâm linh. Ông khẳng định:

“Karl Marx chê ông Hegel là đi ngược: đầu ở dưới đất, hai chân giơ lên trên nên chữa lại cho biện chứng đi hai chân lên đất thành ra duy vật biện chứng. Mao Trạch Đông đã triển khai cuộc cách mạng của ông bằng quyển “Mâu thuẫn luận” theo đúng tinh thần của Hegel và Marx. Đó là đối kháng, thiếu vòng sinh…Phương Tây đã đánh mất nét song trùng mà Heidegger gọi là đánh mất nét gấp đôi (two foldness), nên dùng làm túi, đồng hóa người với vật, biến người thành công cụ sản xuất, không thấy con người là vật linh thiêng nữa. Đánh mất nét song trùng rồi còn thấy sao được chiều kích tâm linh. Chỉ nhìn bằng con mắt duy vật thì tất nhiên con người xuất hiện như những con vật và Nhà nước tha hồ quản lý mặt hàng” (7).

Lương Kim Định cho rằng, chính số 3 làm nên sự khác biệt của Triết Việt. Từ trong các truyện thần thoại, dã sử cho đến các hiện vật văn hóa của Việt Nam như cái đình, trống đồng, cúng gia tiên… đều thấm đẫm con số 3 huyền thoại đó. Ông viết:

“Số 3 chỉ nhân chủ là người tự làm lấy vận mệnh của mình, không quá suy phục trời như duy tâm, cũng không quá phục tùng đất như duy vật mà cư xử như một chủ trong ba chủ, một tài trong ba tài: trời, đất, người. Nhờ đó con người có thêm tự do hay làm cho con người biết liên đới vô cùng mà không bị vong thân đặt tiền tài trên con người. Trái lại, con người là nhân chủ luôn biết trọng nhân nghĩa hơn tiền tài. Lập trường này bao hàm: một là có, hai là không và ba là vừa có vừa không một trật” (8).

Nói về triết gia Lương Kim Định sẽ có nhiều ý kiến tranh biện. Đây là cơ hội rất tốt, để những quan niệm của ông có dịp được đào sâu. Nói như GS Nguyễn Ngọc Bích ở Đại học Georgetown, Hoa Kỳ sẽ công bằng hơn:

“Nếu có ai hỏi tôi rằng, có nên đọc (Lương Kim Định) hay không thì tôi xin thưa ngay, dứt khoát là có. Tại sao, tại vì nếu ta không nhất thiết phải đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân loại thì cũng là của Việt Nam. Tôi nói điều này trong sự cân nhắc cũng không khác gì tôi sẽ trả lời cho câu hỏi: có nên đọc Platon hay Aristos không? Đã nhất thiết gì chúng ta đồng ý với Platon trong tác phẩm Le Republique, nhưng ai không đọc tác phẩm đó chắc chắn sẽ mất đi một mảng hiểu biết rộng lớn về triết học phương Tây. Cũng như không đọc Kim Định cũng không sao, ông sẽ từ tốn mà an vi nhưng một ngày kia, người ta sẽ tỉnh mộng nhìn thấy cái mất mát to lớn của mình” (9).

2- Một triết gia đầy tinh thần dân tộc

Đọc các tác phẩm của Lương Kim Định thấy đa số đều xuất phát từ hiện thực của Việt Nam. Từ những câu ca dao, chuyện truyền thuyết, thần thoại trong kho tàng cổ tích Việt. Từ chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh đến chuyện Nữ Oa vá trời, chuyện Quả dưa hấu…Từ chuyện của người Kinh đến chuyện của các dân tộc thiểu số như Đẻ trứng, đẻ nước, Dam Dông, sông Ba… Chuyện nào ông cũng nhình thấy triết lý sâu sắc của ông cha gửi gắm lại. Theo ông:

“Huyền thoại chính là tự truyện của một dân tộc bao hàm những kinh nghiệm tích lũy từ trong sản xuất, lao động tiên tổ kết tinh lại. Xuyên qua đó thường được kể lại bằng những nét lung linh cái sứ mệnh của dân tộc nên đó quả là những di bảo thiêng liêng chứa chấp những miền tinh thần của tiềm thức” (10).

Chỉ một đoạn đồng dao: “Phụ đồng phụ chổi/ Thổi lổi mà lên. Ba bề bốn bên/ Soi lên cho chóng…” là ông đã nhìn thấy cái ẩn ý triết lý sâu sắc của cha ông về hồ Ba Bể, nguyên lý Tam tài, nguyên lý Mẹ…những tinh hoa của triết lý Việt:

“Việt Nam đã có triết lý. Không những thế, nó có cả triết lý bình dân và nó đặc biệt ở chỗ nó không khác triết học bác học về nội dung mà chỉ khác về trình độ và ngôn ngữ. Đấy là nét đặc trưng… Bác học hay bình dân cũng thế cả chỉ khác nhau về sự trình bày để thích nghi với trình độ học thức mà thôi” (11).

Suy tư bất cứ hiện vật văn hóa nào, ông cũng nhận ra cái hồn của người Việt. Chẳng hạn biểu tượng của nước Pháp là con gà, Ấn Độ là con voi, Đức là chim ưng, Anh là sư tử. Trung Quốc trước là hổ sau là rồng. Chỉ có Việt Nam là nhận cả đôi là tiên, rồng. Người Việt cũng thích nói kép: đình đám, học hành, cưới xin. Trung Quốc chỉ có đơn âm… Về cái đình làng, ông viết:

“Cái đình có thể coi là đỉnh chót vót của nền văn minh Việt. Nền văn minh này đặt trên nền tảng gia đình, nhiều gia đình họp thành khu, xóm, ấp và đặt đến cùng là làng. Nhà của làng là đình. Đấy là nền văn hóa xây trên đất tha nhân, trời hòa, đất hòa. Nói cụ thể là hòa đạo với đời, hòa siêu nhiên với tự nhiên” (12).

Ông trăn trở về tình yêu nước nhạt phai trong một số người nhất là lớp trẻ. Chỉ ra nhiều hiện tượng đáng buồn nhưng không phải là quy tội, bắt bẻ trách nhiệm của ai mà mục đích là thức tỉnh người Việt trong cũng như ngoài nước để “gọi hồn nước về”. Cái hồn đó siêu việt không hiện hữu nhưng cũng chẳng phải vô hình như gió thổi vô hình nhưng làm lay động cây cối và người ta lại rất dễ nhận ra đặc trưng của nước Việt:

“Thực trạng tình huống nước ta mấy chục năm qua. Cũng có đủ cả việc cướp nước, bán nước và bán hồn nước. Vì có một số người vào hùa với ngoại bang làm giàu trên xương máu đồng bào và đau thương của dân tộc. Cũng từ đấy xảy ra việc nhiều người xem vào gương tiên tổ thì chẳng còn thấy bóng dáng của mình đâu nữa. Thấy sao được vì đã bị ngoại bang lấy đi rồi và hồn cũng có phải là vật cụ thể hiện ra thù lù trước mắt đâu, nhưng là cái siêu linh như ẩn như hiện, có mà không, không mà có. Nếu tấm lòng yêu nước thương nòi đã phai nhạt thì xem vào tấm gương mới mẻ là cái nước chậm tiến, lạc hậu này thấy sao được hồn nước. Nếu nước Việt không có hồn, dân tộc Lạc Việt không có tính chất đặc trưng” (13).

Khi đã định cư tại Hoa Kỳ nhưng ông vẫn canh cánh tấm lòng với nước. Năm 1989, ông thành lập hội Việt Linh chủ trương dạy tiếng Việt cho lớp trẻ con cái người Việt sinh ra ở Hoa Kỳ. Ông cũng kêu gọi thành lập các ban nghiên cứu các lĩnh vực, quy tụ những nhà khoa học người gốc Việt làm việc với nhau để có thể giúp cho trong nước những lĩnh vực còn yếu nhất là về khoa học kỹ thuật. Ông cũng quan tâm nhiều đến giáo dục nước nhà để làm sao tạo ra những thế hệ vừa thành nhân vừa thành công.

Ông cũng đưa ra nhiều tiên đoán như đến năm 4047 thì sự khác biệt Tây Đông sẽ không còn nữa mà cả nhân loại là khối thống nhất và đến năm 5047 người ta không còn chú trọng vào vấn đề kinh tế, chính trị khoa học kỹ thuật nhiều nữa mà chú trọng vào lĩnh vực tinh thần nhất là tôn giáo. Trên tinh thần dân tộc, ông đưa ra hai giả thuyết khoa học làm đảo lộn những nếp nghĩ lâu nay đã hằn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người trong đó có cả giới nghiên cứu. Ông cho rằng, cả chữ Nho lẫn đạo Nho đều do người Việt đặt ra trước rồi người Tàu mới công thức hóa lại sau nghĩa là làm cho chau chuốt, nuột là hơn. Vì thế Nho là của chung Tàu Việt và ông gọi là Việt Nho:

“ Một là Bách Việt làm chủ khu vực nước Tàu trước người Tàu. Hai là người Bách Việt chủ xướng ra Nho giáo, người Tàu chỉ làm cho hoàn bị cũng như làm cho sa đọa ra Hán Nho… Triết học của Nho giáo chính là của Việt giáo hay nói cách khác Nho là Việt, Việt là Nho và vấn đề khẩn thiết lúc này phải tìm ra phương cách khai quật lên cho bằng được đạo lý của Việt Nho. Nhất là phần cơ cấu của Việt Nho đã bị Hán Nho vùi dập. Âm dương, ngũ hành bị biến cách tới độ phù phép, còn Tam tài thì không ai nhận ra ý sâu xa của nó nữa” (14).

Khoa lịch sử khảo cổ học cũng như di truyền học ngày nay với những phát hiện mới đang chứng minh những giả thuyết của Lương Kim Định hoàn toàn không phải là hoang đường.

Có những phê phán của Lương Kim Định với triết học Mác hay Chủ nghĩa xã hội gây nghi ngại trước đây, bây giờ chính những người nghiên cứu triết học Mác xít cũng gạt bỏ nó như vấn đề mâu thuẫn đối lập, chuyên chính vô sản... Cho nên đã đến lúc cần đặt ra là tái bản các tác phẩm của Lương Kim Định và nghiên cứu về ông nhất là cho giới triết học và văn hóa, giáo dục.

Hà Nội, nhân 20 năm mất của Lương Kim Định (1997-2017)
  PHẠM HUY THÔNG


Chú thích:

1- Định hướng văn học, Ra khơi Nhân ái xuất bản, Sài Gòn 1969, tr.83-84.

2- Pho tượng đẹp nhất của Việt tộc, vietnamvanhien.net, tr.7

3- Kinh Hùng Khải Triết, vietnamvanhien.net, tr.13

4- Bìa 3 cuốn “Chữ Thời”, Ấn quán Thanh bình, Sài Gòn 1967

5- Kinh Hùng Khải Triết, Thanh niên QG, USA xuất bản 1989, s đ d, tr.15

6- Kinh Hùng Khải Triết, s đ d, tr. 42

7- Kinh Hùng Khải Triết, s đ d, tr. 6

8- Cẩm nang Triết Việt, s đ d, tr. 18

9- Báo Ngày nay số 121 ở Texas năm 1998.

10- Lời Phi lộ cuốn Kinh Hùng Khải Triết, s đ d

11- Triết lý cái đình, Nxb Hội nhà văn in lại bản 1971, Tp HCM 2016, tr.13

12- Triết lý cái đình, s đ d, tr.29-31

13- Hồn nước với lễ gia tiên, Nam Cung xuất bản 1979, http//tieulun.hopto.org, tr.2

14- Nguồn gốc văn hóa Việt Nam, Nguồn Sáng xuất bản, Sài Gòn 1973, tr.6


Nguồn: Vietcatholic.net/ VHNA

Câu chuyện văn hoá khác:



VÀI SUY NGHĨ VỀ LỤC BÁT NGUYỄN BÍNH

Nguyễn Bính giữ lại cái vỏ cấu trúc câu thơ trong ca dao, đưa vào đó tư tưởng, tình cảm mới. Chúng ta bắt gặp hàng loạt cấu trúc ca dao trong thơ ông như bao giờ, ai đem, ai xui, ai đi, có cô, bao nhiêu - bấy nhiêu, anh đi, anh về, nào đâu…
Nhà thơ Nguyễn Bính

Gần đây, vì công việc cá nhân nên tôi tìm đọc lại Nguyễn Bính, chủ yếu là lục bát. Đọc chậm, nhẩn nha kiểu “trâu gặm cỏ”, khoanh tròn, tô đậm từng câu, từng bài để tìm điều mình mong muốn. Lúc này, mới thấy những nhà làm tổng tập tác giả thật… “vĩ đại”. Thay vì phải mò mẫm, lần theo tiểu sử để truy nguyên lại các tác phẩm đã xuất bản thì giờ chỉ cần một cuốn sách là gom đủ toàn bộ sáng tác của cả đời văn, rất thuận tiện cho việc tra cứu, nghiên cứu.

Về lục bát Nguyễn Bính, mọi người, dù là trong hay ngoài giới văn chương, hẳn đều biết đến một đặc điểm phong cách nổi bật, bao trùm, đó là sự thấm đượm chất dân gian, hồn quê của dân tộc. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình ở nhiều cấp độ chứng minh tính xác thực của nhận xét trên. Tuy nhiên, khi đọc lại tiểu sử nhà thơ, trong đầu tôi chợt nảy ra một thắc mắc. Nguyễn Bính sinh ra, trưởng thành trong thời điểm Hán học đã suy tàn nhưng những bậc túc nho còn nhiều, văn chương chữ Hán vẫn có hấp lực nhất định đối với những người cầm bút. Câu chuyện về Nguyễn Bính thi dịch thơ chữ Hán với Lê Tràng Kiều, họa sĩ Nguyệt Hồ ở tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ 5 dẫu mang tính chất giai thoại nhiều hơn sử liệu nhưng đã chỉ ra một điểm rằng Nguyễn Bính là người am hiểu về Hán học. Một con người có hiểu biết như thế, sinh ra trong hoàn cảnh văn chương như vậy chả lẽ trong sáng tác lục bát chỉ thuần mang hồn cốt làng quê Việt?

Để giải đáp cho thắc mắc đó, không cách nào khác ngoài việc quay lại với lục bát Nguyễn Bính theo hướng truy tìm những dấu vết Hán học, cụ thể là việc sử dụng các điển tích, điển cố văn học. Sau khoảng thời gian “cùng ăn cùng ngủ” với những câu “sáu nổi, tám chìm” của họ Nguyễn, kết quả tìm được rất đáng khích lệ. Trong tổng số 133 bài lục bát (theo Nguyễn Bính toàn tập do Nguyễn Bính Hồng Cầu biên soạn)(1), có 14 bài Nguyễn Bính sử dụng điển tích, điển cố với số lượng trích dẫn là 20 lần. Trong 20 điển tích, điển cố văn học ấy, chỉ có duy nhất một điển tích thuộc về văn học Việt Nam, đó là trường hợp Nguyễn Bính đề cập tới tích truyện nàng Thị Kính qua câu thơ Oan Thị Kính, oán tày đình trong bài Xây hồ bán nguyệt. 19 điển tích còn lại đều thuộc về văn học Trung Quốc. Bên cạnh những điển tích, điển cố khá quen thuộc với nhiều người như Chiêu Quân cống Hồ (Chiêu Quân lên ngựa mất rồi - Một con sông lạnh), mây tần (Mây tần lạc nẻo cố hương mất rồi - Nửa đêm nghe tiếng còi tàu), Tư Mã Tương Như cầu hôn Trác Văn Quân (Người xưa đã phụng cầu hoàng - Ngọc vô duyên), thanh nhãn (Mắt xanh thiên hạ thiếu gì - Con nhà nho cũ), Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng (Đã qua sông Dịch thì thôi không về - Nửa đêm nghe tiếng còi tàu), Hạng Vũ tự ải (Phải đâu Ba Thục hay bờ Ô giang - Nam kì cùng gió cùng mưa), Đào Uyên Minh khí tiết sáng ngời (Cẩn giờ lại hóa Uyên Minh họ Bùi - Con nhà nho cũ), Ngũ Tử Tư một đêm bạc tóc (Một đêm mái tóc quá quan thay màu - Nghĩ làm gì nữa), Bạch Cư Dị viết Tì bà hành (Lệ Giang Châu thấm cho đầy áo xanh - Một đêm li biệt), Thôi Hộ đề thơ (Hoa đào nở phụ gió đông - Xin chớ Hải Đường), thanh điểu (Lòng vàng lạc cánh chim xanh - Quê tôi), Nguyễn Bính còn sử dụng những điển tích có độ phổ biến ít hơn như “phá phủ trầm chu”, “chuyện Vĩ Sinh”… Nhìn vào hệ thống điển tích, điển cố kể trên, chúng ta cũng cảm nhận được phần nào cuộc đời và tâm trạng của ông. Lang thang khắp nơi trên dải đất hình chữ S, khi ở Hà Nội phù hoa, lúc ngược lên miền núi sơn cước, khi vào ăn dầm ở dề trong cơn mưa Huế hàng mấy tháng trời, lúc vào Sài Gòn nắng chang chang mà nhớ tết, khi về Hà Tiên vãn cảnh, Nguyễn Bính không lúc nào nguôi nỗi nhớ quê. Hình ảnh vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại là gợi nỗi nhớ quê hương thầm kín trong ông. Những điển tích về Kinh Kha, Hạng Vũ, Ngũ Tử Tư, những bậc anh hùng tài danh nhưng đều thất bại trong sự nghiệp, cũng là hình ảnh của Nguyễn Bính về giấc mộng công hầu dang dở của mình. Sự tích về Thôi Hộ, Trác Văn Quân, Chiêu Quân kín đáo phản ánh những mối tình dở dang của Nguyễn Bính với những bóng hồng trong cuộc đời mình. Với việc sử dụng điển tích, điển cố với mật độ tương đối: 14 bài trên tổng số 133 bài, chiếm tỉ lệ 10,5%, Nguyễn Bính đã cho thấy lục bát nói riêng và toàn bộ tác phẩm của mình nói chung bên cạnh vẻ chân quê “hương đồng gió nội” còn mang tính... bác học. Thiết nghĩ đây là điểm cần hết sức lưu tâm trong việc nghiên cứu lục bát nói chung và thơ Nguyễn Bính nói riêng.

2. Văn học dân gian là “mã nguồn mở” để các nhà thơ lựa chọn chất liệu đưa vào trong sáng tác của mình. Với thể thơ sinh ra từ văn học dân gian, cụ thể là ca dao như lục bát, điều này là tối quan trọng. Quay trở lại truyền thống, cách tân, đưa vào truyền thống hơi thở thời đại mình là “công thức” thành công của các nhà thơ thành danh bằng lục bát. Mỗi nhà thơ lại tùy biến công thức trên theo những cách khác nhau. Tản Đà và cụ Á Nam Trần Tuấn Khải bê nguyên từ hồn cốt đến hình thức ca dao vào trong sáng tác. Với kiểu “cắt dán 100%” này, bằng nghệ thuật dụng chữ điêu luyện, Tản Đà và Trần Tuấn Khải đã tạo cho bạn đọc những “nhầm lẫn” thú vị khi coi những bài phong dao do mình sáng tác là những bài ca dao dân gian(2). Tố Hữu chủ yếu mượn ca dao giọng điệu tâm tình ngọt ngào đằm thắm với đỉnh cao Việt Bắc. Nguyễn Duy thơ hóa thành ngữ, tục ngữ thành những bài lục bát gợi cảm, vừa quen thuộc vừa mới lạ. Tre Việt Nam, bài thơ xây nền cho vị trí của Nguyễn Duy trên văn đàn, được cấu tạo từ hàng loạt câu thành ngữ, tương ứng với đó là những câu lục bát giàu hình ảnh, đượm chất trữ tình. Ví như thành ngữ Cần cù bù thông minh được ông chuyển thành hình ảnh thơ: Rễ siêng không ngại đất nghèo/ Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù; thành ngữ Cha truyền con nối được chuyển thành Chẳng may thân gãy cành rơi/ Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng; hay Năng nhặt chặt bịchuyển thành Có gì đâu có gì đâu/ Mỡ màu ít chất dồn lâu hóa nhiều… Và với riêng mình, Nguyễn Bính đã lựa chọn cấu trúc câu thơ trong ca dao. Cấu trúc câu thơ ca dao là những mô hình đã được xác lập, định hình qua hàng ngàn phép thử. Do ổn định trong thời gian dài nên cấu trúc câu thơ ca dao trở nên hết sức quen thuộc và dễ nhận biết. Nguyễn Bính giữ lại cái vỏ cấu trúc câu thơ trong ca dao, đưa vào đó tư tưởng, tình cảm mới. Chúng ta bắt gặp hàng loạt cấu trúc ca dao trong thơ ông như bao giờ, ai đem, ai xui, ai đi, có cô, bao nhiêu - bấy nhiêu, anh đi, anh về, nào đâu…

- Bao giờ chạch đẻ ngọn đa (ca dao)/ Bao giờ bến mới gặp đò (Tương tư).
- Ai đem con sáo qua sông (ca dao)/ Ai đem trăng sáng giãi lên vườn chè (Thời trước).

Chính cách làm “bình cũ rượu mới” này đã tạo nên sự gần gũi, đồng cảm giữa bạn đọc với thơ Nguyễn Bính. Cái hồn cốt làng quê trong lục bát Nguyễn Bính cũng nằm chủ yếu ở đây chứ không hẳn ở những hình ảnh mang tính biểu tượng như cây đa, bến nước, sân đình, trầu cau, con tằm…

3. Ở Việt Nam, Truyện Kiều phổ biến ngang Kinh Thánh nơi trời Tây. Trước tác của Nguyễn Du có tầm ảnh hưởng như thế nào đến các “đại gia” lục bát Việt trong thế kỉ XX? Hai trong số các nhà thơ thành danh bằng lục bát chịu ảnh hưởng Truyện Kiều nhiều nhất đều là người miền Nam, hai cái tên quen thuộc: Bùi Giáng và Phạm Thiên Thư. Chỉ trong hai tập thơ Mười hai con mắt và Bèo mây bờ bến, chúng ta đã bắt gặp hàng loạt những bài thơ có dấu ấn của Truyện Kiều như Đờn bà phụ nữ, Cậy em, Liều là vui lắm, Nguyễn Du, Của em, Thiên nhai ngẫu hứng, Vô tận, Thượng thừa, Tình yêu của Từ Hải, Thúy Kiều Từ Hải, Mười hai con mắt… Nhà thơ hoàn tục từ Phật giới Phạm Thiên Thư hâm mộ tác phẩm của Nguyễn Du đến mức dám mạo phép tác giả… viết phần hai với tên gọi Đoạn trường vô thanh, gồm 3296 câu lục bát, hơn “phần một” tận 42 câu. Đây là một truyện thơ mang màu sắc Phật giáo rõ nét, có nhiều câu thơ hay, chỉ đáng tiếc dường như bị cái tên “vô thanh”… vận vào nên ít được bạn đọc, nhất là bạn đọc phổ thông biết đến.

Trái ngược với hai nhà thơ miền Nam, Nguyễn Bính chịu ảnh hưởng rất ít, thậm chí có thể nói là không chịu ảnh hưởng từ Truyện Kiều. Trong di sản lục bát của mình, Nguyễn Bính chỉ trích dẫn Truyện Kiều đúng hai lần, đó là các câu Trời cao sông rộng một màu bao latrong bài Con nhà nho cũ và Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân ở bài Qua nhà và viết một bài tập Kiều mang tính chất ứng mệnh. Nguyễn Bính cũng tuyệt nhiên không có những bài theo dạng “cảm hoài” về nàng Kiều, Nguyễn Du như Tản Đà, Tố Hữu, Nguyễn Duy hay nhiều nhà thơ khác. Đây là một điều lạ với một người hâm mộ cụ Tố Như bậc nhất như Nguyễn Bính. Phải chăng Nguyễn Bính học theo cụ Tam nguyên Yên Đổ, “kính nhi viễn chi” với lục bát Nguyễn Du? Không hẳn, vì cụ Tam nguyên cả đời không làm một bài lục bát nào, còn Nguyễn Bính thành danh nhờ thể loại này. Sự “tránh” này theo tôi có lẽ là biểu hiện cao nhất của lòng hâm mộ. Nguyễn Du đưa lục bát lên đỉnh cao, giúp văn học Việt tỏa hào quang của mình ra thế giới. Nguyễn Bính với khả năng “viết lục bát dễ như viết văn xuôi” chắc cũng luôn ấp ủ trong mình giấc mộng Tulong văn chương ấy. Và để giấc mộng trở thành hiện thực, cách tốt nhất có lẽ là tìm một con đường đi riêng cho mình, tránh xa những ảnh hưởng từ tiền nhân. Tôi nghĩ vậy, không biết có đúng không.

ĐOÀN MINH TÂM
Theo VNQĐ

______________________

1. Tôi không tính những truyện thơ như Tì bà truyện, Tiếng trống đêm xuân…

2. Đó là các bài: 1) Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. 2) Rủ nhau thăm cảnh Kiếm Hồ/ Thăm cầu Thê Húc, thăm chùa Ngọc Sơn/ Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn/ Hỏi ai tô điểm nên non nước này. 3)  Rủ nhau xuống bể tìm cua/ Mang về nấu quả mơ chua trên rừng/ Em ơi! Chua ngọt đã từng/ Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau. 4) Chiều chiều em đứng em trông/ Trông non non biếc, trông sông sông dài/ Trông mây mây kéo ngang trời/ Trông giăng giăng khuất, trông người người xa.




Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

LÊ THỊ THANH TÂM & SỰ THỂ TẤT CỦA TRÍ TUỆ

Có 2 logic của 2 câu chuyện trong cuộc tranh luận “nên hay không nên để tác phẩm Chí Phèo trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11”.
TS. Lê Thị Thanh Tâm

Câu chuyện thứ nhất, logic về mặt giáo dục: nên chọn cái gì để có tính giáo dục liên quan đến tâm sinh lý học sinh?

Câu chuyện thứ hai, logic về mặt cảm thụ văn học: tôi không chọn tác phẩm này vì nó dở, xấu.

Những người ở hai câu chuyện này đang tranh cãi về hai câu chuyện khác nhau, với logic khác nhau.

Anh Nguyễn Sóng Hiền nói câu chuyện thứ nhất. Và những người phản đối anh Hiền đang nói câu chuyện thứ hai, hoặc giả thiết rằng anh Hiền cũng đang nói câu chuyện thứ hai. Vậy, suy ra, có một logic thứ ba nằm ở giữa là: hễ động đến câu chuyện thứ nhất thì sẽ có câu chuyện thứ hai. Nghĩa là: câu chuyện thứ hai là hệ quả tất yếu, và nghĩa là, không bao giờ có thể giải quyết câu chuyện thứ nhất, và nghĩa là: đi đường nào cũng về La Mã, nói thế nào cũng sai.

Anh Hiền không nói thay các nhà ngữ văn, cũng không “hỗn hào” gì với giới chuyên môn, rằng anh Hiền không có chuyên ngành văn học mà cũng có ý kiến. Anh Hiền được quyền đề xuất và góp ý từ góc độ một nhà nghiên cứu giáo dục.

Sự nhập nhằng đó khiến người trong cuộc “cũng tan nát lòng”. Người nói câu chuyện thứ nhất không mắc cái tội mà người nói câu chuyện thứ hai kết cho, nhưng anh ta phải chịu tội. Còn người nói câu chuyện thứ hai thì tưởng mình đang nói câu chuyện thứ nhất, hoặc cương quyết muốn hiểu câu chuyện thứ nhất thành câu chuyện thứ hai.

Và thế là có hai hệ quả: một cuộc tranh cãi mà ai cũng thấy bị tổn thương. Người yêu văn chương say đắm, nức nở với tâm sự của Chí Phèo, hoặc cảm thấy tâm đắc vô hạn với mô hình cái làng Vũ Đại năm xưa để nhận thức một xã hội đặc thù của Việt Nam thời Pháp thuộc, thời cũ mới đều bi thiết, thì thấy đau đớn như bị xúc phạm và phải lên tiếng rất quyết liệt. Người đang bàn chuyện về sự phù hợp của tâm lí, lứa tuổi khi tiếp cận kiến thức thì bị xem là tội đồ đốt đền, sinh chuyện, non nớt… Câu chuyện đầy sự chia rẽ, chia tay dữ dội này về quyền được yêu và quyền được “không yêu” đã đẩy đời sống học thuật Việt Nam sang một cánh cửa mới - nơi người ta buộc phải đối thoại với nhau một cách đau đớn. Tôi không tin có ai hả hê được trong chuyện này, và chuyện thắng thua lại càng không tưởng. Chỉ có những sự chia rẽ vô cùng sâu sắc về quan niệm giá trị. Cơn bão táp đổ lên tượng đài bấy lâu, có thể tượng đài không đổ, nhưng lộ ra rêu phong của nó bị giấu kín.

Khi Phan Khôi và Nguyễn Thị Kiêm (Manh Manh nữ sĩ) đăng đàn bảo vệ Thơ Mới, có một sự phi logic đến kì lạ. Hai người này nói về Thơ Mới rất hùng hồn, và làm thơ “mới” rất…dở, họ kiên gan dùng cái dở (thơ dở của mình) để chứng minh cái Mới (của thơ mới). Thế mà cái Mới (Thơ Mới) vẫn ra đời, tất nhiên ra đời với một thế hệ tài năng hiếm hoi, nhưng kẻ khai trí vẫn không bị bỏ quên. Trong tiểu luận tài hoa trác tuyệt “Một thời đại trong thi ca” của Hoài Thanh, ông đã hoàn toàn thể tất điều ấy. Vì ông biết rằng, những người lên tiếng động đến một điều rất nghiêm trọng của thơ ca thời ấy. Họ vẫn xứng đáng là những nhà khai sơn phá thạch, vĩnh cửu có tuổi tên trong chặng đường khai sinh Thơ Mới.

Sự thể tất có tính trí tuệ và trí thức của Hoài Thanh cắt nghĩa nền tảng học thuật trước 1945. Đó là sự thể tất rất tự nhiên, bởi khi có thể nhìn trực diện vấn đề và không cần phải bảo vệ một điều gì đó theo thói quen, thì người ta sẵn sàng thể tất. Đó là thứ phóng khoáng có được từ một tinh thần tự do nhận biết, chịu trách nhiệm về sự nhận biết của mình.

Anh Nguyễn Sóng Hiền đã viết một bài đề xướng đưa tác phẩm Chí Phèo ra khỏi chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11. Đó là một mệnh đề có vẻ gây thách thức, nhưng đằng sau nó là cả một sự thật sống về những cái đang bị dồn nén và ứ đọng trong giáo dục, cảm thụ văn học.

Anh Hiền đề xuất khá giản dị và lập luận hơi chủ quan, có phần mộc mạc, nên “nhận được” một sự chống đối không thể lớn hơn, như thể cả một xã hội nổi lên cuồn cuộn, thương tiếc anh Chí đến trào nước mắt. Nhưng nếu nhìn trực diện vấn đề của cảm thụ văn học đối với lứa tuổi và sự chênh, độ chênh (không thể không có) giữa việc tôn vinh tác phẩm Chí Phèo, dạy Chí Phèo cách đây mấy chục năm, đến việc điều chỉnh lại cách hiểu, cách cảm nhận Chí Phèo trong thời kì đương đại của thế kỉ XXI thì chắc rằng, một sự thể tất tự nhiên là hoàn toàn có thể - thể tất cho cách nói đầy sơ hở của một nghiên cứu sinh đang có sự suy nghĩ tâm huyết cho nền giáo dục nhưng chưa thể “kín kẽ”, giàu “kinh nghiệm chinh chiến” như các đấng bậc ở quê nhà.

Ý kiến đề xuất của anh Hiền, tôi muốn nhấn mạnh, là một trường hợp khoa học cần suy nghĩ chính đáng và nghiêm túc.
Hình ảnh Chí Phèo đến nhà Bá Kiến trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy

Tôi tìm lại năm câu hỏi hướng dẫn học trò hiểu về tác phẩm Chí Phèo, bao gồm:

Câu 1: Cách vào truyện độc đáo của Nam Cao và ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo.

Câu 2: Ý nghĩa cuộc gặp gỡ giữa Thị Nở và Chí Phèo và diễn biến tâm trạng của Chí Phèo.

Câu 3: Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối chung sống.

Câu 4: Nghệ thuật điển hình hóa nhân vật đặc sắc và tư tưởng nhân đạo của Nam Cao.

Câu 5: Đặc sắc trong ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ nhân vật.

Trước hết, cần phải nói rằng, không bao giờ có một cuộc chia li vĩnh viễn giữa cảm thụ văn học thuần tuý và cảm thụ văn học từ góc độ tâm lí lứa tuổi. Không ai có thể từ bỏ quy luật này, nếu từ bỏ nó thì giáo dục chẳng còn ý nghĩa bao nhiêu hoặc rất chông chênh. Vì thế, với mỗi câu hỏi trên, sẽ có cách giải thích kết hợp cả các mức độ, khía cạnh cảm thụ.

Về mặt cảm thụ văn học thuần túy, học sinh hầu hết sẽ trả lời các câu hỏi này một cách khá suôn sẻ, vì giáo viên sẽ hướng dẫn họ. Ngoài ra, câu 4 và câu 5 là hai câu hỏi hay, hoàn toàn không có gì để lo lắng, vì đó chính là biệt tài, là di sản khổng lồ của Nam Cao, đáng để học sinh học tập và hiểu thêm (dù khá khó).

Về mặt tâm lý lứa tuổi, trừ những em đặc biệt giỏi hoặc nền tảng nhận thức tốt, đặc biệt là nhận thức hư cấu nghệ thuật (tôi chắc rằng không thể là 100%) thì các em còn lại sẽ phải đối mặt với một hiện thực vô cùng méo mó và ghê rợn (từ câu 1 đến câu 3). Sau đó, các em ấy sẽ trấn tĩnh và hiểu rằng, đằng sau sự méo mó ghê rợn đó là một tâm hồn cao thượng của nhà văn, thương yêu những người dưới đáy xã hội, những người rất mong muốn làm người lương thiện.

Các em ấy sẽ cố nhớ sự cắt nghĩa này để làm bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết, thi học kì và thi đại học. Còn bản thân các em sẽ làm quen dần với những mệnh đề như: tiếng “chửi” xã hội rất có ý nghĩa, Thị Nở và Chí Phèo gặp nhau như một cặp “vừa đôi”, rồi các em sẽ ngạc nhiên sao giọng văn nhà văn bỡn cợt lạnh lùng đến thế, và rồi tiếp tục yên tâm là cô giáo nói, giọng văn (một khái niệm rất khó tư duy ở độ tuổi 16, 17) ấy thể hiện một sự cảm thương vô hạn.

Rồi khi Chí Phèo bị từ chối chung sống với Thị Nở thì tâm lý của nhân vật trở nên biến động dữ dội dẫn đến những cái chết rất thê thảm, các em học sinh tuổi hoa niên sẽ được nhắc nhở rằng Chí Phèo giết Bá Kiến không phải vì say rượu đâu, mà vì hắn nhận ra bi kịch cuộc đời và tuyệt vọng cùng cực. Một học sinh ở tuổi 17 (khung tuổi dễ bị trầm cảm và kích động) có chỉ số IQ và EQ bao nhiêu thì sẽ hiểu rằng: khi tuyệt vọng cùng cực, người ta không nên hành động như Chí Phèo? Nên nhớ, cái vô thức cũng vẫn tham gia chỉ đạo hành xử con người không thua kém ý thức là mấy. Chí Phèo đi vào vô thức - đó là điều đáng nghĩ.

Tôi chỉ làm một phép tính giả thiết đơn giản. Một lớp học có 50 em, tôi “thể tất” cho rằng 49 em đã hiểu trọn vẹn, hiểu sâu sắc, viết hay như người nghiên cứu, (lớp học trong mơ) sau khi được giáo viên “khai thị” thì vẫn còn 1 em rất khó khăn để… quên đi mọi cảm xúc, ấn tượng có phần “ghê rợn” mà tác phẩm mang lại. Một em đó nhân với bao nhiêu em nữa của mỗi lớp, và của cả nước?

Người làm giáo dục hoàn toàn có quyền đặt ra câu hỏi đó. Không có một quyền uy tối thượng nào không cho phép người ta suy nghĩ và giả thiết như thế. Người trí thức làm sang cho nhau bởi giúp nhau suy nghĩ, người ta cần phải suy nghĩ liên tục để tạo một môi trường nghĩ ngợi cho nhau và vì sự nghĩ ngợi mà đi xa hơn trong sự hồi âm chân thành về lý tưởng.

Nếu như cảm thụ văn học tách rời khỏi tâm lý học đường (tôi nhấn mạnh là tâm lý, không phải sự yêu thích thông thường hay khả năng cảm thụ) thì đó chỉ là câu chuyện của giới văn chương. Ở đây là câu chuyện của học sinh. Các em cần được chăm sóc cả về nhu cầu thẩm mỹ, nhận thức và cả sự sợ hãi, lo âu, bế tắc. Các em cần được hình dung như những con người bình thường và đi qua thời trung học như một kỉ niệm của những ngày tháng tốt đẹp, trong lành (không có nghĩa là nhạt nhẽo), chứ không phải những người sẽ thành các nhà bác học về văn chương, hiểu được cả sự sâu xa của làng quê Vũ Đại ngày ấy để… làm hành trang vào đời (!) với khung năng lực mới của kĩ năng thế kỉ XXI.

Khai phóng, lấy học sinh làm chủ, đổi mới giáo dục, những chủ đề đó, định hướng đó chắc chắn không phải đi liền với việc đưa "Chí Phèo" ra khỏi sách giáo khoa, nhưng nó được phép đặt lại câu chuyện về tâm lý giáo dục trong tiếp nhận văn học - tôi nhắc lại, nó được phép, được quyền - mà Chí Phèo là một “trường hợp nghiên cứu điển hình”. Chí Phèo là một ví dụ.

Một em bé 9 tuổi có thể tự đọc sách Những người khốn khổ của Victor Hugo (chính là trường hợp của tôi). Nhưng tác phẩm ấy, để được học và học được, cần đến 10 năm sau hoặc lâu hơn. Đọc sách, yêu và cảm thụ văn học là một chuyện khác hoàn toàn việc phổ cập giáo dục một tác phẩm, vì tác phẩm trong sách giáo khoa là một chiến lược tác động sâu rộng, gần như không có cơ hội để hối tiếc.

Tác phẩm văn học tất yếu không xui khiến người ta làm theo nó, vì nghệ thuật nói chung không phải là thông điệp hành động theo nghĩa đơn giản thô sơ (nghệ thuật là thông điệp của sự lắng đọng và sự ước lượng lại ý nghĩa đời sống), nhưng tác phẩm văn học “chuẩn bị” cho hành động. Xin đừng nói đấy là “xã hội học dung tục” hay “giáo dục học dung tục”, mà đó là nguyên lý của sự tiếp nhận văn học, là sự thật của yếu tố tác động xã hội mà nền văn học nào cũng có.

Ai biết được, trong sự “chuẩn bị” ấy, có cả những thứ bóng tối mà các em đã được biết đến quá sớm và quá khốc liệt, trong khi bối cảnh xã hội và định hướng giáo dục quốc tế đã thay đổi hơn cả thế kỉ. Dạy Chí Phèo trong thời chiến là một sách lược có ý nghĩa. Dạy Chí Phèo thời hậu chiến cũng có thể vẫn còn nhiều cảm xúc. Dạy Chí Phèo trong bối cảnh hiện nay, khi số lượng du học sinh mỗi năm tăng vùn vụt, người sống đã bớt nhu cầu “yêu, căm, chiến, lạc” và có nhu cầu thưởng thức một cuộc sống bình an, hạnh phúc trong tâm hồn thì việc giảng dạy ấy vẫn rất đáng để suy nghĩ, nghĩ đi và nghĩ lại.

Trong những kĩ năng mới của người trẻ bước vào thế kỉ toàn cầu, có mấy kĩ năng rất khó dạy, đó là kĩ năng hợp tác và chịu trách nhiệm về bản thân. Bình thường đã khó để dạy, lại thêm một hình tượng văn học sừng sững kia, có bao nhiêu em học sinh vượt qua sự trải nghiệm của anh Chí để dự cảm rằng, tiếng than vãn khẩn thiết “Ai cho tao lương thiện” sẽ còn có thêm nhiều ý nghĩa khác, ngoài ý nghĩa tố cáo tận cùng một xã hội đau thương và bế tắc.

“Ai cho tao” tức là tao có quyền đòi hỏi, không được thì tao giết? “AQ chính truyện” của Lỗ Tấn là sự phê phán nhược điểm quốc dân tính Trung Hoa. Còn Chí Phèo của Nam Cao được ưu ái vô hạn, mặc dù khoác lên mình nhiều thứ căn tính “bây giờ đang nhan nhản khắp nơi ở xã hội Việt Nam” nhưng được hiểu theo hướng “chủ nghĩa cảm thương”. Đó là sự khác biệt về tầm vóc.

Phê phán chính dân tộc mình qua hình tượng văn học hoàn toàn không giống phê phán cái gì đó bên ngoài để làm nguội hết sự phê phán dân tộc, biện minh cho sự phê phán. Sự khác biệt căn bản này khiến Chí Phèo chỉ có thể được vinh danh trên thế giới với tư cách là … “một bản sao hơi giống AQ” và mang đặc sản Việt Nam chứ không phải là một sáng tạo kiệt xuất của loài người.

Dạy Chí Phèo ở đại học là một lựa chọn chuẩn xác, khi người học đã qua tuổi 18 và được nâng đỡ một cách chín chắn bởi nền tảng vốn sống, vốn chữ nghĩa đã phần nào đủ để nhìn ra Chí Phèo như một tác phẩm có giá trị mà không bị bất kì một sự ám ảnh non thơ nào. Năng lượng của tác phẩm Chí Phèo cần được phát tiết nhiều hơn ở những vỉa tầng sâu sắc hơn, va đập với hiện thực mới nhiều hơn, và tạo ra những ẩn nghĩa thú vị hơn theo những cách đọc chuyên nghiệp, thậm chí từ góc độ so sánh văn học thế giới. Còn học sinh phổ thông đại trà, trước khi theo được những cách đọc chuyên nghiệp và tròn trĩnh, đọc trang nào cũng rưng rưng nước mắt như những người yêu văn chương, thì họ còn có thêm gánh nặng về một anh Chí bị bóp nát và uốn lượn đủ kiểu để nói cho được “số phận người nông dân bị lưu manh hoá”.

Bênh vực Chí Phèo không khó, nhân vật này càng đau khổ bao nhiêu trong thế giới hư cấu của Nam Cao thì càng có đời sống phong lưu, ngạo nghễ bấy nhiêu trong sự tiếp nhận suốt mấy chục năm qua ở Việt Nam. Nhưng đặt lại và tìm hiểu lại (dù nhức nhối) cái ảnh hưởng có thật của Chí Phèo trong đôi mắt trong suốt của người học thời nay thì không phải ai cũng muốn làm, hoặc dám làm.

Khép lại câu chuyện, tôi đặt câu hỏi: Người bàn câu chuyện thứ hai (như tôi nói ở trên) có đang chắc rằng họ đang bàn câu chuyện thứ nhất không? Nếu họ đang thực sự nói câu chuyện thứ nhất, thì một sự thể tất để có một tiếng nói tranh luận phong nhã là điều hoàn toàn có thể.

Lo lắng “mất” Chí Phèo cao hơn cả sự lo lắng cho cách tiếp nhận và hệ quả tiếp nhận của học sinh - điều đó nói lên một thực tế gì trong não trạng giáo dục? Thực tế thì, Chí Phèokhông bao giờ “mất”, một tác phẩm vĩ đại thế sao có thể mất, còn nhân cách học sinh có thể bị “chuyển biến” mà không ai hay. Và những người dạy học, sau khi “cháy hết mình” trong lớp học, trong tác phẩm, đã về nhà yên nghỉ như “người nông dân cày xong thửa ruộng của mình”, lòng phơi phới vì đã truyền đạt “cái đẹp của văn chương” đến cho các em học sinh thân yêu, thì có bao nhiêu tâm hồn thơ trẻ đang hồi hộp lo âu hoặc lãng quên vĩnh viễn một anh Chí không mấy ăn nhập với đời sống hiện tại.

Có thể sau cuộc tranh luận này, Chí Phèo vẫn được giới chuyên môn trân trọng đặt nằm yên trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, và cách giảng dạy có thể sẽ khác đi phần nào (như là mở rộng “Chí Phèo trên các trường đại học thế giới” chẳng hạn…). Điều đó chưa quan trọng bằng sự việc: đầu thế kỉ XXI, một cuộc tranh luận có thật về một tượng đài văn học hiện thực phê phán đã diễn ra ở Việt Nam.

Cuối cùng thì Chí Phèo của Nam Cao cũng được thoát ra khỏi chiều ca ngợi để đối thoại với chiều đa diện, một bước tiến và vinh dự lớn dành cho anh Chí năm nào, vốn chỉ được “nuông chiều” trong cái làng nhỏ cũ kĩ. Cuộc sắp xếp và thử sức vĩ đại này có thể sẽ mang tên tuổi Nam Cao đi xa, bay cao hơn cả những đỉnh cao mà người ta nghĩ, hoặc trở về với “một sự thật khác” của giá trị. Đằng nào cũng rất tốt đẹp cho các bên tranh luận, vì Sự thật vẫn là thứ có đời sống trường cửu, hơn mọi sự vinh danh ngọt ngào.

 LÊ THỊ THANH TÂM
Theo VNN

__________________________

Nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thị Thanh Tâm sinh trưởng ở Cần Thơ, tiến sĩ văn học, từng giảng dạy tại Khoa Văn học và ngôn ngữ Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang giảng dạy tại Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Lê Thị Thanh Tâm làm thơ từ thời học sinh, sinh viên và sau này chị còn nghiên cứu văn học Việt Nam, Nhật Bản...


Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều