Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

CƠN GẶM NHẤM DI SẢN

Nếu dừng được cơn gặm nhấm di sản trên diện rộng này, ta còn cứu được hàng nghìn di sản trên toàn quốc. Nếu không, sẽ tiếp tục có rất nhiều "Mã Pì Lèng" khác trong tương lai.

Năm 2005, tôi đến thăm một hòn đảo mà nửa thế kỷ trước, ba tôi từng đặt chân tới vào thời điểm bước ngoặt quan trọng của đời ông.

Nơi đó là Mont Saint Michel, hòn đảo gồm nhiều công trình tôn giáo cổ, rất nổi tiếng với con đường độc đạo nối vào đất liền, thường ngập khi thủy triều lên. Quần thể này và vùng biển lân cận được xem là di sản quý giá hàng đầu của Pháp, được UNESCO vinh danh "Di sản thế giới".

Ba tôi, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, từng đến thăm hòn đảo này để lấy ý tưởng và cảm hứng cho đồ án trước vòng chung kết tranh giải thưởng kiến trúc Khôi nguyên La Mã của Pháp năm 1955. Đề bài yêu cầu thiết kế một thánh đường trên hòn đảo nhỏ vùng Địa Trung Hải, với tầm nhìn có thể trở thành một di sản văn hóa trong tương lai, phục vụ hàng chục nghìn khách hành hương. Như một cơ duyên, ông đã giành giải thưởng này khi chưa đầy 30 tuổi.

Tôi có ấn tượng sâu đậm khi viếng thăm Mont Saint Michel, không chỉ vì ôn lại những kỷ niệm mà ba tôi từng kể, mà còn cảm nhận được cách ứng xử của chính quyền và người dân địa phương đối với di sản này.

Ngay từ đầu, nhà chức trách Pháp đã quy hoạch và cấm xây dựng các công trình du lịch, bãi đậu xe ở khu vực ven biển - nơi đối diện hòn đảo - để giữ gìn khung cảnh thiên nhiên sinh thái bao quanh. Tới đây, khách chỉ được đậu xe tại bãi xe chính cách đảo khoảng 3 km, trong vùng đệm của di sản, từ đó có thể đi bộ hoặc đi xe bus hay xe ngựa vào hòn đảo cổ xưa này. Đổi lại, họ được sống lại cảm xúc của người xưa khi không gian xanh sinh thái trên đảo và lân cận hoàn toàn được bảo vệ. Tất cả tập hợp các công trình tôn giáo được gìn giữ tôn tạo như hiện trạng nhiều thế kỷ trước.

Người Pháp đã xác định một không gian vùng ảnh hưởng trực tiếp đến di sản rất rộng lớn và nó cũng được bảo tồn nghiêm ngặt. Không gian di sản của công trình không chỉ dừng lại trong phạm vi 6,56 hecta của đảo. Tới 57,51 hecta không gian liền kề của khu vực ven biển nơi tiếp giáp hòn đảo cũng được bảo tồn. Toàn bộ vùng rộng lớn này bị cấm xây dựng. Nhờ đó, từ khoảng cách vài km cho đến ngay phía trước hòn đảo và từ mọi góc nhìn, người ta đều cảm nhận được trọn vẹn bức tranh lịch sử nghìn năm của các lâu đài tôn giáo nơi đây.

Đó là lý do khiến trong mắt tôi, giá trị của đỉnh Mã Pì Lèng tại Hà Giang không phải chỉ là dòng sông và sườn núi hùng vĩ mà còn là một không gian rất rộng lớn xung quanh - như chiếc áo để mặc cho di sản. Trong không gian đó, dù đứng ở đâu, ta vẫn có thể có cảm xúc đặc biệt về nơi này. Tất cả những vị trí giúp nhìn thắng cảnh đẹp nhất chính là những địa điểm phải được bảo vệ cùng với di sản, trên một cơ sở pháp lý vững chắc.

Trong câu chuyện nhà hàng 7 tầng xây trái phép trên đỉnh đèo, tôi thấy có 4 "tầng trách nhiệm". Trách nhiệm đầu tiên của chủ đầu tư do xây không phép.

Thứ hai, huyện Mèo Vạc có trách nhiệm bởi đã không dừng công trình từ manh nha, để nó ngang nhiên mọc lên. Và cũng không loại trừ khả năng ai đó có chức quyền đã dung túng cho chủ đầu tư theo kiểu, xây đi rồi sẽ lo giấy phép.

Trách nhiệm thứ ba lớn hơn thuộc tỉnh Hà Giang. Đó là trách nhiệm phải tổ chức quy hoạch của khu vực di sản và lân cận, xác định rõ khu nào không được xây dựng, khu nào xây được để phục vụ du khách, bảo tồn chỗ nào, đầu tư chỗ nào.

Mã Pì Lèng là một không gian thiên nhiên thuần khiết và tốt nhất không nên có công trình nào mọc lên ở khu vực di sản lẫn vùng ảnh hưởng của di sản. Việc địa phương có thể làm ngay là trả lại không gian cho di sản. Nếu không chọn hoàn toàn phá bỏ công trình thì chỉ nên cải tạo nó theo hướng: dứt khoát không cho phép chức năng khách sạn nhà hàng ở khu vực này mà chỉ cho phép làm điểm ngắm cảnh, dừng chân, giải khát, có nhà vệ sinh ngầm giấu kín và xử lý chất thải. Hai tầng nổi trên cùng của công trình phải bị phá bỏ. Chính quyền có thể xem xét mua lại công trình để chuyển thành điểm dịch vụ công, phục vụ khách du lịch có thu tiền.

Quan trọng hơn, tỉnh Hà Giang phải gấp rút làm quy hoạch toàn bộ khu vực, đưa ra giải pháp cụ thể và chi tiết về bảo tồn và phát triển mà không cần chờ điều chỉnh Luật Di sản vì sẽ quá chậm. Trong đó, phải xác định lại các vùng lõi và vùng đệm của khu vực, nêu rõ những nơi không được và nơi có thể xây dựng phục vụ du lịch và dân sinh, nhưng phải đi kèm các quy định khống chế về chiều cao, mật độ, phong cách kiến trúc, vật liệu, màu sắc... để không gian đô thị quanh di sản được hài hòa.

Và cuối cùng, trách nhiệm lớn nhất thuộc về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bởi thực tế, ai cũng thấy nhà hàng nằm ở vị trí đẹp nhất trong quần thể, vi phạm di sản một cách ngang nhiên, nhưng chính quyền chỉ có thể phạt lỗi xây dựng không phép chứ không đủ cơ sở pháp lý để phạt lỗi vi phạm di sản. Có kẽ hở này là do Luật Di sản hiện hành có lỗ hổng rất lớn chưa được Bộ "vá" lại.

Luật Di sản chỉ phân định vùng lõi vùng I và vùng lõi II của di sản là vùng cần bảo vệ, nhưng thực tế công trình khách sạn lại nằm ngoài vùng I và II này. Hoặc nói cách khác, phần trách nhiệm của Bộ Văn hóa rất lớn khi đã phê duyệt di sản Mã Pì Lèng, nhưng lại không xếp khu vực xây nhà hàng vào trong ranh giới vùng bảo vệ của di sản. Đáng lý ra, khu vực đặt nhà hàng nếu không được xếp vào vùng II, thì cũng phải được xếp vào vùng đệm có ảnh hưởng trực tiếp đến di sản, được sự bảo vệ của luật di sản. Bởi đó là nơi có điểm nhìn đẹp và trực diện đến di sản; và từ trung tâm di sản nhìn ra cũng bao quát nó.

Nếu điều chỉnh được Luật Di sản, chúng ta không chỉ cứu một mình Mã Pì Lèng mà còn cứu hàng nghìn di sản khác trên toàn quốc. Tôi hy vọng tất cả những di sản quốc gia của Việt Nam phải đi kèm hồ sơ quy hoạch chứ không "bơ vơ" như bây giờ. Trong đó, giống như đảo Mont Saint Michel, không gian di sản và vùng ảnh hưởng của di sản phải được bảo vệ nghiêm ngặt, kèm theo hướng dẫn ứng xử chi tiết cho mọi người. Muốn làm tốt việc gì, ta cũng phải dựa trên cơ sở nền pháp trị và thứ pháp trị đó phải được mọi người tôn trọng. Bởi nếu không thì có cũng như không.

KTS. NGÔ VIẾT NAM SƠN
Theo: VNEX



THI SĨ DU TỬ LÊ QUA ĐỜI

Trái tim nhà thơ Du Tử Lê vừa ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối thứ hai 7-10 (theo giờ Mỹ) tại nhà riêng của ông ở Garden Grove (Mỹ), hưởng thọ 77 tuổi, theo thông tin từ người nhà phát đi trên trang cá nhân trưa nay.
Nhà thơ Du Tử Lê - Ảnh: TRIẾT TRẦN

“Tôi quan niệm, mỗi cá nhân trước khi sinh ra đã được Thượng đế chọn trước một nghề nghiệp hay công việc thích hợp. Điều mà chúng ta gọi một cách nôm na là năng khiếu hay "cái khiếu". Cá nhân, tôi nghĩ tôi sống sót được tới ngày hôm nay nhờ tình yêu văn chương. Trước đây khi còn ở trên quê hương, tôi không thấy văn chương thực sự "cứu rỗi" tôi như những năm tháng tôi luân lạc xứ người... Vì thế, tôi tự nhủ, hãy viết, cứ viết cho tới ngày nào sức khỏe, khả năng không còn cho phép”- nhà thơ Du Tử Lê từng tâm sự với báo Tuổi Trẻ tháng 6-2018.

Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là nhà thơ có tiếng tại miền Nam từ trước 1975. 

Du Tử Lê tham gia giới viết văn làm báo, là chứng nhân của nhiều trào lưu văn nghệ tại miền Nam trước đây. 

Những kinh nghiệm từ quãng đời này giúp ông viết thành một số công trình có tính chất tổng thuật và khảo cứu về văn nghệ miền Nam trước 1975: Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975, Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015.

Du Tử Lê làm thơ từ rất sớm, bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.
Nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam từng yêu thơ Du Tử Lê, đặc biệt cả giới trẻ trước và sau 1975 có nhiều người hâm mộ bài hát Khúc Thụy Du vốn được nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của Du Tử Lê. 
Khúc Thụy Du được Du Tử Lê viết từ tháng 3-1968, như một phần cảm thức của người trẻ trước cuộc chiến đang lan rộng tại Việt Nam.

Du Tử Lê định cư tại Mỹ sau ngày 30-4-1975.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Du Tử Lê có hơn 70 tác phẩm đã xuất bản. Những năm gần đây, một số sách của ông trở lại với bạn đọc trong nước thông qua các đơn vị xuất bản:

- Du Tử Lê tùy bút tuyển chọn (2015)

- Với nhau, một ngày nào (tản văn, 2018)

- Trên ngọn tình sầu (tập thơ, 2018)

- Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời (tùy bút dạng hồi ký, 2017)

- Khúc thụy du (tuyển thơ, 2018)

- Giữ đời cho nhau (tuyển tùy bút, 2018)

- Chúng ta, những con đường (thơ, 2019)...

Theo ghi nhận của người trong giới, Du Tử Lê bên cạnh Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên làm nên bảy gương mặt thơ xuất sắc nhất miền Nam thời trước 1975.

Về hoạt động liên quan đến thơ, từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến đại học Harvard để nói chuyện về thơ của mình.

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Sự nghiệp thơ của Du Tử Lê từng được một học viên cao học tại Đại học Khoa học, xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là Trần Thị Như Ngọc chọn làm luận văn tốt nghiệp, nhan đề Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật thuộc chuyên ngành Lý luận văn học. 

Một số sách và bản thảo của Du Tử Lê vẫn đang được các đơn vị làm sách trong nước giao dịch với ý định sẽ ấn hành trong tương lai.

***

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry - An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Ông từng thuyết trình về sáng tạo thơ ca tại một số đại học ở Mỹ, Pháp, Đức và Úc. Ông cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành các ca khúc nổi tiếng.

LAM ĐIỀN
Nguồn: TTO



Thứ Hai, 7 tháng 10, 2019

CHÀNG KỸ SƯ YÊU BIỂN VIẾT VĂN TRƯƠNG ANH QUỐC

Trương Anh Quốc là một trong những người bạn có nhiều gắn bó với Phú Yên trong các hoạt động văn học. Sinh trưởng ở Quế Sơn, Quảng Nam, anh tốt nghiệp kỹ sư điện Trường Hàng hải, định cư tại TP Hồ Chí Minh, làm việc trong ngành vận tải biển và dầu khí. Biển cả không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là tình yêu, nguồn cảm hứng cho chàng kỹ sư trẻ sáng tác văn học mà mới nhất là tiểu thuyết du ký độc đáo “Sóng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2019.
Nhà văn Trương Anh Quốc (đứng) tại buổi giới thiệu “Sóng” 
do nhà thơ Phan Hoàng và nhà văn Trần Nhã Thụy chủ trì. Ảnh: THÁI HỌC SINH

Tiểu thuyết du ký là thể loại hiếm thấy trong văn học Việt Nam và thế giới. Và có lẽ “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc là tiểu thuyết du ký biển đầu tiên của nước ta. Tác phẩm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nghề đi biển của các thủy thủ và nhân viên tàu viễn dương, một nghề vốn rất quyến rũ nhưng cũng đầy khó nhọc và còn xa lạ với nhiều người. Đồng thời “Sóng” còn mang lại những kiến thức, vẻ đẹp của các vùng biển, vùng đất, con người ở nhiều nơi trên thế giới mà tác giả đặt chân tới bằng góc nhìn, cảm nhận tinh tế riêng biệt.

Chính những điều trên, tiểu thuyết du ký “Sóng” lôi cuốn sự tò mò của bạn đọc, nhất là giới trẻ thích xê dịch khám phá. Ngoài ra, theo nhà văn Trương Anh Quốc: “Viết “Sóng” mình chọn lối viết nhẹ nhàng, không tập trung vào xây dựng cốt truyện với tuyến nhân vật xung đột mâu thuẫn rồi đi tìm cách gỡ, mình chú trọng đến nét mới lạ của văn hóa vùng miền của bước chân nhân vật du hành bằng đường biển trải qua. Đi bằng đường biển sẽ có sự thú vị riêng, dưới đôi mắt của nhân vật - người đi biển sẽ có cách nhìn khác qua một lăng kính khác, nhất định sẽ khác với lăng kính của người du hành bằng đường hàng không hay đường bộ, đường sắt. Góc nhìn từ ngoài biển vào bờ, có cả sự mong ngóng, trìu mến và bao dung”.

Trương Anh Quốc xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm trước và nhanh chóng gặt hái thành công. Anh đã xuất bản ba tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, “Lũ đầu mùa”, “Hợp đồng chiều thứ bảy” cùng một tiểu thuyết “Biển” và bây giờ là “Sóng”. Anh cũng được trao những giải thưởng có giá trị: Giải nhì Văn học tuổi 20 lần 3 và Giải nhất Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ phối hợp Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức, giải các cuộc thi truyện ngắn của báo Sài Gòn Giải Phóng, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.

Trong số 5 tác phẩm đã xuất bản của Trương Anh Quốc thì có 3 tập viết thuần về biển là tập truyện ngắn đầu tay “Sóng biển rì rào”, 2 tiểu thuyết “Biển” và “Sóng”. Có thể nói biển đã mang lại nguồn cảm hứng lớn lao, giúp cho chàng kỹ sư trẻ sớm tự phát hiện và chọn cho mình con đường riêng để bước vào thế giới văn chương. Như lời tâm sự của anh: “Có lẽ mình may mắn khi chọn viết về biển trong lúc có rất ít người viết về đề tài này và họ không phải là người trong cuộc. Mình viết sẽ dễ dàng hơn khi ngành hàng hải đặc thù với rất nhiều ngôn ngữ chuyên ngành. Ngôn ngữ chuyên ngành tiếng quốc tế có khi không thể tìm từ tiếng Việt sát nghĩa để thay thế. Tiểu thuyết “Sóng” chỉ gói ghém trong một hành trình đi trên một con tàu, trong khi mình đã làm việc trên nhiều con tàu đi khắp nơi như thế”.
Tiểu thuyết du ký “Sóng” của Trương Anh Quốc

Hành trình để nhà văn Trương Anh Quốc viết nên tiểu thuyết “Sóng” chính là chuyến đi biển xa đầu tiên sau khi anh rời trường đại học với tấm bằng kỹ sư điện ngành hàng hải. Theo lời anh: “Chuyến tàu biển vòng quanh thế giới đầu tiên trong cuộc đời đi biển của mình đã để lại nhiều ấn tượng đẹp và thú vị. Khi đó, mỗi lần đến cảng nào, nước nào, đi bờ ra sao… khi về tàu mình đều ghi lại trong những tập giấy A4. Cũng trong chuyến đó mình mua được chiếc máy tính xách tay nên cặm cụi gõ chữ từ xấp giấy vào máy tính. Mình cũng mua được một chiếc máy ảnh kỹ thuật số bấy giờ mới ra nên quý lắm, đi bờ chụp hình về tàu lưu hết trong máy tính”.

Thế nhưng điều bất ngờ đã xảy ra. Khi Trương Anh Quốc cùng con tàu trở về nước thì chiếc máy tính đó bị trộm vào nhà cuỗm mất. Bao nhiêu công sức, chữ nghĩa, hình ảnh anh lưu trong máy bay luôn. Anh cất công tìm kiếm mua lại nhưng cái máy vẫn biệt tăm, không thể nào tìm lại được. Thế rồi một điều kỳ diệu lại đến với anh khi khởi động viết tiểu thuyết “Sóng”, đó là bao nhiêu cảm xúc hơn 15 năm trước chợt ùa về với những hình ảnh rõ mồn một.

Dù chuyến đi biển đầu tiên Trương Anh Quốc đặt chân lên hơn ba chục quốc gia, hàng mấy chục bến cảng nhưng anh chỉ chọn những bến cảng, vùng đất đã để lại ấn tượng thật sâu sắc để đưa vào tiểu thuyết du ký “Sóng”. Anh cho biết: “Mình chọn những điểm nhấn điển hình nói lên được tập tục, văn hóa của vùng ấy nhưng không sa đà vào chi tiết, tránh không đưa ra những thông tin có thể tra tìm trên gu gồ (google). Nơi đến nhiều khi chỉ là cái cớ để có câu chuyện mà thôi. Với phương châm ấy, “Sóng” nhẹ nhàng như một cuộc dạo chơi thăm thú các vùng đất mới, mỗi nơi để lại một câu chuyện thú vị nho nhỏ vậy”.

Đúng vậy, có nhiều câu chuyện độc đáo trong tiểu thuyết “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc. Chẳng hạn, chuyện về hòn đảo Tenerife cách châu Phi chưa đầy 300km và cách Tây Ban Nha đến vài ngàn cây số nhưng nó là khu tự trị thuộc Tây Ban Nha. Thật kỳ lạ. Mỗi năm Tenerife đón lượng khách du lịch quốc tế gấp mười lần số dân trên đảo. Chính quyền ưu tiên phát triển đảo còn hơn đất liền. Biển đảo gắn liền lợi ích kinh tế, du lịch cả vị trí địa lý, vùng trời lòng biển lòng đất…

Cũng ở châu Phi, theo nhà văn Trương Anh Quốc, khi tàu đi qua một hòn đảo bé tẹo thì thuyền trưởng người Pháp cho tàu tạt gần hòn đảo một chút rồi thông báo cho thuyền viên ra xem. Chỉ một thoáng, từ trong đảo có các canô chạy ra xua đuổi tàu hàng vì xâm phạm 12 hải lý chủ quyền hòn đảo. Họ phát loa thông báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp một cách kiên quyết. Bất ngờ, thuyền trưởng tàu hàng cho căng cờ Pháp lên và cũng đáp lại bằng tiếng Pháp. Vậy là mấy chiếc canô kia quay đầu vào bờ. Thuyền trưởng cùng mấy thuyền viên người Pháp cười khoái chí và tỏ ra rất tự hào. Hóa ra thuyền trưởng biết hòn đảo xa tít mù khơi tận biển châu Phi này là của nước Pháp nên trêu đùa cho vui với thuyền viên trên tàu.

Còn trẻ và còn nhiều cơ hội lênh đênh trên khắp các đại dương, chàng kỹ sư yêu biển Trương Anh Quốc nhất định sẽ tiếp tục mang lại cho bạn đọc nhiều trang văn hay và độc đáo như “Sóng”.

PHAN TẤN HÙNG
Nguồn: Báo Phú Yên



Thứ Năm, 3 tháng 10, 2019

VỀ MÃ ĐÀ NHỚ LÝ VĂN SÂM

Trở về Mã Đà sơn cước với Chiến khu Đ lừng lẫy năm xưa, nơi sinh ra tác giả Kòn Trô nổi tiếng. Không chỉ là nhà văn mà Lý Văn Sâm còn là nhà cách mạng, nhà văn hoá của Nam Bộ. Và mỗi lần nhớ tới ông là trong tôi hiện lên hình ảnh một vị thiên sứ từ chín tầng mây bay xuống trần gian nở nụ cười hiền lành thân thiện và hoá hiệp sĩ tung vó ngựa oai phong ngang dọc khắp rừng miền Đông đất đỏ kỳ bí.
Nhà văn Lý Văn Sâm

Nằm cách Tp. Hồ Chí Minh gần 100km, “Mã Đà sơn cước” nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai là vùng rừng nguyên sinh bạt ngàn rộng hơn 100.000 ha, trong đó có 32.000 ha mặt nước hồ Trị An. Vào thu, cây rừng bắt đầu thay lá. Một không gian đẹp, quyến rũ và thanh sạch.

Đây là nơi đầy huyền thoại, có nhiều di tích văn hoá, lịch sử gắn liền với Chiến khu Đ. Với từng cánh rừng hoang sơ, từng ngôi làng hẻo lánh và cả thác nước thủy điện Trị An, Lý Văn Sâm cùng với các vị tướng yêu văn hoá như Nguyễn Bình, Trần Văn Trà, Huỳnh Văn Nghệ, Bùi Cát Vũ… cũng là những huyền thoại đáng tự hào.

Đặc biệt, Mã Đà từ lâu là nguồn cảm hứng bất tận cho nhà văn Lý Văn Sâm. Ông không chỉ là người tạc dựng nên nhân vật bất tử Kòn Trô với truyện ngắn đường rừng cùng tên từ nguyên mẫu chính bản thân mình, mà tôi có cảm giác từ trong lập trình số phận của tạo hoá ông cũng đích thực là Kòn Trô, tức “con Trời”, giang hồ lưu lạc xuống trần thế hành hiệp, để rồi khi sứ mệnh hoàn thành lại biến mất trong mây bay gió lượn, chẳng quan tâm mình lưu lại gì với đời thường đua tranh hỗn tạp.

Một hành trạng phong phú và kỳ lạ

Cuộc đời Lý Văn Sâm là một hành trạng kỳ lạ trong một tính cách kỳ lạ, với một sự nghiệp cũng hết sức lạ kỳ của một con người tài hoa, một tinh thần đại nghĩa sinh từ hào khí núi sông Đồng Nai - một không gian văn hoá mang đặc thù riêng. Và nhà văn Lý Văn Sâm chính là một trong những “sản phẩm” tiêu biểu kết tinh từ văn hoá Đồng Nai lẫn miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, Lý Văn Sâm cũng là nhân vật hội đủ mọi tính cách điển hình và độc đáo của người phương Nam, mà càng tìm hiểu chúng ta càng phát hiện nhiều điều bất ngờ thú vị. Từ lòng yêu nước với tinh thần Lục Vân Tiên trước bóng đêm ngoại xâm đã đưa Lý Văn Sâm trở thành một người cộng sản tranh đấu hàng đầu trên mặt trận văn hoá, nhưng bản tính sống độc lập, tự do, phóng khoáng, ẩn dật, bất cần danh lợi vốn hình thành từ lúc còn là cậu bé rừng xanh “thâm u và cao cả” vẫn chi phối suốt cuộc đời sôi động, phong phú, luôn xê dịch của ông.

Đối với văn chương, Lý Văn Sâm là cây bút đa năng, viết nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, thơ, bút ký, tạp văn, kịch, tuồng cải lương. Cảm hứng từ quê hương văn học ở núi rừng Biên Hoà - Đồng Nai, nhưng sự nghiệp văn chương của Lý Văn Sâm lại chủ yếu gắn liền với thành phố Sài Gòn nơi ông dấn thân tranh đấu bằng cây bút và khẳng định được tài năng, vị thế của mình trên văn đàn.

Ngược dòng lịch sử văn học trước năm 1945, nếu như Lan Khai và Thế Lữ là hai cây bút “chủ soái" về thể loại truyện đường rừng ở miền Bắc, thì ở miền Nam chỉ có Lý Văn Sâm giữ vị trí độc tôn với những truyện ngắn như: Cây nhị sông Phố, Kòn Trô, Thần Ngư động… Sau Cách mạng tháng Tám, tại trung tâm Sài Gòn, với tư cách chiến sĩ bí mật tranh đấu công khai trên báo chí, nhà văn Lý Văn Sâm đã tiếp tục viết và lách, phát huy thế mạnh chủ yếu là chuyện đường rừng để gián tiếp thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và chống lại các thế lực cường quyền, ngoại xâm. Đây là chặng đường sáng tác mạnh mẽ, sung sức nhất của ông với 35 truyện ngắn, 16 truyện vừa, 11 vở kịch. Trong đó, về truyện ngắn tiêu biểu như: Thâm u và cao cả, Xác Mu Mi trên núi đá, Răng Sa Mát, Mũi Tổ, Ngăn rạch bắt sấu, Rồng bay trên núi Gia Nhang, Sương gió biên thuỳ, Nắng bên kia làng; truyện vừa có: Chiếc vòng ngọc thạch, Sau dãy Trường Sơn, Nợ nước thù nhà, Đất khách, Nga và Thuần, Vợ tôi người dân tộc thiểu số,…

Không chỉ chiếm lĩnh trường văn trận bút Sài Gòn từ năm 1947 đến 1954, mà sau đó nhà văn, nhà báo Lý Văn Sâm còn tiếp tục dùng ngòi bút tài hoa, dũng cảm của mình trong cuộc đối đầu không cân sức và trực diện với chính quyền bạo lực Việt Nam Cộng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm đứng đầu. Đỉnh điểm là truyện ngắn Chuông rung trên tháp đổ với nhiều hình tượng ẩn ý của ông đăng trên đặc san xuân Dân Tộc vào Tết Bính Thân 1956 gây chấn động dư luận.

Cũng vì sức lan tỏa của truyện ngắn Chuông rung trên tháp đổ mà nhà văn Lý Văn Sâm bị kẻ thù bắt tống giam và cùng hàng trăm đồng chí của mình tổ chức vượt ngục nhà lao Tân Hiệp ở Biên Hoà. Lý Văn Sâm may mắn thoát ra chiến khu, trong khi người bạn thân thiết Dương Tử Giang cũng là nhà văn, nhà báo cùng nhiều người khác đã ngã xuống trước làn đạn truy kích của đối phương. Từ đây, ông trở thành một trong những yếu nhân xây dựng lực lượng văn nghệ giải phóng, giữ nhiều trọng trách, dọc ngang khắp chiến khu miền Đông và cả Nam Bộ cho tới ngày đất nước hoà bình, thống nhất.
Thác nước ở Mã Đà

“Con Trời” u uẩn giữa rừng xanh

Quê nội nhà văn Lý Văn Sâm ở làng Bình Long, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà, nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Còn quê ngoại ông ở làng Tân Nhuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hoà, nay thuộc thị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Lý Văn Sâm chào đời ở quê ngoại làng Tân Nhuận và gắn bó với nó gần suốt thời ấu thơ, nên về sau trong nhiều trang viết của mình ông hay nói tới ngôi làng nhỏ này nằm bên hữu ngạn dòng sông Bé - một phụ lưu của sông Đồng Nai.

Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ lạ khi chỉ một khúc sông Đồng Nai mà hai bên bờ của nó với những làng mạc vốn xa xôi heo hút đều thuộc quận Tân Uyên xưa lại sinh ra bốn nhà văn danh vang thiên hạ: Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm và Hoàng Văn Bổn. Trong đó, Lý Văn Sâm là người có mối quan hệ đặc biệt và khác biệt với từng người trong cả ba nhà văn đồng hương. Ngoài Bình Nguyên Lộc thì Lý Văn Sâm cùng hai nhà văn còn lại đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Lý Văn Sâm đã góp phần làm rạng danh văn hoá Đồng Nai và chính hào khí sông núi quê hương và ký ức tuổi thơ đã hun đúc nên con người, tính cách và sự nghiệp của tác giả Kòn Trô. Trò chuyện với chúng tôi, ông cho hay: “Đến năm bảy tuổi, tôi mới có dịp ra thị trấn Tân Uyên, nên từ nhỏ tôi đã có tâm hồn ẩn dật. Tôi cứ ngồi bó gối ở trong nhà bà ngoại, thấy xe hơi chạy, ao ước có lúc mình được ngồi trên chiếc xe đó. Ông già tôi làm kiểm lâm và lãnh tiền xâu trả cho công nhân đốn cây. Từ nhỏ, tôi ở với bà ngoại, không có điều kiện trò chuyện với ai. Tôi trở thành cậu bé hết sức cô đơn. Một lần nhà bị cháy, gia đình ngoại tôi chạy từ rừng về, tưởng tôi bị chết cháy trong đó rồi. May có cô câm giúp việc tên là Quơn la ú ớ rồi nhảy vô cứu tôi. Nếu không có cô ấy thì bây giờ tôi chẳng còn. Lúc bảy tuổi, tôi đã biết tiếng Tây do cha tôi dạy. Hoàn cảnh sống ở chốn rừng núi âm u làm tôi hay bất mãn, chống sự bất công xã hội và thích ẩn dật”.

Vì mẹ phải tảo tần buôn bán quanh năm từ quê ra tận tỉnh thành Biên Hoà, Sài Gòn nên bà ngoại trở thành người mẹ thứ hai trong suốt bảy tuổi đầu của Lý Văn Sâm trước khi đến trường. Phong cảnh núi rừng mênh mông thâm u đầy bí ẩn đã ăn sâu vào ký ức tuổi thơ ông như sau này nhà văn tự thuật lại trong truyện ngắn tâm đắc Nắng bên kia làng: “Tôi lớn lên giữa một vùng thiên nhiên phóng khoáng, bên những người thân yêu mộc mạc, xa ánh sáng văn minh, xa tiếng nói của thị thành. Và như thế trọn bảy năm. Tâm hồn tôi là tâm hồn của những đứa trẻ nhút nhát run sợ trước cảnh bão tố đè rạp rừng già, thổi tốc mái nhà tranh khiến phần đông người trong xóm nheo nhóc như lũ chim mất ổ”.

Sinh ra trong gia đình tương đối khá giả ở vùng quê nghèo heo hút chốn núi rừng, Lý Văn Sâm đã được cha mẹ nuôi dạy ăn học với mong ước thành tài. Từ bậc tiểu học đến trung học ông trải qua các trường ở Biên Hoà, Sài Gòn rồi ngược ra tận xứ Huế. Trong bài Tôi viết văn đăng trên báo Sống Mới số xuân năm 1950 ở Sài Gòn, nhà văn Lý Văn Sâm có tự thuật:

Tôi vốn có khiếu văn chương từ năm tôi ngồi lớp nhất trường Biên Hoà. Tôi giỏi Việt văn là lẽ cố nhiên, nhưng tôi không có mộng trở nên văn sĩ sau này. Hồi ấy, tôi rất thích quyển Lời hoa của Trí Đức văn đoàn Đông Hồ tiên sinh ở Hà Tiên xuất bản. Tôi thích quyển ấy vì những ngọn gió quê, của những đồng lúa Tân Ba Biên Hoà thổi vào lòng tôi một cảm giác thơm ngọt ngọt và khởi cho tôi hồn văn của tôi một hứng thú mới. Lạ có một điều khi tôi lên học năm thứ nhất trường Lê Bá Cang, tôi không viết văn nữa. Có lẽ vì ông giáo Việt văn Trần Văn Hoàng (không phải là ông Nam Vân) hồi ấy đã khiến cho giờ học chúng tôi thành ra buồn tẻ nên chúng tôi chán là phải”.

Sau đó, Lý Văn Sâm dự định ra Hà Nội học nhưng số phận đưa ông dừng chân ở Huế học trường Hồ Đắc Hàm. Cảnh sắc thơ mộng sông Hương núi Ngự đã khơi hứng trở lại tình yêu văn chương trong tâm hồn lãng mạn của chàng trai núi rừng miền Đông đất đỏ. Rời xứ Huế trở về quê nhà Lý Văn Sâm được cha giao cai quản lò than ở Trị An. Thiếu vắng bạn bè, xung quanh chỉ cỏ cây, nước non, ghềnh thác. Buồn, cô đơn, cây bút và trang giấy trắng tình cờ trở thành người bạn tâm tình. Chàng trai của chốn núi rừng lao vào viết và viết để tự giải toả nỗi lòng. Viết bằng bản năng. Viết bằng mắt thấy tai nghe giữa thiên nhiên “thâm u và cao cả”. Viết bằng trí tưởng tượng thăng hoa “liên tài” với sự trải nghiệm của ký ức u huyền, bí ẩn… để rồi những trang văn đường rừng ly kỳ lần lượt xuất hiện quyến rũ bao thế hệ bạn đọc.

Cùng với Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm được các nhà nghiên cứu văn học đánh giá là một trong hai cây bút xuất sắc nhất ở miền Nam giai đoạn 1945-1954. Về sau ông viết ít đi, nhưng với vai trò là một trong những thủ lĩnh của văn nghệ kháng chiến miền Nam cùng với Trần Hữu Trang, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Bổng, Giang Nam, Hoài Vũ, Anh Đức… ông đã có những đóng góp quý giá khác vẫn bằng tâm thế và nghĩa khí Kòn Trô năm xưa của “Mã Đà sơn cước” huyền thoại.

PHAN HOÀNG
Nguồn: Văn Nghệ số 39/2019

XIN XEM THÊM:

·         TRÍ NHỚ CỦA DÂN TỘC
·         TÔN NỊNH ĐẠI SUY
·         TIẾP THỊ BẢN THÂN
·         NỖI OAN CỦA MÔN VĂN
·         QUANH NHÀ MÁY RẠNG ĐÔNG


Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

5 LÝ DO KHIẾN SÁCH GIẤY KHÔNG THAY THẾ ĐƯỢC

Có một thời người ta lo lắng về sự cáo chung của sách giấy khi các phương tiện giải trí điện tử ra đời như vũ bão, thời mà việc đọc sách không cần phải đến thư viện hay ra hiệu sách, nhưng những lo lắng này có vẻ hơi thừa, bởi những lý do sau đây.

Sách giấy là thứ hữu hình có thể cầm nắm, sở hữu thực sự được. Khi ai đó nói rằng mình đọc sách rất nhiều, mình có một kho sách lớn thì làm thế nào để họ chỉ ra được điều đó? Câu trả lời: trưng ra một thư viện hoặc một tủ sách cực kì lộng lẫy và hoành tráng!
Ảnh: Minh hoạ sách in giấy

Một thư viện hoặc một tủ sách lớn là thứ nhìn thấy được và rất có ý nghĩa, ít nhất là về mặt tinh thần. Với những người ham đọc sách, có điều gì sung sướng hơn việc dạo chơi trong thư viện, hoặc ngắm nhìn những quyển sách quý trong giá sách cao chất ngất trong nhà, rồi rút ra một quyển ưng ý và ngồi thư thái đọc.

Một tủ sách trong nhà chính là một thứ tài sản, một vật trang trí sang trọng cho bất cứ người nào yêu tri thức và ham thích đọc. Bạn bảo bạn có nhiều sách bằng cách đưa ra một chiếc máy tính hoặc một thiết bị đọc sách ư?

Điều này có thể chấp nhận được nhưng nó sẽ không bao giờ là một khoái cảm khi đó là những thứ không thể sờ nắm được. Có một kho sách trong máy tính cũng có nghĩa là... không có gì cả! Loài người luôn thích những thứ cụ thể, có thể sờ nắm trực tiếp. Sách giấy cho người ta một quyền sở hữu thiêng liêng mà các loại sách điện tử không thỏa mãn được.

Sách giấy là một tài sản rất có giá trị. Những quyển sách giấy ngày càng đắt đỏ hơn, in bằng những loại giấy tốt, bìa đẹp nhưng không vì thế mà người ta ngừng mua. Ngay ở Việt Nam, một quốc gia hầu như không có truyền thống ham đọc sách, số người mê sách rất ít thì vẫn có những nhóm người coi sách là tài sản thực sự. Các nhà sách chịu chơi đã thiết kế những bộ sách cho những người này.

Ngay ở giai đoạn trước những năm 1945 ở toàn nước Việt và sau đó tiếp tục tồn tại ở Sài Gòn, đã có nhà sách làm ra những bộ sách đặc biệt, in trên giấy thượng hạng, có đánh số, chữ kí tác giả để dành cho những người yêu sách, chơi sách.

Ví dụ cuốn Tố Tâm, một trong những cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên có tiếng vang lớn của văn học Việt ở lần xuất bản năm 1933, ngoài 2.000 nghìn bản in giấy xốp thông thường thì có 5 bản bằng giấy Alpha đánh dấu từ 1 đến 5; 5 bản bằng giấy Vergé Baroque, đánh chữ từ A đến E.

Còn bây giờ, sau một thời gian rất dài chỉ có những bộ sách in bằng giấy đen mủn, ít đầu tư về mặt mĩ thuật thì đã có những cuốn sách chất lượng kĩ thuật rất cao. Các công ty sách đình đám như Nhã Nam, Tao Đàn, Đông A... đã đầu tư những phiên bản sách giấy đặc biệt: bìa cứng, bìa da, giấy in thượng hạng, có đánh số thứ tự kèm chữ kí tác giả hoặc dịch giả.

Những bộ sách đó luôn có giá cao, bằng hai, ba hoặc nhiều hơn nữa so với một phiên bản sách thông thường. Tuy sách đắt nhưng vẫn có khá nhiều người muốn sở hữu những bộ sách này vì đơn giản ngoài giá trị nội dung của sách, nó là một thứ đồ trang trí cao cấp trong nhà, một tài sản có giá trị.

Nếu ai sành sỏi về sách hẳn đều biết những quyển sách cũ hay và quý luôn có giá trên trời, thậm chí một cuốn sách bằng gia sản của cả một đời người.

Cuốn sách đắt nhất có thể kể đến là bản thảo của họa sĩ kiêm nhà bác học vĩ đại người Ý: Leonardo da Vinci, cuốn Codex Leicester có giá đến hơn 30 triệu đôla Mỹ và được một trong những người giàu có và nổi tiếng nhất thế giới - Bill Gates, cha đẻ của công ty phần mềm khổng lồ Microsoft mua từ năm 1994.

Những cuốn sách có giá cả cực lớn có thể kể thêm đến tập kịch First Folio của William Shakespeare, Hiến pháp Hoa Kỳ của George Washington, Chuyện kể ở Canterbury của Geoffrey Chaucer, Các loài chim Mỹ của John James Audubon..., những cuốn sách mà nếu quy ra tiền Việt sẽ có giá trị đến hàng trăm tỉ đồng.

Những cuốn sách cũ có liên quan tới Việt Nam cũng có giá trị rất lớn và quý hiếm ví như cuốn Con rồng An Nam của vua Bảo Đại, Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes, các phiên bản cổ của Truyện Kiều...

Sách giấy có sự đặc biệt về hình thức mĩ thuật. Điều này thì chắc chắn những phiên bản sách điện tử không bao giờ có được. Một quyển sách giấy là công sức và trí tuệ của nhiều người và nếu người ta làm nó thật tâm huyết, nó có những sức quyến rũ đặc biệt.

Ví dụ, bạn đã bao giờ để ý đến chất lượng của giấy in sách chưa, có những loại rất kém ngày xưa thường dùng như loại giấy đen, mỏng, dễ ố. Giờ thì đa số giấy in sách trắng hơn và được phân thành rất nhiều loại khác nhau: ngà, trơn láng, xốp, dai... mà mỗi khi lựa chọn, người làm sách đều có những tính toán riêng cho từng đối tượng độc giả hoặc cân đối giá thành.

Lại có những chi tiết thiên về kĩ thuật cũng mang lại cho sách giấy những nét riêng biệt: font chữ, sự co giãn dòng, cách đánh số trang và đặc biệt là bìa sách. Những người làm sách chuyên nghiệp thường làm bìa rất kĩ, chọn họa sĩ có uy tín, bìa sách phản ánh trúng nội dung sách, ấn tượng và hấp dẫn.

Một bìa sách đẹp cũng góp phần không nhỏ làm thành công cho sách. Xưa kia ở châu Âu người ta đóng bìa sách bằng da thật, một thứ vật liệu rất xa xỉ cho những cuốn sách ở thời bây giờ. Hiện tại chỉ những cuốn sách đặc biệt mới được đầu tư một cái bìa da thật hoặc bìa cứng thượng hạng. Cái kẹp sách (bookmark) cũng được đầu tư, phiên bản thường là bìa giấy, cao cấp có thể bằng da...

Sách giấy mang lại cảm xúc nhiều hơn. Sách giấy mang lại những cảm xúc mà dân ghiền sách thường rất thích thú: mùi vị của giấy mới, những âm thanh sột soạt khi giở từng trang sách, những ghi chép bên lề hoặc gạch chân những đoạn thú vị. Thậm chí trong những quyển sách giấy người ta còn để những kí hiệu đầy bí hiểm. Đã có câu chuyện về  người cất giấu một gia sản khổng lồ của anh ta trong sách. Anh ta đánh số những kí hiệu bí mật đồng thời là mật mã két cất giữ một tài sản lớn ở ngân hàng.

Một độc giả mượn quyển sách ở thư viện và tình cờ tìm thấy dãy kí hiệu ở quyển sách. Cảm thấy đây là điều bất thường, người ấy đã tìm kiếm những quyển sách khác của cùng tác giả mà anh ta nghi ngờ. Sau khi tìm được tất cả các kí hiệu và dãy số cần thiết anh ta đã tìm ra tài khoản và mã két một ngân hàng.

Người đọc đó tìm đến ngân hàng và được biết chủ nhân của tài khoản đó đã mất, hiện chưa có người thừa kế. Khi mã số được tìm thấy dùng để mở két thì người ta thấy có một bức thư trong đó. Người chủ tài khoản di chúc rằng, người đầu tiên tìm thấy mã số bí mật trong những quyển sách anh ta đánh số sẽ được thừa hưởng gia tài. Và may mắn đã dành cho “mọt sách” kiên nhẫn và kì công kia.

Cuối cùng, khoa học đã chứng minh rằng đọc sách giấy khiến con người ta ghi nhớ tốt và thoải mái hơn hơn so với sách điện tử. Nhiều người đọc cho rằng các sách điện tử giống như một tệp tin mà người ta sẽ khó có những thao tác như đánh dấu, ghi chú hoặc làm một thứ gì đó mang tính cá nhân hoặc thú vui riêng lẻ. Khi cuộn các trang sách điện tử người ta ít có cảm giác được nghỉ ngơi hoặc chinh phục. Ngược lại, sách giấy mang cho ta một cảm giác rất  hữu hình.

Với tất cả những đặc điểm của sách giấy có thể nói không quá lời rằng, khi nào loài người vẫn còn những nhận thức về quyền sở hữu, về cái đẹp, thì sách giấy vẫn còn có chỗ đứng vững trong đời sống nhân loại. Và với quan điểm có phần bảo thủ, thiên về cảm xúc của mình, người viết bài này tin rằng sách giấy sẽ không bao giờ mất đi, ngay cả khi thời đại 4.0 phát triển thành 5.0, 6.0..., hay 10.0.

UÔNG TRIỀU
Nguồn: ANTG



ĐẠO “HÒA HIẾU” CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

Hiểu người để ứng xử phù hợp với người, thấu hiểu tâm địa, “đi guốc vào bụng” kẻ thù để chiến thắng kẻ thù. Đó là bài học lịch sử cha ông ta để lại cho hậu thế.

Ở bài viết ngắn này chúng tôi xin chứng minh danh nhân Nguyễn Trãi đã dựng lên một mô hình tính cách “tiểu nhân” của bọn xâm lược nhà Minh qua năm đặc trưng cơ bản: hiếu sát, ngu dốt, tham lam, dối trá, hèn hạ. Năm nét tính cách này tương phản triệt để với năm phẩm chất Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của người quân tử. Nguyễn Trãi không chỉ là quan toà công lý vạch tội kẻ thù mà còn là nhà giáo dục lớn chỉ ra những lỗi lầm của đám học trò ranh để chúng hối cải mà tiến bộ.
Chân dung danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.

Đấu tranh với kẻ thù hiểm ác, trí trá, trắng trợn nên cha ông ta luôn tựa vào những điểm tựa chắc chắn của đạo lý, của chân lý chính nghĩa, điểm tựa của một kiến văn uyên bác thật sự hiếm có, điểm tựa của sự thật lịch sử cũng như sự thật hiển nhiên trong thực tế… Vì thế ta hiểu vì sao mở đầu mỗi lá thư, chiếu, biểu thường có mấy chữ tưởng chừng công thức: “Ta nghe…”; “Ta thường nghe…”; “Cổ nhân nói…”… nhưng chứa đầy sức mạnh của lẽ phải, của sự hiểu biết, của một tấm lòng yêu hòa bình đến vô cùng. Nguyễn Trãi cố ý dùng rất nhiều từ nói về chân lý, đạo lý, chính nghĩa như "Đạo trời, Thánh nhân, đại nhân, cổ nhân, trí giả, nhân giả, nghĩa giả, vương giả, quân tử, bực hào kiệt, đạo chí thành, chí nhân, thành thực"… để đối lập gay gắt làm bật ra bản chất tiểu nhân của đối phương.

Trước hết là tội "hiếu sát". Tội này về sau được Nguyễn Trãi nhấn mạnh trong “Cáo bình Ngô” bất hủ với những hình ảnh mang tính tố cáo “nướng dân đen”, “vùi con đỏ”, “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”… Đó là tội diệt chủng. Ở đây ông vạch đích danh chân tướng Liễu Thăng “không xét thời trời, không biết việc người, chỉ lấy việc chém giết làm oai…”. Không xét thời trời là bất chấp đạo lý mà ngạo ngược, không biết việc người là bất chấp nhân luân mà tráo trở. Không chỉ thế còn “mạo hiểm tiến quân vào sâu "chuyên việc chém giết, ý định giết hết không để sót người nào”. Kẻ này hiếu sát đến mức mất hết nhân tính để trở thành loài quỷ!

Đó là tội "ngu dốt": “Bảo cho mày ngược tặc Phương Chính: Kể đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của. Nay bọn mày chỉ chuộng lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương, việc ấy trời đất không dung, người mà đều giận, cho nên liền năm chinh phạt, hằng đánh hằng thua. Thế mà không biết trước tự cải quá, lại còn bới bẩn cho thêm thối, hối sao kịp được! Huống chi bây giờ nước mùa xuân mới sinh, lam chướng bốc độc, thế không thể chịu lâu được”.

Lừa dối là ngu, giết hại kẻ vô tội là ngu, hãm người vào chỗ chết là ngu, vì đó là những việc trái với lẽ trời (trời đất không dung), lẽ người (người mà đều giận). Kẻ ngu thì không thể thấu công lý, tình người và đâu có biết đến phận mình, phận người (tự cải quá), càng không phân tích được thời tiết, môi trường (mùa xuân mới sinh, lam chướng bốc độc).

Đó là cái ngu không phân biệt được mục đích và phương tiện: “… cái nỏ nặng nghìn cân không vì con chuột nhắt mà nẩy máy…”. “Cái nỏ” dù có nặng nghìn cân cũng chỉ là phương tiện thế mà lại ngắm vào mục đích “con chuột nhắt” thì đúng là quá ngu, như… con vật vậy!

Đó là cái ngu không nhìn thấy quân ta có cả một nền văn hóa đánh giặc giữ nước: “nước An Nam binh tướng thì nhiều, tâm lực đều nhau, chiến khí càng tinh, sĩ khí càng mạnh, kẻ sĩ trí mưu, các tướng vũ dũng, chẳng khác cây rừng rậm rạp, răng lược khít nhau vậy… Thế mà không hề lấy làm lo, lại còn giương vây nói mẽ, có khác gì nhà đương cháy mà chim én còn nhơn nhơn vui vẻ cùng nhau, há chẳng đáng cười lắm sao!”.

Đó là cái ngu của những kẻ kém hiểu biết, đã không biết thời thế lại “tùy tiện”: “Các ông là tướng lão luyện của Thiên triều… Sao không xét rõ thời nghi, tùy tiện sắp việc, lui quân ra ngoài bờ cõi, sai một viên sứ giả mang một lá thư đến đây…”.

Đã không biết đến người (tri bỉ), không biết đến thời (tri thời) lại không biết đến cả mình (tri kỷ) nên thất bại là chắc chắn: “Các mặt trông mong ấy đều đã tuyệt vọng, mà quân nhân mỗi ngày một bị chết, lương thực lại hết thì các ông còn đợi gì mà dùng dằng ở lại không đi chứ? Sao mà xét việc câu nệ, mưu việc không sớm thế? Than ôi, chén nước đã đổ khó mà vét lại được nữa…”.

Nguyễn Trãi đưa ra một tương phản trời vực, một bên là “đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của” một bên là hành động của tội lừa trời dối người. Đi cướp nước người, xét đến cùng cũng là ngu:  “Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội, kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư? Nay ở nước mày, dân oán thần giận, kế tiếp đại tang, thế mà không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ, cam lòng xâm lược phương xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi”. Ở đây Nguyễn Trãi vạch cho kẻ thù thấy rõ đối ngoại đã ngu, đối nội cũng ngu nốt, ở chỗ dân tình thì oán giận, lại liên tiếp có đại tang, thế mà vô đạo, vô luân, vô pháp vẫn khởi binh xâm lược!!!

Đó là tội "tham lam" vơ vét, bóc lột tàn ác. Giặc Minh sang xâm lược cướp phá, bóc lột nhưng mồm thì rêu rao “thừa tuyên” tức vâng mệnh Thiên triều “đi tuyên bố giáo hóa, đức hóa của triều đình”. “Kỳ thực”, chúng “chỉ vụ vét vơ”, “chuyên mặt thu lượm, bóc lột lương dân, bắt kiếm ngọc tìm vàng, kiệt chằm trơ núi, đòi hỏi nhặt nhạnh, không sót thứ gì. Muốn tiền của có nhiều, thì đục khoét của dân mà lấp hố dục; muốn nhà cửa cao đẹp, thì cướp việc mùa màng để bắt dựng xây… Quan lại thương dân chúng tuyệt không có ai, mà xem dân như cừu thù”.

Về hình thức, lời văn được tổ chức theo nguyên tắc mỉa mai làm nổi bật chân tướng kẻ nói một đằng làm một nẻo đầy mâu thuẫn. Nói “yên vỗ”, “chăn dân”, “vệ dân” nhưng thực tế, chỉ “chăm bóc lột dân để sung sướng cho mình”.

Đó là tội "lừa dối". “Điếu dân phạt tội” là thương dân mà vâng mệnh trời đánh kẻ có tội để cứu dân. Nhà Minh đã lấy danh nghĩa nhân đạo cao đẹp này để cướp nước ta. Đó là tội lớn nhất, tội lừa dối trời đất, lừa dối đạo lý. Tác phẩm có trên 70 bài viết, dài chưa đầy một trăm trang sách tập hợp những lá thư luận chiến đanh thép nhưng tần số xuất hiện các chữ lừa dối, dối trá, giả dối nhiều tới 36 lần: “…tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành, đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho bọn người không tội một mai bị chết”.

Lừa dối để hại người: “Thế là ngài không những lừa dối một mình tôi, lại còn lừa dối cả hơn sáu bảy nghìn người ở vệ sở các thành”. Mang một tội ác man rợ đến cướp một đất nước nhỏ bé yêu hòa bình công lý thì chúng phải có cả một “chiến lược” lừa dối. Nhưng đã phi nghĩa và giả dối thì không thể che mắt được chính nghĩa và sự thật: “…chỉ lấy lời nói suông cùng lừa dối nhau, muốn đợi quân khác đến cứu viện như ngày trước đã làm, ngoài mặt thì hòa giải mà ngầm có mưu khác…”.

Kẻ thù có dã tâm như thế thì đương nhiên là kẻ hèn hạ. Chúng được miêu tả bằng ngôn ngữ chỉ hành vi, tính cách của loài vật nhỏ bé, nhút nhát, yếu đuối, như con cá (trên thớt), con chuột (trong xó hang), con bọ ngựa (giơ càng)… Chúng là loài chim, loài thú “chim cùng thì mổ, thú cùng thì vồ”…

Hèn đến mức thà chịu “cái nhục khăn yếm” chứ không dám đương đầu với nghĩa quân “cứ đóng thành bền giữ như mụ già là làm sao? Ta e bọn mày không khỏi cái nhục khăn yếm vậy”. “Khăn yếm” dịch thoát từ hai chữ Hán “cân quắc” chỉ đồ trang sức chung của phụ nữ. Trong "Tam quốc" có chi tiết Gia Cát Lượng làm nhục Tư Mã Ý bằng cách sai sứ đưa “cân quắc” đến, tức ví Ý như đàn bà. Trong quan niệm Nho giáo xưa, “đàn bà” thuộc “tiểu nhân” với những gì xấu xa, hèn kém, khó “giáo hóa”… Nguyễn Trãi rất hay ví quân giặc với loài chuột và “đàn bà”: “…không nên ở chúi trong xó hang cùng và bắt chước thái độ mụ già như thế!”.

Tôi cứ hình dung với tập sách này Nguyễn Trãi đã xây ngôi nhà tù cải hoá bằng ngôn từ mang tên BÌNH NGÔ có năm bức tường tính cách tiểu nhân (còn có thể gọi là Ngũ giác ngục) để nhốt bọn Vương Thông, Mộc Thạch, Liễu Thăng… Ngôi nhà này có cửa vào mang tên XÂM LƯỢC, cửa ra có tên HOÀ BÌNH…

Nguyễn Trãi đã thả chúng ra theo đạo HOÀ HIẾU của bậc đại nhân!

NGUYỄN THANH TÚ
Nguồn: VNCA



HỘI NHÀ VĂN THỤY ĐIỂN HỖ TRỢ HỘI VIÊN CỦA MÌNH NHƯ THẾ NÀO?

Thụy Điển là một trong những nước Bắc Âu có nền văn học phát triển. Trong rất nhiều nguyên nhân của sự phát triển ấy, có thể kể đến sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của Hội Nhà văn Thụy Điển đối với các nhà văn, dịch giả. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nữ văn sĩ Nga Elizaveta Aleksandrova - Zorina, chuyên gia văn học Thụy Điển về cơ chế và các hình thức giúp đỡ nhà văn ở Thụy Điển hiện nay.

Khác với nhiều hội sáng tác văn học trên thế giới, Hội Nhà văn Thụy Điển trước hết giống như một tổ chức công đoàn. Hội phí là 1700 krona mỗi năm (khoảng 170 euro), nhưng nó mang lại không ít lợi ích, đồng thời các nhà văn trẻ và các nhà xuất bản tư nhân được hỗ trợ miễn phí khi họ cần tư vấn về nghề nghiệp. Hội giúp các nhà văn tìm kiếm nhà xuất bản cho các cuốn sách của mình và ký hợp đồng với những điều kiện có lợi cho các tác giả.
Chuyên gia văn học Thụy Điển Aleksandrova - Zorina.

Hội bảo vệ các nhà văn vì những lý do nào đó bị truy nã hoặc phân biệt đối xử (điều này rất cấp thiết bởi mỗi năm ở Thụy Điển có 1/3 số nhà văn trở thành đối tượng bạo hành hay bị đe dọa, chủ yếu từ bọn theo chủ nghĩa dân tộc bản xứ), vì vậy trong biên chế của Hội có các luật sư và và chuyên gia kinh tế. Ở đây người ta thường xuyên tổ chức các khóa học, các bài giảng về những đề tài khác nhau, cấp kinh phí, cũng như tổ chức các cuộc gặp gỡ với độc giả và các cuộc hội nghị với các đồng nghiệp nước ngoài. Hội ủng hộ không chỉ nền văn học Thụy Điển, mà cả văn học dân tộc Sami, vì vậy ở miền bắc của đất nước, nơi người Sami sinh sống, người ta tổ chức các khóa dạy viết văn và những cuộc thi sáng tác văn học riêng.

Đặc biệt thú vị là mô hình cho phép một số nhà văn thu nhập thêm từ sách, số nhà văn khác sử dụng tài trợ của Hội. Nó được xây dựng với sự trợ giúp của hệ thống thư viện và sự ủng hộ của Chính phủ Thụy Điển. Nếu như ở nước Nga, khi một cuốn sách của nhà văn rơi vào thư viện, tác giả của nó không được hưởng gì, thì ở Thụy Điển với mỗi cuốn sách được mượn ở thư viện, Bộ Văn hóa trả cho tác giả 15 erocent.


Nhân tiện xin nói, trung bình mỗi người Thụy Điển mượn ở thư viện 10-12 cuốn sách, còn trẻ em Thụy Điển: 50-60 cuốn. Tổng số sách cho mượn lên tới khoảng 100 triệu cuốn/năm, số tiền phải trả cho nhà văn là 150 triệu krona mỗi năm. Nhưng không phải tất cả số tiền này đều dành cho các nhà văn có sách được độc giả thư viện đọc nhiều. Khi đạt tới một số lượng nhất định, tác giả không được nhận thêm nữa, và số tiền này được chuyển vào Quỹ Nhà văn Thụy Điển.

Ngược lại, nếu số tiền nhà văn được lĩnh quá ít, thì nó cũng được chuyển luôn vào quỹ, chứ không phải cho tác giả. Quỹ thu được gần một nửa của 150 triệu này và số tiền đó được dành ủng hộ văn học phi thương mại. Cần phải nói rằng cái cơ chế dựa trên sự đoàn kết của Hội này được tất cả các nhà văn ủng hộ, từ các nhà văn trẻ đến các nhà văn thành công về thương mại.

Từ quỹ này, các nhà văn và dịch giả nhận được tài trợ thông thường, còn các hội viên Hội Nhà văn vừa nhận được tài trợ vừa được dự các trại sáng tác ở Thụy Điển hay Hy Lạp. Tiền tài trợ bao gồm 1 năm, 2 năm và 5 năm. Số tiền tài trợ không lớn lắm, 100.000 krona mỗi năm (10.000 euro), nhưng đủ để nhà văn không bận tâm về làm thêm, hoàn toàn tập trung vào công việc sáng tác và viết những gì mình thích thú. Khác với các nhà văn nhận tài trợ 5 năm, các nhà văn nhận tài trợ 1 năm và 2 năm không phải đóng thuế.

Tất cả mọi người đều hiểu rằng cần phải phân phối tài trợ một cách trung thực và vô tư. Vì vậy các thành viên Ủy ban tài trợ thường xuyên thay đổi. Nếu ai đó trong số những người ra quyết định phát hiện trong danh sách các ứng cử viên có người quen của mình thì anh ta ngay lập tức rời khỏi phòng hội nghị. Nói chung, toàn bộ hệ thống được xây dựng từ các cấp riêng biệt và không phụ thuộc lẫn nhau (Hội Nhà văn, Quỹ Nhà văn, Ủy ban Tài trợ, Trung tâm Văn bút) đều nhằm mục đích bảo đảm tính khách quan và sự minh bạch, đồng thời không để xảy ra tham nhũng và tư tưởng gia đình chủ nghĩa.

Mỗi năm, Ủy ban Tài trợ nhận được từ 1.000 đến 1.500 đơn xin tài trợ, trong số đó có 300 người được chọn. Điều thú vị là để nhận được tài trợ này không nhất thiết phải là hội viên Hội Nhà văn Thụy Điển. Tiêu chuẩn duy nhất, quan trọng để tham gia chương trình này là có sách ở các thư viện. Cơ chế trả tiền đọc sách ở thư viện đang bắt đầu được áp dụng tại các nước khác, ví dụ, ở Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Anh và Pháp, vì đây là một hình thức ủng hộ văn học đương đại có hiệu quả.

 Thụy Điển có nhiều giải thưởng văn học, nhưng một trong số đó, giải thưởng Vi (“Chúng ta”) rất đáng được chú ý. Giải thưởng này trao cho các nhà văn đã viết từ 2 đến 5 cuốn sách, nghĩa là không phải nhà văn mới sáng tác, nhưng cũng không phải là nhà văn lớn. Ban giám khảo đọc tất cả các cuốn tiểu thuyết do các tác giả viết để theo dõi sự phát triển của nhà văn từ cuốn sách này đến cuốn sách khác.

Các nhà văn ngoại quốc cũng không bị bỏ quên. Thụy Điển có hai trại sáng tác văn học mà các tác giả từ những nước khác nhau có thể tham dự. Trại thứ nhất nằm ở thành phố Visby trên đảo Gotland, được Hội Nhà văn Thụy Điển xây dựng với sự ủng hộ của chính quyền địa phương. Hằng năm, có gần 200 người đến đây, 85% trong đó là cư dân khu vực Bancăng (kể cả người Nga), 20% là người Thụy Điển, đôi khi thậm chí ở đây xuất hiện các tác giả từ Ấn Độ hay Australia.

Trại gồm hai ngôi nhà tọa lạc tại trung tâm thành phố Visby. Nhà thứ  nhất có 18 phòng dành cho các nhà văn (11 người), nhà thứ hai gồm thư viện, hội trường, một phòng làm việc lớn có dương cầm, lò sưởi và ghế bành. Nhà văn có thể đến đây để sửa bản thảo hay bản dịch, giao lưu với các đồng nghiệp nước ngoài và các dịch giả hoặc thậm chí tìm kiếm cơ hội để xuất bản sách ở nước ngoài. Đơn xin tham dự trại sáng tác được xem xét gần hai tháng, còn sống ở đấy có thể từ 2 đến 5 tuần. Nếu vé và sinh hoạt ở đảo Gotland quá đắt đỏ (trên thực tế là như vậy) thì có thể nhận được sự giúp đỡ tài chính tại một trong những trung tâm văn hóa Thụy Điển.

Trại sáng tác thứ hai vừa mới được thành lập gần đây trong khu nhà của đạo diễn điện ảnh và sân khấu nổi tiếng của Thụy Điển Ingmar Bergman trên đảo Faro, nơi ông sống từ những năm 70 của thế kỷ trước. Cư dân đảo chỉ vỏn vẹn 500 người, bạn có thể tới đó bằng phà từ đảo Gotland. Sau khi Bergman qua đời, số phận lãnh địa này (ngoài ngôi nhà tự xây, đạo diễn còn mua 6 ngôi nhà cho 9 người con của mình) một thời gian dài không được ai biết đến.

Con gái ông, Liv Ullmann, mơ ước xây ở đây một trung tâm văn hóa để ủng hộ các tài năng trẻ, nhưng Chính phủ Thụy Điển không muốn tài trợ cho dự án này, và toàn bộ gia tài được đưa ra bán đấu giá. Tỷ phú Na Uy Hans Gudesen đã mua tất cả các ngôi nhà, đất, đồ gỗ và thậm chí xe cộ của đạo diễn, ông đã làm cái điều mà Chính phủ Thụy Điển không muốn làm - thành lập Quỹ mang tên Bergman và tổ chức trại sáng tác dành cho các nhà văn, đạo diễn và nhạc sĩ.

Ở đây có thể sống hoàn toàn miễn phí, và các nhà văn nước ngoài cũng được chờ đợi ở đây. Chỉ có điều, khác với trại sáng tác ở Visby hoạt động quanh năm, trại sáng tác trên đảo Faro chỉ đón khách từ tháng 4 đến tháng 10 hằng năm. Mỗi vị khách được sử dụng một ngôi nhà hay nửa ngôi nhà, có thể mang theo vợ con hoặc đồng nghiệp tới đây, còn toà biệt thự của Bergman chỉ dành cho các vị khách sử dụng từ 9 giờ đến 15 giờ mỗi ngày. Ở đó bạn có thể sử dụng bếp, phòng chiếu phim với bộ sưu tập phim rất phong phú do chính đạo diễn sưu tầm, bạn cũng có thể đi dạo xung quanh ngôi nhà, ngồi trên những chiếc ghế bành của Bergman và đọc những dòng lưu bút trên cánh cửa, trên bàn và sàn nhà.

Trước đây, thư viện của Bergman cũng được mở cửa tự do, nhưng vì sách bị mất (nhiều cuốn có bút tích của những nhân vật nổi tiếng, nhiều cuốn là những ấn phẩm quý, thư viện được định giá 11 triệu krona), nên thư viện đã bị đóng cửa. Hiện nay chỉ những người có yêu cầu riêng mới được vào thư viện và đọc dưới sự giám sát của nhân viên bảo vệ.

Hội Nhà văn Thụy Điển không chỉ giới hạn hoạt động ở Thụy Điển, nó hợp tác rộng rãi với tất cả các nước châu Âu, thậm chí ngoài châu Âu. Chính vì vậy người ta tổ chức các trại sáng tác dành cho nhà văn. Một trong những chủ đề chính luôn luôn mang tính thời sự là tự do ngôn luận. Các nhà văn và dịch giả Thụy Điển cho rằng chế độ kiểm duyệt tại các nước láng giềng cũng gây nguy hiểm đối với tự do ngôn luận ở Thụy Điển.

TRẦN HẬU (dịch)
Theo VNCA

XIN XEM THÊM:

·         TRÍ NHỚ CỦA DÂN TỘC
·         TÔN NỊNH ĐẠI SUY
·         TIẾP THỊ BẢN THÂN
·         NỖI OAN CỦA MÔN VĂN
·         QUANH NHÀ MÁY RẠNG ĐÔNG


Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều