Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

DẤU ẤN NGỌC LINH TRONG VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM

Viết, theo Ngọc Linh, trước hết là bày tỏ nhiệt tình, là thể hiện tinh thần trách nhiệm của người cầm bút. Viết còn có ý nghĩa lớn lao hơn – góp sức mình xây dựng và cải tạo cuộc sống mới: “Tôi luôn viết với một nỗi day dứt đè nặng tâm hồn. Tôi thường xuyên tự hỏi: Cuộc sống, xã hội đang đề ra những vấn đề gì? Mình phải tìm cách giải đáp ra sao? Tôi tìm câu giải đáp trong xã hội mà chúng ta đang sống, tôi tìm cả trong lịch sử dân tộc. Có được hướng giải đáp rồi, tôi suy nghĩ cố tìm cách tạo ra các xung đột để dựng thành kịch bản. Cách giải quyết những xung đột kịch cũng chính là hướng đề nghị của mình”
Nhà văn Ngọc Linh

Nhà văn đa tài

Nhắc đến Ngọc Linh, người ta có thể gọi là nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch và nhà thơ đều đúng. Ông là người khá đặc biệt, sự nghiệp sáng tác của Ngọc Linh đã đi cùng những thăng trầm lịch sử dân tộc Việt Nam. Ông trưởng thành và sáng tác qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Hơn 40 năm cầm bút, Ngọc Linh đã để lại hơn 70 tác phẩm ở nhiều thể loại tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn và thơ.

Ngọc Linh, tên thật là Dương Đại Tâm, sinh ngày 30 tháng 11 năm 1935 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Ông được đồng nghiệp đánh giá là nhà văn đa tài, trên lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành công nhất định. Bén duyên với nghiệp viết lách từ một ký giả. Sau đó ông viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Trước năm 1975, bạn đọc ở Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ đã quá quen thuộc với các tác phẩm của Ngọc Linh với những cái tên Đôi mắt người xưa, Ngã rẽ tâm tình, Trời không có nắng, Trên sông hoàng hôn… dưới hình thức truyện đăng nhiều kỳ – một hình thức viết Feuilleton trên các báo Lẽ Sống, Tiếng Dân, Buổi Sáng, Tiếng Dội, Đồng Nai, Điện Ảnh, Sai Gon Mai, Phim Kịch… được bạn đọc đón nhận và các nhà phê bình đánh giá cao. Bên cạnh đó, Ngọc Linh khá thuận tay khi viết truyện ngắn, phê bình kịch trường điện ảnh với hai bút danh uy tín: Kim Đồng Tử và Dương Hoài Dung. Ngoài ra, ông còn viết phóng sự với bút danh Sơn Linh và đặc biệt là viết tiểu thuyết với bút danh Ngọc Linh.

Ngọc Linh tâm sự rằng, thực tế cuộc sống đã cho ông nhiều thứ. Sinh ra trong một gia đình nghèo, cũng không có truyền thống viết lách. Đất nước biến loạn, ông theo gia đình lên Sài Gòn kiếm sống bằng đủ thứ nghề trên đường phố. Ông “chẳng có bằng cấp gì, ngoài hai cái bằng… võ Karaté và Aikido”. Thế nhưng, cái sự học hành lủng củng đó đã bị khuất phục bởi nghị lực của ông. Năm 1956 – 1957, Ngọc Linh chủ trương tuần báo Nhân Loại – tờ báo đấu tranh công khai trong lòng địch để hiệp thương hai miền Nam – Bắc, sau Hiệp định Genève. Nhưng phải đến 1961, khi tiểu thuyết Đôi mắt người xưa và được chuyển thể thành phim, thì tên tuổi của Ngọc Linh mới được khẳng định.

Sau đó, hàng loạt tác phẩm khác của Ngọc Linh liên tiếp được ra mắt bạn đọc: Nước mắt người đàn bà (1962), Buổi chiều lá rụng (1962), Ngã rẽ tâm tình (1962), Hoa nở về đêm (1963), Trời không có nắng (1963), Nắng sớm mưa chiều (1964), Trên sông hoàng hôn (1964)…

Bên cạnh niềm đam mê sáng tác, ông còn tham gia công tác quản lý. Ông từng giữ các trọng trách: Phó Tổng Biên tập Tuần báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh, hội viên Hội Sân khấu Việt Nam, Ủy viên Ban Thư ký Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh, thành viên trong Ban Chấp hành Hội Sân khấu Thành phố nhiều nhiệm kỳ. Những năm cuối đời Ngọc Linh vẫn miệt mài sáng tác. Ông viết truyện, viết kịch bản, viết truyện phim với mong muốn đóng góp nhiều hơn nữa cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Thời gian cuối của chặng đường sáng tác, ông trở lại viết truyện ngắn và đã cho xuất bản các tuyển tập: Lời thề không khắc ghi vào đá, Con chim ngưng tiếng hót…

Chặng đường sáng tác, Ngọc Linh đã có những bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự nghiệp sáng tác của mình. Trước năm 1975, Ngọc Linh làm báo và viết tiểu thuyết. Sau ngày đất nước thống nhất ông không viết tiểu thuyết nữa mà chuyển hẳn sang viết kịch bản sân khấu, kịch bản phim, cải lương với những tác phẩm nổi tiếng như: Như thế là tội ác (viết chung với Thiếu Linh) được phổ biến rộng rãi và được bằng khen của Liên hoan phim toàn quốc lần thứ 5. Năm 1977, ông viết vở kịch nói Cho tình yêu mai sau, đoàn Bông Hồng trình diễn. Năm 1979, ông viết Xa thành phố yêu dấu, đoàn kịch Cửu Long Giang dàn dựng. Cả hai vở trên đều đoạt giải thưởng trong Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1980. Từ đó, ông tự tin hơn với những vở sau này: Những bà mẹ của Hoàng Oanh (1985), Giải thưởng Văn học Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; Ngôi nhà không có đàn ông (1993), Ngôi nhà thiếu đàn bà (1993), Đêm khuya về với mẹ (1994), Vết thương ngày cũ (1995), Ngôi nhà của chúng ta (1996). Trong 13 kịch bản được dàn dựng, đã có tới 7 kịch bản được giải thưởng trong các cuộc hội diễn.

Đối với một người viết thì đây là sự thành công rất đáng kể trong bối cảnh xã hội miền Nam vùng tạm chiếm đầy phức tạp lúc bấy giờ, chưa kể bộ phận tuyên truyền của chế độ Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm chủ xướng ngày đêm ra rả chống lại chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà thực chất là chống lại cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống lại đế quốc Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, lúc bấy giờ Chủ nghĩa thực dụng đã tràn ào ạt vào miền Nam, phá hoại đạo lý và thuần phong mỹ tục dân tộc Việt Nam.

Trong bối cảnh phức tạp như vậy, một số văn nghệ sĩ trưởng thành trong khánh chiến chống Pháp tham gia hoạt động cách mạng. Một số khác vì hoàn cảnh riêng, không trực tiếp tham gia kháng chiến nhưng lại có sự ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân khi trở thành “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa”. Họ tích cực sáng tác các tác phẩm trong sáng, lành mạnh phát huy truyền thống, tinh thần yêu nước của dân tộc qua các truyện dã sử, truyện ngắn, tiểu thuyết đề cao vấn đề đạo đức và tính cách dân tộc bảo vệ thuần phong mỹ tục tốt đẹp đã được vun đắp giữ gìn hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Ngọc Linh chính là một trong những nhà văn tiến bộ ấy.

Đề cao trách nhiệm của người cầm bút

Ngọc Linh luôn trăn trở về nghề, ở bất cứ thời điểm nào ông cũng luôn đề cao sự nhạy cảm của người sáng tác. Là một tác giả có đóng góp cho văn học – nghệ thuật rất đáng kể nhưng ông luôn không cho phép mình tự mãn. Đứng trước những vấn đề đặt ra trong cuộc sống ông luôn cho rằng mình chưa tự đổi mới trong tư duy, trong cách đặt ra và giải quyết vấn đề cấp thiết của cuộc sống.

Trong quá trình nói chuyện với học viên trẻ lớp bồi dưỡng viết kịch, do trong lực lượng sáng tác người Hoa những năm đất nước vừa thống nhất còn rất mỏng, có sự cách biệt về ngôn ngữ và văn hóa cho nên có sự khó khăn trong nắm bắt tư tưởng và nhịp sống. Bằng kinh nghiệm và tâm huyết của mình, Ngọc Linh khuyên các cây viết trẻ “phải đi xem thật nhiều về điện ảnh, sân khấu, đọc thật nhiều sách báo, từ đó mà nghiên cứu, tiêu hóa, tiếp thu để rồi sáng tạo ra những gì là của mình. Học vô bờ bến, tôi cũng từ học mà có!”. Ngọc Linh kiên quyết phản đối với cách viết vô tội vạ, viết không phải để giải trí, viết phải nghiêm túc: “Không có mục đích nghệ thuật chân chính, không có một tấm lòng phục vụ cho quần chúng lao động người Hoa, không có thẩm mỹ quan…chân chính, thì không thể viết ra tác phẩm tốt được!”.

Viết, theo ông, trước hết là bày tỏ nhiệt tình, là thể hiện tinh thần trách nhiệm của người cầm bút. Viết còn có ý nghĩa lớn lao hơn – góp sức mình xây dựng và cải tạo cuộc sống mới: “Tôi luôn viết với một nỗi day dứt đè nặng tâm hồn. Tôi thường xuyên tự hỏi: Cuộc sống, xã hội đang đề ra những vấn đề gì? Mình phải tìm cách giải đáp ra sao? Tôi tìm câu giải đáp trong xã hội mà chúng ta đang sống, tôi tìm cả trong lịch sử dân tộc. Có được hướng giải đáp rồi, tôi suy nghĩ cố tìm cách tạo ra các xung đột để dựng thành kịch bản. Cách giải quyết những xung đột kịch cũng chính là hướng đề nghị của mình” (Sài Gòn Giải Phóng, 30/4/1982).

Do đó, Ngọc Linh trong sáng tác luôn đặt cao vấn đề trách nhiệm của người cầm bút đối với con người, đối với xã hội, bao giờ ông cũng muốn phản ánh đến tận cùng của hiện thực nhưng bằng con mắt và tâm hồn thấu hiểu, sẻ chia chứ không phải bằng sự nêu hiện tượng.

Dấu ấn đặc biệt

Hầu hết các tác phẩm của Ngọc Linh đều lấy chủ đề chính là các mối quan hệ trong gia đình, một phần phản ánh những mâu thuẫn trong xã hội nhiễu nhương của thời đại kim tiền. Đề cập đến số phận của con người tác giả đã góp phần phản ánh hiện thực xã hội từ những điều mắt thấy tai nghe. Qua những tác phẩm của Ngọc Linh chúng ta thấy rõ những éo le cuộc đời, những bất công, nghịch lý, những đồi bại trái luân thường đạo lý. Nguyên nhân của những tiêu cực ấy chính là sự ảnh hưởng của luồng gió văn minh nửa vời. Phơi bày những tiêu cực xã hội và những hậu quả con người phải gánh chịu trên những trang viết cùng những trăn trở, xót xa của tác giả đủ để chúng ta thấy tấm lòng của người cầm bút.

Các đề tài tư tưởng trong các tác phẩm của Ngọc Linh khá phong phú, từ tình yêu gia đình đến tình yêu quê hương, đất nước, dân tộc. Do đó, đã tác động đến nhiều đối tượng độc giả khác nhau, từ người đọc bình dân đến trí thức. Các tác phẩm của Ngọc Linh đã góp phần rất lớn vào công cuộc đấu tranh mạnh mẽ chống lại mảng văn học đồi trụy nguy hại. Thông điệp của từng tác phẩm đã thức tỉnh một bộ phận nhân dân đô thị, nhất là thanh niên, đem lại cho người trẻ lòng tự trọng, ý thức về nhân phẩm, tinh thần dân tộc truyền thống, và tình yêu chân chính.

Về thành quả nghệ thuật tiểu thuyết của Ngọc Linh, điều đầu tiên phải nói đến đó là nghệ thuật kết cấu bố cục tác phẩm. Ngọc Linh từng trả lời phỏng vấn của nhà báo rằng ông không đánh đố độc giả bằng những bố cục lắt léo rắc rối dễ làm người đọc bình dân mất phương hướng mà bằng bố cục xuyên suốt thông thường dễ hiểu nhưng không phải là tầm thường và mục đích quan trọng là hiệu quả tác phẩm, giúp độc giả có cái nhìn hướng thiện về cuộc sống thẩm mỹ và tư tưởng cao đẹp của đạo lý dân tộc trong một xã hội đầy phức tạp lúc bấy giờ.

Cốt truyện tiểu thuyết Ngọc Linh mang tính kịch cao. Đây cũng chính là điểm nổi bật quan trọng lý giải vì sao tiểu thuyết Ngọc Linh có một sức hút mạnh, lôi cuốn người đọc đến như vậy. Ông khéo léo đưa người đọc vào thế giới truyện của mình bằng việc xây dựng kết cấu theo quy luật phát triển tâm lí. Một kiểu kết cấu mới mẻ từ bỏ lối kết cấu của tiểu thuyết truyền thống. Ngọc Linh luôn tạo cho người đọc những tình huống bất ngờ, các sự kiện trong truyện dày, liên tiếp theo suy nghĩ và hành động của nhân vật để đẩy các xung đột đến cao trào, buộc nhà văn phải xử lý, giải quyết các mâu thuẫn ấy để chuyển sang trạng thái mới.

Có lẽ, cũng chính việc sử dụng thành thạo kỹ thuật này mà tiểu thuyết nào của Ngọc Linh cũng dài nhưng lạ là đọc không thấy chán vì người đọc luôn cảm thấy thú vị khi được cùng “sống” với nhân vật trong truyện. Và cũng chính kỹ thuật này mà trước và sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), hầu hết tiểu thuyết của Ngọc Linh được tái bản và chuyển thể thành kịch bản cải lương, kịch nói, hát bội. Rất nhiều tác phẩm cải lương và kịch nói được các đoàn nghệ thuật và các Đài truyền hình trên cả nước dàn dựng. Nhiều vở đoạt giải thưởng cao ở thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương.

Nét duyên dáng của phương ngữ Nam bộ

Trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của Ngọc Linh, vấn đề ngôn ngữ chiếm một vị trí quan trọng. So với những nhà văn cùng thời có tên tuổi trong vùng giải phóng như Bùi Đức Ái (Anh Đức), Nguyễn Quang Sáng, Lý Văn Sâm, Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa… và của Ngọc Linh vẫn có nét riêng duyên dáng của phương ngữ Nam bộ. Với lối hành văn trong sáng, giản dị, giàu chất thơ, đặc biệt rất thích hợp với các tầng lớp thị dân nên được giới này mến mộ. Vì thế các tác phẩm của Ngọc Linh luôn thu hút người đọc và được tái bản nhiều lần cả trước và sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Cái chất thơ mà Ngọc Linh gửi vào từng trang viết, vốn bắt nguồn từ tình yêu mảnh đất và con người Nam bộ và được thể hiện trong việc đặt tên cho tác phẩm, đến chi tiết miêu tả, trong ngôn ngữ và tính cách nhân vật. Các tựa đề tác phẩm Ngọc Linh đọc lên thấy có vần, có giai điệu: Đôi mắt người xưa, Nắng sớm mưa chiều, Mưa trong bình minh, Ngã rẽ tâm tình, Yêu trong hoàng hôn, Bây giờ em ở đâu… Cái “chất liệu miền Nam” còn là những câu ca dao, tục ngữ, phương ngữ được Ngọc Linh sử dụng rất nhiều trong tác phẩm mà khi đọc lên ai cũng thấy ngộ ngộ, thân thương. Với số lượng sáng tác khá đồ sộ, đi sâu vào góc cạnh đời sống của từng số phận, về suy nghĩ, nếp sống, sinh hoạt của con người miền Nam ấy, Ngọc Linh đã đem tới nền văn học của chúng ta một dấu ấn đầy mới mẻ, hấp dẫn, một sự bổ sung cho cách nhìn về cuộc sống, con người vùng đất phương Nam.

Tinh thần nhân bản

Đọc tác phẩm của Ngọc Linh người ta thấy được tấm lòng khoan dung của ông với cuộc đời. Khi cánh cửa này khép lại có cánh cửa khác lại mở ra. Ông không bao giờ đẩy bi kịch đến tột cùng của số phận, luôn có lối thoát cho cái ác để nhìn lại lỗi lầm của mình. Ngọc Linh của cuộc đời và Ngọc Linh của tác phẩm luôn thống nhất. Ông cho rằng răn đe cái ác để tự sửa chứ không dồn họ đến bước đường cùng. Đó chính là chân lý sống của Ngọc Linh nói riêng và cũng chính là tính cách của người Nam bộ nói chung.
Trước 1975, đọc tiểu thuyết của Ngọc Linh đa phần là thị dân bình dân gồm già trẻ, trai gái cùng khóc cười với các nhân vật của ông ngay trên trang viết và người ta có thể đoán biết được kết cục của câu chuyện không có yếu tố bất ngờ nhưng điều đặc biệt không nhàm chán do kết cấu tâm lí nhân vật trong tác phẩm kích thích sự tò mò của người đọc với giọng văn êm đềm, nhân hậu không “đao to búa lớn”, thâm trầm như đợt sóng ngầm giữa đại dương. Trong tác phẩm của Ngọc Linh dù nhân vật có hung ác đến mấy vẫn có tính dung hòa không căng thẳng, không có những pha hú tim, đọc xong tác phẩm của ông người ta cảm thấy tâm hồn khoan khoái, nhẹ nhõm.

Có nhiều người cho rằng nhiều tiểu thuyết của Ngọc Linh viết theo tư tưởng Phật giáo. Theo ông, đó là sự nhầm tưởng do các tác phẩm của Ngọc Linh đều kết thúc có hậu nhưng thực chất đó chính là vì sự nếm trải đắng cay của cuộc mưu sinh sớm, cuộc sống của ông trải qua quá nhiều vất vả, chính cuộc sống đã tạo cho ông rất nhiều chất liệu, vốn sống, đề tài để ông viết. Cứ thế như một lẽ tự nhiên, các nhân vật của cuộc đời đã đi vào tác phẩm của Ngọc Linh rất thật, rất sinh động. Chính ông tự nhận khi trả lời một cuộc phỏng vấn rằng điều đã khiến ông có cái nhìn không khe khắt, sự bao dung ngay từ buổi đầu ông chưa biết gì về Phật giáo và cũng không quan tâm mấy về vấn đề triết học. Sự trải nghiệm cay đắng về cuộc đời đã thấm vào ông một cách tự nhiên khi sáng tác.

Trong tiểu thuyết của Ngọc Linh, có thể nói, nhân vật trung tâm của ông chưa đạt đến nhân vật điển hình nhưng những nhân vật ấy rất thật, rất sống động, đạt độ khái quát về tính cách, số phận, tạo ấn tượng mạnh mẽ. Tác phẩm của ông đã đề cập đến đời sống của nhiều tầng lớp trong xã hội, của nhiều ngành, nhiều giới. Khi viết về đối tượng nào, ông cũng cho thấy sự thấu hiểu tận tường những ngóc ngách trong tâm hồn họ. Chính cái chất liệu hiện thực ấy đã tạo nên những giá trị trong tác phẩm của Ngọc Linh.

Người cầm bút yêu nghề đến say nghề

Trong cuộc đời sáng tác của người cầm bút, Ngọc Linh là một người viết nhiều, trên lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành công nhất định. Nhìn bảng kê những tác phẩm của ông viết từ tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim, kịch bản sân khấu và hàng trăm bài báo, cho thấy quá trình lao động rất đáng được trân trọng của một người cầm bút yêu nghề đến say nghề.

Những buổi đầu bước vào con đường sáng tác, trong những năm tháng đầy biến động của đất nước, Ngọc Linh dần rút được kinh nghiệm “phải hết sức kín đáo” khi đưa vấn đề vào tác phẩm. Với đề tài tâm lí xã hội vô thưởng, vô phạt, Ngọc Linh đã khéo léo đưa vào tác phẩm những vấn đề nhức nhối mà cuộc sống đang đặt ra. Vì thế mà hàng chục tiểu thuyết của Ngọc Linh được đăng nhiều kỳ trên báo rồi xuất bản thành sách đều được bạn đọc đón nhận.

Ngọc Linh đến với văn chương với sức sáng tạo luôn tràn đầy, luôn trăn trở, tìm tòi để có những đề tài, nhân vật mới mẻ. Sở dĩ Ngọc Linh có nhiều sáng tác như vậy vì ông luôn giữ được ngọn lửa đam mê sáng tạo. Ông nói, phải xem sáng tác như cái “đạo”, phải “ngộ” thì mới tìm ra được kết quả cuối cùng: “Dường như lúc nào tôi cũng suy nghĩ về nhân vật, cốt truyện có khi nghiền ngẫm đến 3 – 4 năm”. Ông từng nói phải tập nhìn cái gì cũng thanh xuân. Có khi cái đã biết rồi mà nhìn vẫn thấy mới.

Tự nhìn lại mình, Ngọc Linh cũng thừa nhận rằng, thành quả sáng tác của ông về “mặt bằng” thì có nhưng “đỉnh cao” như ông mơ ước thì chưa. Đó là sự thừa nhận khiêm tốn nhưng cũng đúng thực tế. Tuy nhiên, với thành quả nghệ thuật của mình, Ngọc Linh xứng đáng là một trong số những người viết siêng năng, cần cù và sáng tạo, sự sáng tạo không ngừng nghỉ với bề dày tác phẩm đáng giá để người đọc trân trọng đón nhận những gì ông đóng góp. Những năm cuối đời, Ngọc Linh vẫn mơ ước đạt đến những đỉnh cao của sáng tác nhưng tiếc rằng mơ ước ấy chưa thực hiện được bởi cơn bạo bệnh đã cắt đứt mối tơ vương của Ngọc Linh với văn chương. Dở dang trên bàn viết của ông là bản thảo mấy chục tập truyện phim “Đại gia đình”.

Giá trị của văn học, nghệ thuật góp phần tạo ra sự giao lưu xã hội rộng lớn; mang tính giáo dục cao về tính chân, thiện, mỹ. Ý nghĩa lớn lao hơn của đời sống văn hóa, văn nghệ có sứ mệnh giúp đỡ cho quần chúng nhân dân tiếp nhận những thành tựu văn hóa, phát triển mọi tài năng, sức lực của mình trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới. Và với hướng đi này, Ngọc Linh đã góp thêm một ngôi sao sáng lấp lánh trên bầu trời văn học, nghệ thuật nước nhà.

PHÙNG THỊ PHƯƠNG
Nguồn: Văn Nghệ TPHCM

Câu chuyện văn hoá khác:


ĐỌC LẠI NGUYÊN HỒNG ĐẦU THẾ KỶ XX

Viết ngắn, thiết nghĩ là nhà văn hướng tới công chúng trong tinh thần đồng sáng tạo. Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã cung cấp cho các nhà văn đương thời những kinh nghiệm nghệ thuật quý giá khi bắt tay viết tiểu thuyết ngắn…
Nhà văn Nguyên Hồng

1. Đọc Nguyên Hồng theo tiêu chuẩn “canon” đầu thế kỷ XXI

Khi đọc tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến khái niệm “canon” do giáo sư Paul Lauter (Hoa Kỳ) đề xuất “Thật ra, mãi đến năm 1972, thuật ngữ “canon” (tiêu chuẩn đánh giá nhà văn và tác phẩm) mới bắt đầu được dùng trong những cuộc bàn cãi về vấn đề những văn bản nào đáng được nghiên cứu, chứ không chỉ là vấn đề những văn bản đó viết về điều gì, chúng được tổ chức và phát huy chức năng như thế nào. Nói một cách cụ thể, phương pháp nghiên cứu cũ nhằm vào việc xem xét những thăng trầm về vị trí của nhà văn. Nhưng cách làm đó hầu như hoàn toàn giới hạn trong sự miêu tả sự thăng trầm của một tác giả chứ không phân tích các yếu tố vật chất và tư tưởng vốn là gốc rễ của những thay đổi về uy tín của nhà văn. Nói cách khác, “tiêu chuẩn đánh giá tác giả và tác phẩm”, nhìn một cách rộng hơn, đó là bản thân vấn đề hoặc tính xã hội học của văn học, hơn là nghiên cứu có tính phê bình – lý luận về tác phẩm văn học và tác giả” (Tiếp cận đương đại văn hóa Mỹ, NXB Văn hóa – Thông tin, 2001, tr. 27-28). Nếu theo cách hiểu/quan niệm của học giả Hoa Kỳ thì, khi tiếp cận một tác giả/tác phẩm cần thiết đề lên hàng đầu “bản thân vấn đề hoặc tính xã hội học của văn học” (chúng tôi nhấn mạnh – BVT). Ở khoa Văn học, trường Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN) hiện nay có giảng dạy giáo trình Xã hội học nghệ thuật. Như vậy là, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã bước đầu cập nhật và tiếp cận thế giới trong cái nhìn đa chiều văn học - một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Chúng tôi cho rằng, khi bắt đầu cầm bút viết văn, đặc biệt tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ (1938), Nguyên Hồng bị hối thúc chủ yếu bởi cảnh sống, con đường sống như là “bước đường cùng” của người bình dân. Như đại thi hào Nguyễn Du từng viết trong kiệt tác Truyện Kiều “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Không khó giải thích vì sao trong sáng tác của Nguyên Hồng, nhân vật phụ nữ và trẻ em lại có vị trí trung tâm. Họ mang trên mình những vấn đề xã hội hiện đại- vấn đề quyền sống của con người, vấn đề bình đẳng giới, vấn đề bảo vệ những mầm non tương lai (trẻ em hôm nay thế giới ngày mai). Tương tự như Ngô Tất Tố viết Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan viết Bước đường cùng. Thiết nghĩ, đây là ba cuốn tiểu thuyết đều ra đời cách nay 80 năm, nhưng bài học lịch sử - nghệ thuật của chúng vẫn còn nóng hổi ý nghĩa thời sự xã hội. Nghĩa là nhà văn hướng tới, đứng về phía nhân dân cần lao, đau khổ như lời thơ của nhà thơ Hungary S. Petofi “Cày một tay/ Gươm một tay/ Đời nhân dân muôn nỗi đắng cay/ Máu cứ đổ mồ hôi cứ đổ” (Nhân dân). Cũng trên quan điểm này, có thể giải thích vì sao những tiểu thuyết chứa luận đề xã hội lớn lao như Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh, Đám cưới không có  giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,... lại gây hấn dư luận, hâm nóng văn đàn và có hấp lực lâu bền đến vậy. Theo lý thuyết văn học, tác phẩm có sức sống lâu bền là vì ở đó, nhà văn đã “nhúng bút vào sự thật” khi viết, đã can dự vào đời sống của con người, không chỉ nhằm nhận thức thế giới mà còn đề cao khát vọng cải biến nó theo nguyên tắc chân - thiện - mỹ.

2. Đọc Nguyên Hồng theo phương pháp “Khảo cổ học văn chương”.

Cũng theo quan điểm của học giả Hoa Kỳ Paul Lauter “Thuật ngữ “khảo cổ học văn chương” tôi chỉ dùng với ý nghĩa đơn giản là phát hiện lại những văn bản do một nguyên nhân nào đó đã bị lãng quên” (Sđd, tr.31). Ở Việt Nam thời hiện đại, do chiến tranh ác liệt kéo dài, nên thực tế trong khi tập trung tất cả cho mục đích cuối cùng đánh thắng giặc ngoại xâm, chúng ta đã vô tình/ hay cố ý “lãng quên” những văn sản quá khứ (Thơ mới lãng mạn, văn chương Tự lực văn đoàn, kể cả sáng tác của một vài nhà văn hiện thực danh tiếng, như Vũ Trọng Phụng,...). Từ sau Đổi mới (1986), cái nhìn của chúng ta về nhiều vấn đề đời sống chính trị, xã hội, văn hóa đã cởi mở hơn. Tuy nhiên chưa phải đã cởi mở hoàn toàn. Thiết nghĩ, văn sản  dân tộc quý giá trước 1945, kể cả trước 1975 ở miền Nam Việt Nam cũng cần được “khảo cổ học văn chương”. Bản thân Nguyên Hồng, trong đời văn cũng nếm trải thăng trầm, nhất là khoảng thời gian sau hòa bình (1954), khi bị coi là liên đới đến vụ án văn chương thế kỷ (Nhân văn - Giai phẩm). Đọc các tài liệu hiện có, nhất là qua các hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài thì thấy Nguyên Hồng còn nặng nỗi niềm, tâm sự. Còn như nghe những tiếng thở dài khẽ mà sâu vương vất. Đọc văn theo phương pháp “khảo cổ học văn chương”, theo tôi, là cách chiêu tuyết, cách truy phong thành tựu sáng tạo của không chỉ một nhà văn, mà cả một thế hệ nhà văn (cũng như truy phong danh hiệu Bà mẹ anh hùng, hay Anh hùng vậy). Công việc này chúng ta còn làm được rất ít. Trong nhiều năm qua, các tổ chức văn học (viện nghiên cứu, trường đại học, nhà xuất bản, Hội Nhà văn,...) đã có nhiều nỗ lực ghi công trạng cho lớp nhà văn tiền chiến, trong đó có Nguyên Hồng. Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT trao cho nhà văn Nguyên Hồng hoàn toàn xứng đáng. Nhưng Tuyển tập Nguyên Hồng (3 tập, NXB Văn học, 1995) thì quả thực là chưa tương xứng. Theo tôi, nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Nguyên Hồng (1918-2018), Hội NVVN cần sớm tổ chức biên soạn để xuất bản Nguyên Hồng toàn tập. Không có gì là muộn. Muộn còn hơn không. Văn sản Nguyên Hồng không thể bị lãng quên. Nếu có (vô tình hay hữu ý) là bởi những lý do ngoài văn chương. Nhìn sang địa hạt lịch sử thì thấy, nhờ có khảo cổ học mà phát lộ Hoàng Thành, từ đó minh định các giá trị văn hóa truyền thống tựa vững trên hào khí Đông A, Đại Việt. Khảo cổ học văn chương đồng thời là phương pháp cần thiết bổ sung để thẩm định các giá trị cổ điển. Đối với nền văn chương hiện đại Việt Nam thế kỷ XX, Nguyên Hồng  là 1 trong 40 nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT. Vinh dự này không phải người cầm bút nào cũng có được. Nguyên Hồng đã có một vị trí trang trọng trong Bảo tàng Văn học Việt Nam (được hiểu như là một sự kiện, sự vật có ý nghĩa “khảo cổ học văn chương”). Vì đối với Việt Nam (rộng ra là các nước khác), văn học là một bộ phận quan trọng của văn hóa. Văn học (nghệ thuật ngôn từ) góp phần bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ dân tộc (cho nên cái câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” của một học giả đầu thế kỷ XX có thể coi như một xác tín bền vững đòi hỏi chúng ta phải có biện pháp khẩn cấp bảo vệ tiếng Việt, văn chương Việt).

3. Đọc Nguyên Hồng theo tinh thần “Tái cấu trúc  văn học”.

Quan điểm này cũng do học giả Hoa Kỳ Paul Lauter đề xuất. Ông nhấn mạnh  hai nguyên tắc  được gọi là “sự khác biệt và tính chất tiêu biểu” (Sđd, tr.33). Tất nhiên quan điểm của học giả là tựa trên nền móng văn hóa Mỹ - một quốc gia đa chủng tộc (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ), đa văn hóa. Văn hóa Mỹ chấp nhận sự khác biệt vì cá nhân luôn khác biệt. Bảy tỷ người trên hành tinh là 7 tỷ vân tay. Văn hóa Mỹ đề cao cá nhân (trừ trường hợp đề cao “siêu nhân”). Một thời gian dài chúng ta không đề cao, không chấp nhận “sự khác biệt”. Chỉ có “đồng phục”, “đồng ca”, “đồng loạt”, “đồng dạng”, “đồng nhất”,... Nhưng sáng tạo nghệ thuật lại có quy luật đặc thù -  đề cao lao động cá nhân, cá tính sáng tạo. Nhà khoa học cũng thẳng thắn phê phán cái gọi là “dòng chủ lưu” khi đánh giá thực tiễn sáng tác văn chương. Ông viết “Bởi vì chúng tôi – đặc biệt là những người da trắng và đàn ông trong số chúng tôi – quan tâm đến sự khác biệt, nên chúng tôi không thể dựa vào những gì mà chúng tôi đã được đào tạo ở chương trình sau đại học vốn chỉ tập trung vào dòng chủ lưu và cũng không thể dựa vào các cơ quan chính thống vốn tuân theo tính đồng nhất” (Sdd, tr. 34). Quan điểm này cũng gợi ý cho giới nghiên cứu văn học ở ta khi đánh giá toàn bộ nền văn học Việt Nam thời hiện đại thế kỷ XX, đặc biệt trong giai đoạn chiến tranh 1945-1975. Khái niệm “Văn học Việt Nam” lâu nay bị bó hẹp (trong các giáo trình đại học, các công trình nghiên cứu chính thống) chỉ là “Văn học cách mạng”. Nhưng xét cho cùng trên tinh thần khoa học thì, văn học Việt Nam là văn học dân tộc Việt, được cấu thành từ nhiều nguồn, nhiều bộ phận. Nó là một thực thể, không thể chỉ có đầu, hoặc chân tay, hoặc cái này cái kia. Vì thế khi đồng nghiệp của chúng tôi - PGS.TS Nguyễn Bá Thành - viết công trình Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB ĐHQG HN, 2015), đã không nhận được sự thống nhất trong đánh giá khi nhà nghiên cứu đã chú ý trên tinh thần khoa học, công bằng minh định bộ phận thơ ca sáng tác ở vùng đô thị dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Nghĩa là chúng ta vẫn còn bị ràng buộc bởi định kiến khi cho rằng văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1975 chỉ có “văn học cách  mạng”. Tương tự, từ sau 1975, khái niệm “Văn học Việt Nam” vẫn chưa được mở rông để bao trùm cả bộ phận sáng tác của kiều bào ở nước ngoài (lên tới hơn 4 triệu người).

Nhà nghiên cứu Mỹ nhấn mạnh “Tính đại diện có thể không đảm bảo cho tính đa dạng” (Sđ, tr.35). Từ đây, khi đọc lại Nguyên Hồng cũng như các tác gia trước 1945, chúng tôi cho rằng không nên xếp hạng văn học theo cái gọi là “dòng chủ lưu”. Tương tự khi tiếp cận văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1975, càng không nên chú mục vào bộ phận mang “tính đại diện”. Trước đây do nhiều nguyên nhân, chúng ta đã xếp hạng văn chương theo trào lưu, thứ tự: cách mạng, hiện thực, lãng mạn. Cách xếp hạng này xuất phát từ yêu cầu “văn học phục vụ chính trị”. Nhưng có một thực tế là, gần như toàn bộ các nhà văn hiện thực kịp khi Cách mạng tháng Tám (1945) thắng lợi đã nhất loạt đi theo Đảng, tích cực “Kháng chiến hóa văn hóa. Văn hóa hóa kháng chiến”. Quan điểm “tái cấu trúc văn học” là có căn cứ khoa học. Hiện chúng ta đang tích cực tái cấu trúc nền kinh tế thị trường (nhiều thành phần) định hướng XHCN. Vậy không có lý do gì để gạt ra ngoài thực thể văn học Việt các giá trị đích thực, dẫu chúng thuộc “dòng chủ  lưu” hay không.

TIỂU THUYẾT NGUYÊN HỒNG NHÌN TỪ HÌNH THỨC THỂ LOẠI

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ (người  sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu Tuyển tập Nguyên Hồng, 3 tập, NXB Văn học, 1995) khẳng định “Bỉ vỏ và Cửa biển là hai cái mốc lớn về tiểu thuyết của Nguyên Hồng” (Sđd tr.52). Nhưng trong quá trình biên tập, không hiểu vì lý do gì lại ghi dưới Bỉ vỏ thể loại “truyện” (!?). Trong khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ tiểu thuyết Nguyên Hồng mà chỉ tập trung vào cuốn tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ làm nên tên tuổi Nguyên Hồng trên văn đàn. Đến tận thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, dường như Bỉ vỏ, Tám Bính (tên nhân vật chính) đã gắn với tên tuổi nhà văn Nguyên Hồng (như thể Chí Phèo với Nam Cao, chị Dậu với Ngô Tất Tố, chị Hoài với Nguyễn Tuân, Xuân tóc đỏ với Vũ Trọng Phụng, và gần đây là Giang Minh Sài với Lê Lựu).

Bỉ vỏ viết năm 1935-1936 (xuất bản lần đầu 1938), khi Nguyên Hồng chưa đầy hai mươi tuổi. Điều ấy đến tận bây giờ vẫn khiến nhiều thế hệ độc giả kinh ngạc. Không đơn giản chỉ là tài năng văn chương. Lớn lao hơn là một tấm lòng trong thiên hạ khi nhà văn cúi xuống sát số phận những con người nhỏ bé dưới đáy, khốn cùng. Đó là nhân dân. Văn chương đứng về phía nhân dân thời nào cũng được kê cao thế đứng. Chủ nghĩa nhân đạo của nhà văn là vô cùng kích tấc. Nhưng chúng tôi, trong bài viết của mình, chỉ muốn bàn về dạng thức/ kiểu tiểu thuyết ngắn của Bỉ vỏ. Nghĩa là tiếp cận tác phẩm từ hình thức thể loại. Vì sao Bỉ vỏ được viết ngắn? Vì sao sau này tắm mình giữa dòng thác đời sống đấu tranh cách mạng nhà văn lại viết trường thiên tiểu thuyết, kiến trúc Cửa biển (4 quyển) thành một panorama (toàn cảnh, toàn bích) mang tính sử thi? Có thể hiểu, đó là thời kỳ Nguyên Hồng đi từ sông ra biển. Chinh phục đại dương cần những con tàu lớn.

Trước hết, theo chúng tôi, phải cần thiết trở lại quan điểm thẩm mỹ về cái đẹp của người Việt Nam nói chung, nhà văn nói riêng. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu, trong công trình Đến hiện đại từ truyền thống (NXB Văn hóa – Thông tin, 1994) thì, người Việt nghiêng thích cái đẹp có tính “phải khoảng” (nhỏ gọn, xinh xắn, vừa tầm). Trong các loại hình nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật ngôn từ, ta không có những công trình hoành tráng, tầm vĩ mô. Tất cả “vừa khoảng”. Nếu theo dõi tiểu thuyết hiện đại Việt Nam (thế kỷ XX) sẽ thấy, khởi phát như Tố Tâm(1925) của Hoàng Ngọc Phách, và trước đó là tiểu thuyết của của Đạm Phương nữ sử, đều ngắn (chỉ dưới 200 trang in). Lùi xa vào thời trung đại, nếu coi Truyện Kiều là một tiểu thuyết bằng thơ thì kiệt tác này cũng rất ngắn (chỉ có 3254 câu lục bát). Nguyên Hồng là nhà văn không khước từ truyền thống. Và rất thực tiễn. Khi viết Bỉ vỏ, chúng tôi cho rằng nhà văn có ý thức viết cho người bình dân xung quanh mình đọc. Vậy nên viết dài liệu có lợi ích gì? Phải chú ý đến hoàn cảnh viết Bỉ vỏ, chính là vì thếTrong trường hợp này phải cậy vào phương pháp xã hội học nghệ thuật/ văn học. Không riêng Nguyên Hồng, các nhà văn thời tiền chiến đều viết ngắn (Sống mòn của Nam Cao, Số đỏcủa Vũ Trọng Phụng là một ví  dụ). Nghĩa là người sáng tác chú ý đến công chúng tiếp nhận nghệ thuật, không như thời bao cấp, nhà văn cứ viết không kể dài, đã có Nhà nước bao tiêu sản phẩm.

Bỉ vỏ đích thực là một tiểu thuyết ngắn (chỉ có 176 trang in, khổ 13x19); được cấu tạo trong ba phần (tương đương về số trang) với tổng số 25 mục/không phải là chương (đánh số La Mã, thứ tự 7, 7, 11). Một cấu trúc gọn nhẹ, năng động, uyển chuyển. Có thể là vô thức, Nguyên Hồng dã vận dụng phép tỉnh lược (được nhà văn M. Kundera nhất mực đề cao) khi viết (dồn nén, tước bỏ, cô đúc). Hãy quan sát đoạn mở đầu tiểu thuyết: vào ngay cao trào, không đuổi bướm bẻ hoa như các nhà văn lãng mạn. Đó là cao trào khi Bính (một cô gái con nhà lành, nhà nghèo ở noong7 thôn) bị gã tham Chung làm ở Sở đạc diền gạ gẫm, lường gạt rồi bỏ của chạy lấy người. Bính đứt ruột đồng ý bán con cho nhà giàu (với giá chỉ 13 đồng), rồi bỏ quê lên phố để tránh sự trừng phạt của lệ tục dành cho gái hư không chồng mà chửa. Rồi cô giá quăng thân vào gió bụi. Vào đời với bao cạm bẫy. Rồi gặp Năm Sài Gòn. Diễn tiến câu chuyện rất nhanh. Không câu giờ như một vài cây bút non tay hay đắp điếm những chỗ rò rỉ, lỗ hổng bằng những câu chuyện lê thê, sướt mướt và mùi mẫn.

Bỉ vỏ, sở dĩ chúng tôi xếp vào hình thức tiểu thuyết ngắn, ngoài sự cô đúc nhờ phép tỉnh lược, còn có một nhịp điệu(rythm) văn xuôi đặc biệt phù hợp với lối kể chuyện “đi tắt đón đầu”. Ví dụ chỉ cần mấy dòng gấp gáp là độc giả hiểu được chân tơ kẽ tóc nhân vật Năm Sài Gòn “Mới ba mươi hai tuổi mà án tích Năm kê chật một tờ giấy trong Sở  liêm phóng. Non hai phần ba đời Năm đã bị cảnh tù tội cướp mất (...). Cuộc đời Năm trải qua những phen nguy hiểm đã dày dạn như những lốt dao chém trên mặt, trên lưng và khắp hai cánh tay Năm”. Nguyên Hồng “bố trí” cho Tám Bính (cái tên từ khi làm gái tiếp khách làng chơi) gặp Năm Sài Gòn ngay cuối mục VI, phần thứ nhất. Riêng chúng tôi cứ tưởng tượng như cảnh Thúy Kiều gặp Từ Hải theo màn kịch của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Cũng không khác nào một tiếng sét ái tình như người ta nói. Năm Sài Gòn lập tức bị cuốn hút và dẫn dụ bởi Tám Bính. Rồi anh ta ra tay cứu vớt người đẹp theo mô-tip truyền thống. Năm Sài Gòn lập tức “lôi” Tám Bính ra khỏi hang ổ của mụ Tài - sế - cấu (một dạng Tú Bà thời hiện đại). Ở trang 58 (trên tổng số 176 trang tiểu thuyết), Tám Bính đã là người tự do. Và cô bắt đầu sống như vợ chồng với người đàn ông thứ hai. Một tên cướp khét tiếng nhưng là một con người tốt hiếm có trong cái “xã hội chó đẻ” bấy  giờ theo cách viết của Vũ Trọng Phụng. Chỉ có chưa đầy bốn trang tiểu thuyết, từ khi Tám Bính gặp Năm Sài Gòn và được anh giải phóng khỏi hang ổ điếm nhục, thời gian chỉ có vài ba tiếng đồng hồ. Từ đó cho đến kết thúc tiểu thuyết. Mọi chuyện đều trên thế mã hồi. Tất cả được đặt lên trên chuyến tàu định mệnh, trên một đường ray cố dịnh. Cứ thế lao lên phía trước, bất chấp cái phía trước ấy là mờ mịt hay le lói ánh sáng.

Nhưng Năm Sài  Gòn không phải là người đàn ông cuối cùng Tám Bính sống như vợ chồng trong đời mình. Bắt đầu là tham Chung ở sở đạc điền. Tiếp theo là Năm Sài Gòn tướng cướp khét tiếng đất cảng Hải Phòng. Sau nữa là ông mật thám đã bỏ tiền chuộc tội cho Tám Bính (nhà cô bị vu là chứa thuốc phiện). Đúng là “ba thu dồn lại một ngày dài ghê”. Chính tay Năm Sài Gòn đã làm chết đứa bé là con đẻ của Tám Bính bị bán và lưu lạc từ khi còn đỏ hỏn. Một cái kết không thể nào khác. Cảnh cuối là cuộc giáp mặt không mong muốn của Tám Bính với ông mật thám từng bỏ tiền ra cứu và lấy Tám Bính làm vợ cách đó 3 năm. Cả Năm Sài Gòn, cả Tám Bính đều bị tra tay vào còng. Tám Bình nhìn Năm Sài Gòn và chỉ thốt lên được “Thế là hết”. Một cái chết đã được báo trước. Một kết cục đã được báo trước. Tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, cảnh cuối như là một bi kịch chính thống. Nó thanh tẩy tâm hồn độc giả. Cho đến đầu thế kỷ XXI, khi Bỉ vỏ được chuyển thành kịch diễn trên sân khấu Thủ đô, nó vẫn còn lấy nhiều nước mắt của khán giả hôm nay vốn lạnh lùng. Đó là một điều kỳ diệu của nghệ thuật. Điều này ứng với nhận xét “Nơi tác phẩm kết thúc chính là nơi đời sống của nó bắt đầu”.

Đọc Bỉ vỏ là đọc theo cách đọc truyện ngắn (đọc một hơi, tiếp thu tức thì, đọng lại một ấn tượng,...). Nó giống như một truyện ngắn được tiểu thuyết hóa. Bỉ vỏ cũng dễ dàng lên sân khấu vì nhiều cảnh (screen), nhiều tình huống kịch tính. Rất ít nhà văn đương đại đọc lại các tác phẩm kinh điển, trong đó có Bỉ vỏ. Rất ít nhà văn ngày nay chịu học hỏi các bậc tiền nhân trong nghệ thuật viết ngắn. Đa số cứ muốn câu chuyện của mình kể ra là liên tu bất tận. vào cái thời Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ. Chư có internet, mạng xã hội, chưa có các trò giải trí nhan nhản như trên truyền hình bây giờ, chưa có văn hóa - nghe nhìn bành trướng. Nghĩa là văn hóa đọc đang ở thế  thượng phong. Nhưng các nhà văn đương thời không hề lạm dụng câu chữ, không câu giờ, không viết dài, không làm mất thời gian của độc giả. Văn học Việt Nam thời kỳ 1930-1945 không có những tác phẩm bây giờ gọi là sử thi, toàn cảnh. Vì sao  nhà văn viết ngắn? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời với các nhà nghiên cứu xã hội học nghệ thuật.

KẾT LUẬN

Trong văn học đương đại Việt Nam (từ sau 1975), tiểu thuyết ngắn đang trở thành một khuynh hướng sáng tác, một “tiểu thể loại” của tiểu thuyết (được quan niệm như một hình thức nghệ thuật đặc biệt). Trong tiểu luận Dòng tiểu thuyết ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986-2006) in trong sách Tiểu huyết đương đại (NXB Văn hóa – Thông tin, 2009), chúng tôi đã khảo sát kỹ lưỡng khuynh hướng này. Trong tiểu luận nói trên chúng tôi đã dẫn chứng nhiều tiểu thuyết ngắn thành công của thời kỳ này như Thời gian của người (156 trang) của Nguyễn Khải, Thiên sứ (180 trang) của Phạm Thị Hoài, Lạc rừng (190 trang) của Trung Trung Đỉnh, Thoạt kỳ thủy (158 trang) của Nguyễn Bình Phương, Tấm ván phóng dao (197 trang) của Mạc Can, Thiên thần sám hối (125 trang) của Tạ Duy Anh, Sông Mê (207 trang) của Châu Diên,... Viết ngắn, thiết nghĩ là nhà văn hướng tới công chúng trong tinh thần đồng sáng tạo. Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã cung cấp cho các nhà văn đương thời những kinh nghiệm nghệ thuật quý giá khi bắt tay viết tiểu thuyết ngắn.

Cũng trong tiểu luận này, chúng tôi đã khái quát một số đặc trưng thể loại của tiểu thuyết ngắn: sự dồn nén dung lượng, sự giản lược cốt truyện và nhân vật, thay đổi cấu trúc tác phẩm (từ lịch sử - sự kiện sang lịch sử - tâm hồn). Viết tiểu thuyết ngắn, theo chúng tôi, là phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ của tác giả và độc giả ngày nay, vì suy cho cùng sáng tác là một hành động tương liên giữa “phát” và “nhận”. Hơn thế, viết ngắn là phù hợp với cơ chế đọc hiện nay trong cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa văn hóa đọc và văn hóa nghe nhìn. Rất có thể ý kiến của chúng tôi sẽ gây hấn nhà văn và giới phê bình “Viết dài để làm gì? Viết dài cho ai đọc?”. Đúng như  nhà văn Mỹ Filip Roth đã viết “Độc giả của tiểu thuyết sẽ chỉ còn những người thật sự sùng bái tiểu thuyết mà thôi”. Nhà văn Banglades Zia Rahman thì lo âu “Ngay cả người sáng tạo còn không muốn cứu tác phẩm văn học, làm gì còn ai cứu nữa” (theo báo Văn nghệ, số 3, ra ngày 20-1-2018).

Hà Nội, tháng 10-2018
BÙI VIỆT THẮNG
Nguồn: VHP




Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH: HIỆN ĐẠI MÀ SÂU ĐẬM BẢN SẮC

Trở về Việt Nam, Sư ông sẽ được hít thở mùi lá thông của đồi Dương Xuân, sớm chiều nghe tiếng chuông tiếng mõ…
Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Có thể gọi sự trở về tịnh dưỡng tại tổ đình Từ Hiếu, Huế của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở tuổi 93, môn đệ gọi thân thương là Sư ông, vào hạ tuần tháng 10 vừa qua là sự trở về của đứa con nghe tiếng mẹ gọi, cũng là tiếng lòng của Sư ông từ mấy mươi năm trước: Mười năm vườn xưa xanh tốt/ Hai mươi năm nắng dọi lều tranh/ Mẹ tôi gọi tôi về/ Bên bếp nước rửa chân/ Hơ tay trên bếp lửa hồng/ Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống...

Từ nay Sư ông sẽ hít thở mùi lá thông của đồi Dương Xuân, sớm chiều nghe tiếng chuông tiếng mõ, có lúc lỗi nhịp của chú tiểu còn ngủ gật khi đọc kinh... mà bất giác mỉm cười nhận ra chính mình thuở "đồng chơn nhập đạo"!

Thế cuộc đẩy xô con người đi những cung đường không ai có thể lường trước được, thời vận nước nổi trôi Sư ông cũng không ở ngoài quy luật. Nhưng tha hương bất ly hương, ở xa quê mà không tách biệt với quê, là đặc điểm dễ nhận ra ở Sư ông: Từ phong thái, ánh nhìn lời nói, chiếc áo nâu sồng và nón lá cho đến những dữ liệu đi vào trang viết: vườn cải hoa vàng, con đò bến sông, người mẹ quê... hiện ra chân quê hơn bao giờ hết. Ông yêu biết mấy những đơn sơ bụi chuối hàng cau, quê hương trong trái tim ông tuy "còn dính cát bụi", nhưng "trăng sao vẫn đẹp những đêm rằm" (thơ của Thiền sư).

Môi trường Phật giáo Huế thời của Sư ông nổi tiếng thâm nghiêm, kinh sách toàn bằng chữ Hán lại chịu ảnh hưởng lễ nghi của phong kiến triều Nguyễn... Cho nên cách xưng hô trong chùa cũng "cổ xưa", những: thỉnh, bạch, bẩm, hầu, con, ngài... sử dụng nhiều vô hình trung tạo bức rào trong giao tiếp.
Sớm nhận thấy rào cản ngôn ngữ trong việc đưa đạo Phật đến với quần chúng trẻ tuổi, Sư ông mạnh dạn cải cách. Ông xưng sư huynh sư đệ trong chùa, dùng từ "EM" khi giảng Thiền. Tiếp xúc với Sư ông cảm thấy khoảng cách gần lại, đọc sách của ông thấy học Phật không phải là chuyện cao vời: "Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ... Rồi sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: "Mẹ ơi, mẹ có biết không?" Mẹ hơi ngạc nhiên, và sẽ hỏi em: "biết gì?" - "Mẹ có biết là con thương mẹ không?"... (tác phẩm Bông hồng cài áo của Sư ông).

Mang ngôn ngữ tươi mát của đời sống hiện thực vào Thiền là một trong những nguyên nhân khiến sách ông trở thành "best-seller". Tựa sách do ông viết như: Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời (Living Buddha Living Christ), Đường xưa mây trắng (Old Path White Clouds)... phát hành đạt con số triệu bản. Nhiều người nhờ thực tập Thiền tỉnh thức (Mindfulness) mà tìm ra phương án cho vấn đề nội tại của mình, những vấn đề văn minh vật chất không giải quyết được.

Là người thể nghiệm năng lượng Thiền học từ nhỏ nhưng Sư ông không coi đạo Phật là tôn giáo số một. Ông khiêm tốn dung hòa đạo Phật trong bối cảnh của thế giới đa sắc tộc đa văn hóa. Nhờ thế mà bước chân hành đạo của ông đi qua cả chục quốc gia, đến đâu ông cũng nhận được sự thân thiện và yêu mến của người địa phương.

Trung tâm thực tập thiền Làng Mai (Plumvillage) do ông thành lập ở nước Pháp có hàng chục ngàn người phương Tây đến thực tập. Các thành phố mà truyền thống Tin Lành, Công giáo đã làm rễ hàng thế kỷ như London, New York... từng in dấu một thầy tu người Việt Nam mảnh khảnh nhưng có thể "mời" hàng ngàn người phương Tây "ngồi tĩnh lặng" (Seat in peace). Nói chuyện với MC truyền hình nổi tiếng thế giới Oprah Winfrey, ông nói "Chúa chính là Phật của phương Tây"!

Theo Sư ông: "Phật giáo luôn luôn có thái độ cởi mở, phá chấp. Không nên bám víu một giáo điều cho đó là chân lý tuyệt đối và để rồi xem các giáo lý khác là tà đạo. Tình yêu trong đạo Phật là “Từ, Bi, Hỷ, Xả.” Xả là "inclusiveness", không loại trừ bất cứ người nào ra khỏi tình thương của mình"... Quan điểm như vậy thổi cơn gió mát vào bầu không khí xung đột về sắc tộc tôn giáo của thế giới hiện đại luôn tiềm ẩn những nguy cơ.

Một phút chánh niệm: Nói về Sư ông những mỹ từ cao đẹp tới đâu cũng là sáo rỗng nếu không thực tập Chánh niệm: "Khi bạn thở chánh niệm tức là chánh niệm về hơi thở. Khi bạn đi chánh niệm tức là chánh niệm vào bước chân. Chánh niệm có thể được đem vào đối tượng của vật lý và tâm lý. Đem đến sự nhận diện và nhẹ nhàng. Sự sống chỉ có thể có mặt trong giây phút hiện tại"...

Tôi nhận ra trong đám mây đang vân du trên bầu trời xứ Huế hay những cánh diều tung bay trên đồng quê xứ Quảng có hơi nước của Biển Đông, mùi rơm rạ của Đồng bằng Bắc Bộ, mùi cỏ lá ở Miền Tây... và khoan thai hình dáng Sư ông: Thở vào tâm tỉnh lặng / thở ra miệng mỉm cười / An trú trong hiện tại / giây phút đẹp tuyệt vời...

TRÚC NGUYỄN
Nguồn: Tuanvietnam




Thứ Năm, 9 tháng 5, 2019

MỘT TRIẾT GIA THÔNG THÁI, MỘT NHÂN CÁCH CAO ĐẸP

Nói về đội ngũ những nhà triết học Việt Nam, thầy Trần Văn Giàu chân thành tự nhận xét về mình, về người: "Mình không có truyền thống triết học nên có thể nói nếu có một nhà triết học thì người đó không phải là Trần Văn Giàu. Trần Văn Giàu là một giáo sư triết học hay nhà nghiên cứu triết học. Người đó chính là Trần Đức Thảo" (Báo Văn Nghệ số ra ngày 3/6/1992).
Triết gia Trần Đức Thảo

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng những kỷ niệm thời còn là sinh viên Trường Đại học Sư phạm vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Lớp văn khoa 1954 - 1957 được các thầy Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Lương Ngọc, Hoàng Xuân Nhị giảng dạy. Ngày nay, đi trên đường phố Hà Nội, Tp HCM, ta luôn bắt gặp và tự hào với tên phố của các thầy Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn, Hoàng Xuân Nhị, Đào Duy Anh… Nhiều thầy được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Như một dàn sao sáng trên trời đêm, nhiều ngôi sao đã lặn, đã tắt nhưng còn để lại ánh sáng cho đời.

Hồi ấy dạy chúng tôi, các thầy đã thành danh, thành đạt nhưng tuổi tác chưa nhiều. Vào năm 1955, thầy Cao Xuân Huy mới 55 tuổi, thầy Đào Duy Anh 51 tuổi, thầy Đặng Thai Mai 53 tuổi, thầy Hoàng Xuân Nhị 41 tuổi, thầy Trương Tửu 42 tuổi và trẻ nhất là thầy Trần Đức Thảo 38 tuổi. Thầy Thảo có dáng vẻ một trí thức phương Tây. Kể cũng khó đoán định thầy qua tướng mạo bên ngoài. Có lần nhà thơ Tế Hanh nói: Có hai người gặp ở ngoài đời có thể đoán được ngay là nhà thơ: Xuân Diệu với mái tóc bồng đẹp, rủ xuống trán, luôn ngó nghiêng ngơ ngác, nhìn lên trời, còn Đinh Hùng lại có dáng con gái, da trắng, tóc mai xoăn từng món nhỏ trông rất đẹp. Giáo sư Trần Đức Thảo với dáng người thư sinh, đôi kính trắng, vầng trán cao nhưng không thể nghĩ thầy là nhà thơ. Thầy nghiêm, nét mặt lạnh và như đang suy nghĩ - đúng là nhà triết học duy tâm của một thời. Ngày nay, các nhà triết học bình dị hơn, người đi bộ đội về, vào đại học, học ngành triết, người từ cán bộ phong trào tự học mà thành.

Thầy Trần Đức Thảo là nhà triết học nổi tiếng. Thầy được ghi danh vào cuốn Tự điển "Những nhà triết học" (Nhà xuất bản Đại học Paris - 1984) với sự giới thiệu trang trọng. Ngoài mục từ "Trần Đức Thảo" có mục từ "Nguyễn Đình Thi" với bốn tác phẩm triết về Kant, Descartes, Siêu hình học, Nietzche viết ở tuổi còn trên ghế nhà trường Đại học. Thầy Thảo là tác giả của nhiều cuốn sách có tầm cỡ thế giới: "Nghiên cứu nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức"; "Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng"; "Vấn đề con người và chủ nghĩa "lý luận không có con người" và những huyền thoại về cuộc tranh luận thắng thế về triết học của thầy ở nước ngoài.

Chúng tôi được học thầy Thảo về triết học duy tâm, chủ yếu là của phương Tây. Thầy Thảo vốn ở Pháp về cùng với một số trí thức trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp như Trần Đại Nghĩa ở Đức về, Đặng Văn Ngữ ở Nhật về. Các nhà khoa học tự nhiên có thể đóng góp ngay cho yêu cầu của cuộc kháng chiến: Giáo sư Trần Đại Nghĩa chế loại súng SKZ và Bazôka; Giáo sư Đặng Văn Ngữ chế thuốc kháng sinh. Giáo sư Trần Đức Thảo được bố trí vào công việc nghiên cứu khoa học xã hội. Là một nhà triết học duy tâm nổi tiếng, Trần Đức Thảo bắt đầu từ đầu với triết học duy vật biện chứng. Nghe nói có một vị lãnh đạo nói với giáo sư: Anh không thể bước từ đỉnh của triết học duy tâm sang đỉnh của triết học duy vật mà phải đi xuống, phải "hạ sơn" rồi từ dưới leo dần lên đỉnh cao của triết học duy vật. Câu nói hay nhưng thực ra Giáo sư Trần Đức Thảo cũng đã nghiên cứu triết học duy vật biện chứng và có thành quả. Chuyện ấy là của một thời ở Việt Bắc và bây giờ thầy Thảo đang dạy chúng tôi. Lớp văn có khoảng hơn 100 sinh viên ngồi học ở giảng đường lớn phố Lê Thánh Tông. Thầy đến trường bằng xe đạp Mercier. Thầy Thảo được ưu tiên với xe Mercier đuyra, các thầy khác là Mercier sắt. Khi một vài anh em chúng tôi được giữ lại làm cán bộ cũng được nhận một xe đạp Tourist của Tiệp. Thầy Thảo thường phóng thẳng xe qua cổng lên dốc cao rồi dựa xe vào hành lang và vào thẳng lớp. Mọi người đứng lên chào thầy, thầy sẽ gật đầu và bắt ngay vào giảng, tay cầm micro nói một hơi cho đến giờ nghỉ. Thầy lên văn phòng một lúc lại quay về lớp giảng tiếp một hơi cho đến kết thúc. Không nói hùng hồn, hùng biện như các thầy Trần Văn Giàu và Trương Tửu mà giọng nói đều đều không vội vàng, không vấp váp như nước trong suối nguồn chảy ra. Phải có một tư duy có hệ thống, có logic chặt chẽ trong cấu tạo ý tưởng mới có thể chuyển tải bài giảng dài không hề lệ thuộc vào sách vở. Có lúc một tay thầy cầm micro một tay bỏ túi quần, mắt như nhìn chúng tôi mà không nhìn vào ai cụ thể. Lớp chúng tôi cử ra hai anh là Nguyễn Đình Chú và Phạm Hoàng Gia, hai sinh viên chữ đẹp, viết nhanh để ghi lại lời thầy. Không có ghi âm hoặc yếu tố nào hỗ trợ, các anh Nguyễn Đình Chú và Phạm Hoàng Gia được dành 2 ghế ở hàng đầu có đánh dấu phấn để các anh tiện công việc. Các anh về xem lại phần ghi chép và gửi đến thầy, thầy chỉnh lý rồi cho in, giờ học sau chúng tôi đã có bài giảng kịp thời. Có anh chị nói vui: Thầy nào cũng như thầy Thảo thì việc viết sách giáo khoa rất thuận tiện và không tốn kém.

Từ Việt Bắc về Hà Nội, Giáo sư Trần Đức Thảo vẫn giữ nguyên được vốn quý triết học nhưng về chính trị, thầy chưa trải nghiệm qua nhiều thử thách. Đúng lúc này phong trào Nhân văn - Giai phẩm xuất hiện. Trường đại học là một "cứ điểm" mà các phần tử xấu bên ngoài có ý thức khai thác lợi dụng. Các Giáo sư Trương Tửu, Trần Đức Thảo đều có bài viết. Giáo sư Trần Đức Thảo với bài: "Nỗ lực phát triển tự do dân chủ" (đăng trên Nhân văn số 3, 15-10-1956), trong đó tác giả đề cao, nhấn mạnh đến yêu cầu phát triển tự do cá nhân. Tác giả phê phán những tư tưởng làm hạn chế sự phát triển xã hội như quan liêu, bè phái, giáo điều, sùng bái cá nhân. Tác giả cho rằng "xét đến tình hình thế giới mới đây lý tưởng tự do cá nhân lại là lý tưởng của những ngày tiến tới, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội".

Bài viết của Giáo sư Trần Đức Thảo không chống Đảng, không chống CNXH. Tuy nhiên, tác giả đã quá đề cao tự do cá nhân trong tình hình khuynh hướng xấu đang khoét sâu vào sự lãnh đạo, ở nơi này nơi khác có phần gò bó về tư tưởng, xem nhẹ vai trò của cá nhân. Có thể nói tác giả đã thiếu nhạy cảm trước tình hình phức tạp của thời kỳ này, đặc biệt là những hoạt động của khuynh hướng xấu. Kết quả là Giáo sư Trần Đức Thảo bị ngừng giảng dạy, một số cuộc họp trong trường phê phán Giáo sư Trương Tửu và Giáo sư Trần Đức Thảo. Trong một bài viết, một giáo sư bạn của Giáo sư Trần Đức Thảo có những lời lẽ nặng nề: "Trần Đức Thảo lợi dụng chính ngay bục nhà trường của chúng ta để phun ra những nọc độc chống lại chủ nghĩa xã hội".

Là một sinh viên nghe giảng hết cả giáo trình dài của Giáo sư Trần Đức Thảo, tôi thấy nhận xét trên là không đúng.

Chuyện qua đã lâu, thầy nói đúng, thầy nói chưa đúng đều là thầy, và chắc khi thời cuộc "hạ nhiệt", các thầy không nghĩ thế và không nói thế. Thầy Thảo bắt đầu nghỉ việc giảng dạy ở trường. Từ đấy, thỉnh thoảng tôi trông thấy thầy đi bộ trên hè phố Hàng Chuối, đôi lúc vừa đi vừa độc thoại những điều gì, như đang chuyện trò với ai. Từ đấy, thầy phải lo toan chuyện sinh hoạt riêng, thỉnh thoảng đi mua bán với chiếc xe đạp con vịt Liên Xô có nâng cao yên, cổ xe quàng một chiếc bị để tiện mua bán.

Sau những năm tháng chịu đựng nhiều vất vả nhưng thầy Thảo không hề oán giận, trách móc, thầy vẫn lặng lẽ sống chịu đựng, quan tâm đến nghiên cứu khoa học, nhận những công việc được giao phó và hoàn thành có trách nhiệm. Những năm cuối đời, thầy sang Pháp một thời gian và lưu trú trong một nhà trọ tập thể của sứ quán, số 2 Le Verrier. Sau một cơn đau đột ngột, thầy mất và cơ quan gửi về nước một bình tro - phần còn lại của nhà triết học. Sau đó một thời gian, ở đại giảng đường Trường Đại học Tổng hợp tổ chức tưởng niệm thầy. Tôi cũng được tham dự và thắp một nén nhang kính viếng thầy. Tôi nghĩ miên man, và hình dung hình ảnh thầy, cũng ở giảng đường này truyền đạt kiến thức như cha đạo giảng cho các con chiên và hôm nay chỉ còn lại một bình tro lạnh với những nén hương tỏa bay, khói tưởng niệm một tài năng lớn. Thầy đã về cõi vĩnh hằng.

Hiểu rõ tài năng và những đóng góp mà thầy đã sống và hoạt động, Nhà nước đã truy tặng thầy Huân chương Độc lập hạng Nhì vào năm 1993. Năm 2000, thầy được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Năm 2000, lúc tôi làm Viện trưởng Viện Văn học được tham gia trong Hội đồng quốc gia về giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước. Tôi được bỏ lá phiếu cho thầy và các thầy Phạm Huy Thông, Đào Duy Anh. Thầy Thảo đạt phiếu cao, thầy Đào Duy Anh được thầy giáo phản biện Phan Ngọc gọi là "nhà văn hóa khổng lồ". Thầy Phạm Huy Thông tuy ít sách nhưng lại nhiều danh tiếng. Tất cả đều thành công.

Nói về đội ngũ những nhà triết học Việt Nam, thầy Trần Văn Giàu chân thành tự nhận xét về mình, về người: "Mình không có truyền thống triết học nên có thể nói nếu có một nhà triết học thì người đó không phải là Trần Văn Giàu. Trần Văn Giàu là một giáo sư triết học hay nhà nghiên cứu triết học. Người đó chính là Trần Đức Thảo" (Báo Văn nghệ số ra ngày 3/6/1992).

Kỷ niệm 20 năm ngày mất của Giáo sư Trần Đức Thảo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổ chức "Hội thảo khoa học quốc tế Tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức Thảo" vào ngày 7/5/2013. Có tất cả 48 bản tham luận xoay quanh ba vấn đề con người và sự nghiệp, tư tưởng triết học Trần Đức Thảo và các lĩnh vực khoa học khác, trong đó có 5 tham luận của các đại biểu quốc tế; gồm 4 giáo sư người Pháp và một giáo sư người Hoa.

Hà Nội, 6/5/2013
HÀ MINH ĐỨC



ĐẶNG TƯỜNG VY - SÓNG NGẦM VỖ NHỊP YÊU THƯƠNG

Với Đặng Tường Vy, tình yêu chân chính vì nhau và cho nhau thật sự không bao giờ chấp nhận, hoặc cam chịu cảnh cá chậu, chim lồng, sự tự do trong cầm tù, tự do trong giả hiệu…
Nhà thơ Đặng Tường Vy

Tôi có một bài thơ viết cách đây hơn chục năm muốn gửi cho một người mà chưa tìm được địa chỉ. Đó là bài “Lục bát con đò” gồm 5 khổ như sau:

Lần này đò chửa sang sông
Liệu đò có biết tôi mong tôi chờ...

Đã từng qua một lần đò
Sợ gì sóng cả mà lo dập dềnh.

Có đêm tôi khóc một mình
Trách đò sao nỡ vô tình với tôi.

Con sông bên lở bên bồi
Đò nằm bên lở tôi ngồi khóc ai?

Lẽ nào tôi khóc bên bồi
Để đò bên lở cho người ta thương...

May mắn thay, đầu tháng 7 vừa qua, trong dịp vào dự một lễ cưới ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi có cuộc hội ngộ với một số nhà thơ, trong đó có Đặng Tường Vy - một nữ tác giả có khuôn mặt dịu dàng, rất dễ mến, dễ gần. Qua tiếp xúc tôi có cảm giác như mình đã tìm được địa chỉ gửi bài thơ trên với một niềm tin chắc chắn sẽ nhận được sự sẻ chia và đồng cảm. Dự cảm đó quả không sai, nhất là khi tôi vừa nhận được bản thảo tập thơ “Sóng ngầm” của Đặng Tường Vy với những cảm xúc tươi mới, khiến tôi không thể không viết đôi lời cảm nhận của mình về tập thơ này.

“Sóng ngầm” là tập thơ thứ 4 của Đặng Tường Vy (tên thật là Đặng Thị Lụa) kế sau 3 tập thơ đã xuất bản: “Giọt sương khuya”, “Lá thu phai” và “Sóng tình”, được viết chỉ trong vòng 5 năm sau sự tan vỡ của một mối tình không thể ngờ tới, để từ đó kết duyên mặn mà và sâu đậm với nàng thơ như một cơ duyên. Có thể khẳng định rằng, qua 4 tập thơ, Đặng Tường Vy đã thực hiện một cuộc vượt thoát ngoạn mục trước sự trớ trêu của số phận, trước nỗi đau thấu tim mà mình phải gánh chịu, để tự khẳng định bản ngã của mình với tình yêu thương nồng nàn cuộc sống và cất cánh bay cùng thi ca. Nói như thi sĩ Chế Lan Viên là “từ thung lũng đau thương đi ra cánh đồng vui”, cánh đồng của những chân trời rộng mở đón đợi và hy vọng. Tôi nghĩ, tiếng thơ của Đặng Tường Vy là một tiếng thơ như vậy.

Đây là nỗi đau đè nặng lên vai người thiếu phụ đang độ xuân thì, để Đặng Tường Vy phải bật thốt lên những lời xé ruột:

Trăng chưa từng vàng rỡ
Dưới trời đêm ba mươi
Ta một lần lầm lỡ
Nghẹn mây mà vẫn cười.

Đó là nụ cười “nghẹn mây”, nụ cười ra nước mắt, nụ cười đắng cay trước mịt mùng “đêm ba mươi”, bởi “Trăng chưa từng vàng rỡ” của một trái tim đa cảm và khao khát tình yêu. Và hệ quả tất yếu của mối tình đó sẽ phải dẫn tới một kết cục: “Gió bay theo đời gió/ Ta bước đi đường ta” mà một người phụ nữ thực sự yêu đời, khát khao cuộc sống tốt đẹp không bao giờ mong muốn. Nhưng Đặng Tường Vy không gục ngã trên đường đời, chị đã đứng dậy mạnh mẽ và quyết liệt với một phẩm chất người mang giá trị nhân bản như chị đã từng giãi tỏ: “Sau bao lạnh lẽo u tối sau lưng, tôi đã tìm được mùa xuân cho riêng mình. Xếp lại quá khứ..., tiếp tục hành trình tìm kiếm hạnh phúc, tự tay vun trồng hạt từ tâm chai sạn bởi phong ba, mong sao chúng lên mầm tươi tốt...”. Đó là tâm nguyện của chị. Và đó cũng là khởi nguồn của thi ca trong tâm thức chị, khởi nguồn của “Sóng ngầm”dào dạt trong đại dương yêu thương mênh mông.

Như vậy, “Sóng ngầm” chính là sự bộc lộ tâm thức, tâm cảm một cách thành thực sau những đau thương mất mát của cuộc đời, mà nếu không nâng niu vun trồng thì thông thể có được sự tròn đầy, viên mãn.

Chính vì thế, bài thơ “Sóng ngầm” được Đặng Tường Vy chọn làm tiêu đề cho tập thơ thứ 4 của mình như một tuyên ngôn tâm cảm:

Anh đi rồi, chim trời im tiếng
Vắng anh rồi, cá biển biệt tăm
Tròn thu thiếu bóng trăng rằm
Trong hơi thở biển, sóng ngầm dội vang

Anh đi rồi, thiên đàng đóng cửa
Thu chưa tàn đỏ lửa mùa sang
Người đi lạc gói hành trang
Bỏ con suối nhỏ vắt ngang mảnh sầu.

Sự hiện diện của “Anh” là sự viên mãn của tình yêu, của tình người, tình đời, kết nên gia đình, đất nước, Tổ quốc và nhân loại. “Sóng ngầm dội vang” “trong hơi thở biển” chính là sóng lòng vỗ nhịp yêu thương trong sự thiếu vắng “Anh”, trong niềm khát khao đợi chờ “Anh”. Cảm thức đó là cảm thức nhân thế đầy nữ tính như một đòi hỏi nữ quyền mang tính phổ quát nhân loại. Chính từ điểm nhìn và sự cảm nhận này, ta có thể đồng cảm và sẻ chia sâu sắc hơn với những cung bậc cảm xúc của Đặng Tường Vy trong “Sóng ngầm”.
Tập thơ “Sóng ngầm” của Đặng Tường Vy

Với Đặng Tường Vy, tình yêu bắt đầu thức dậy từ những “Lời thì thầm”. Đó là lời trái tim, lời mùa xuân, bởi “Mùa yêu thương còn đó/ Lá tình vẫn gạch son”, và còn bởi “Hai đứa mình đừng vội/ Mùa dậy thì còn xanh”, với những “Giả dụ” rất đậm đà và khoáng đạt, thậm chí cả khi “lửa cháy nhanh/ Chỉ một lần rồi tắt”, thì cũng chỉ nên coi “Đó là lần sống thật/ Đừng trách chuyến đò ngang” một cách vô tình.

Với Đặng Tường Vy, tình yêu chân chính vì nhau và cho nhau thật sự không bao giờ chấp nhận, hoặc cam chịu cảnh cá chậu, chim lồng, sự tự do trong cầm tù, tự do trong giả hiệu: “Em sợ loài cá cảnh/ Khóc ngục tù trăm năm” và “Thương chim lồng bặt tiếng/ Nơi gác tía lầu son”, bởi chính cái đó đã làm cho tình yêu mòn mỏi và chết mòn khát vọng.

Với Đặng Tường Vy, tình yêu vững bền phải là thứ tình yêu biết bao dung, đùm bọc, che chở cho nhau, thương yêu nhau trong sự xoắn bện khăng khít như măng và tre: “Bao giờ măng biết thương tre?/ Còng lưng cõng gánh trưa hè nắng oi/ Liêu xiêu hứng ngọn bão đời/ Nào sương, nào gió, nào bời bời mưa”. Bởi, trong chị, luôn cháy bùng mơ ước: “Ước gì em suối mát trong/ Anh là sỏi đá cũng không lạc rời”,  “Em có là đá sỏi/ Vẫn khát giọt mưa tuôn”. Đó cũng chính là niềm khát khao vươn tới sự vi diệu của tình yêu: “Một lần/ môi chạm đỉnh trời/ Một lần/ xin khắc ghi đời tên anh”.

Dường như nói bao nhiêu cũng không bộc lộ được hết lòng mình, Đặng Tường Vy còn hoá thân thành một người con trai để bày tỏ nguyện ước sâu kín: “Xin em một chút đàn bà/ Cho anh được rót thật thà trăm năm/ Cho anh sống kiếp giam cầm/ Chung thân với ánh trăng rằm... trinh nguyên”. Bởi, với chị, chỉ “một lần đò lỡ” đã “nắng chia lạc cung đường”, để lại bao xa xót, bao ẩn ức: “Quên nhớ nào có dễ/ Bởi nơi bờ ngực đầy/ Còn in sâu cội rễ/ Bồng bềnh... bồng bềnh say”, trong cuộc kiếm tìm “lời trăm năm” không ngừng nghỉ: “Đêm nay gió thổi ngang đồi/ Hỏi chăng cỏ rối còn lời trăm năm?”.

Có thể nói, những đợt “Sóng ngầm” càng đầy lên trong biển tình yêu, thì nỗi đợi chờ càng trở nên da diết và khắc khoải. Không phải là một ảo vọng, mà “Anh” với tư cách một người tình lý tưởng, một người tình của “lời trăm năm” vẫn luôn hiện hữu trong mơ ước, trong khát vọng. Cho nên em vẫn hằng đợi hằng chờ:

Sương rơi thấm ngọn cỏ mềm
Nhớ anh đá cũng già thêm tuổi đời

Gió bay, sóng cuộn, mây dời
Yêu anh em ngắm mấy đời trăng qua

Đợi anh Cuội tuổi thêm già
Tóc thêm sợi bạc điểm qua mái đầu

Anh ơi! Nhắn vội một câu
Trăng bên thềm cũ tím màu nhớ thương.
Bởi vì, chỉ có “Anh về” thì giấc mơ em mới đơm hoa kết trái:
Anh về nơi đá đơm hoa
Uống từng hơi thở cuộn qua môi mềm

Con sông tình ái êm đềm
Trăm năm khắc nhớ những đêm trăng tròn

Anh trèo lên đỉnh chon von
Vượt qua núi núi con non điệp trùng

Anh về xây mối tình chung
Dốc hết tận cùng nói tiếng yêu em...

Nhưng cuộc đời của một người con gái, nhất là với một thiếu phụ “Đã từng qua một lần đò”, thì một người “tình trăm năm” như thế đâu phải dễ kiếm tìm! Sau những đợt “Sóng ngầm” xoáy xiết, để thoả nỗi chờ mong, Đặng Tường Vy trở về với lòng mình bằng một phác hoạ người “tình trăm năm” trong tưởng tượng:

Vẽ anh, bức vẽ tuyệt vời
Nắng Vàng tô điểm soi đời Lụa êm

Vẽ anh qua bức màn đêm
Vàng trăng ánh Lụa trầu têm cánh hồng

Vẽ anh, chén rượu cay nồng
Say rồi, say nữa, bềnh bồng trăm năm.

Với Đặng Tường Vy, đó thực sự là một hạnh phúc, dù là hạnh phúc trong tưởng tượng, bởi nó không chỉ là khao khát mà còn là một bản năng, một đòi hỏi của bản thể. Đúng như nhà triết học Nietzsche đã nói: Chừng nào cuộc đời còn đi lên thì hạnh phúc và bản năng là đồng nhất, bản năng tạo ra hấp lực cho mọi vẻ đẹp.

Chắc chắn, bức hoạ đó sẽ chắp cánh thơ cho Đặng Tường Vy - Đặng Thị Lụa trên hành trình thơ của mình, với “Sóng ngầm” khẳng định một bước tiến mới hứa hẹn triển vọng tốt đẹp của một tiếng thơ trẻ trung và đằm thắm, dào dạt tình yêu.

Phố Vương Thừa Vũ - Hà Nội ngày 31.7.2017
 QUANG HOÀI
(Lời tựa tập thơ Sóng ngầm)



Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019

NGUYỄN THỊ THU HUỆ: MAY MẮN CỦA HỌC TRÒ

Từ nhỏ, tôi chỉ tập trung học những môn mình thích. Khi đã thích, mọi vấn đề liên quan đến môn học đó như có một luồng sáng dẫn thẳng từ bài giảng trên lớp, sách vở chạy vào não rất nhanh. Và ngược lại, môn học nào không thích, luôn bị chắn bởi những cánh cửa vô hình khiến tôi chật vật, khó chịu.
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

Là con gái, nhưng tôi lại ham chơi và nghịch như thằng con trai. Thích đá bóng, quay ống bơ đốt những quả phi lao khô, bổ quay, bắn bi, trốn bố mẹ phóng thật nhanh xe đạp chở bạn trên những đường Thanh Niên, Phan Đình Phùng... Và, tất nhiên, tôi là học sinh cá biệt từ những năm cấp hai. Cá biệt bởi điểm một số môn cao vút, nhiều môn mất hút. Khi bạn bị kém môn nào, bạn rất ngại đối diện với nó. Ngại mỗi giờ lên lớp, ngại ngồi thẳng lưng, ngại nhìn thầy cô. Lúc nào cũng ước đất nứt ra, mình chui tạm xuống 45 phút rồi lại trồi lên. Đến tận bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn bị mơ ngủ với cảm giác sợ thi những môn tôi ghét giống như bị bóng đè.

Thế nhưng, tôi lại nhớ về ngày ấy với những cảm xúc êm đềm. Tôi chắc khó được như bây giờ nếu mắc kẹt ở những năm học cấp hai vốn bấp bênh nhất trong đời học sinh, nếu không lên được cấp ba rồi vào đại học, nếu không có thầy Hoài An.

Thường mỗi khi các cô bộ môn họp về tôi, thầy Hoài An xuất hiện. Sau sân trường có vườn thí nghiệm trồng các loại hoa vừa làm đẹp cho trường, vừa phục vụ học tập. Thầy bảo tôi ra đấy nói chuyện. Câu chuyện dài, nhưng thầy không một lời trách tôi chểnh mảng học hành, cũng chẳng dọa mách bố mẹ - trong khi nhiều cô bộ môn yêu cầu tôi phải viết kiểm điểm có chữ ký phụ huynh. Thầy hiểu cá tính của tôi. Thầy nói: "Người có cá tính rất quan trọng". Thầy nói về tương lai.

Đại ý câu của thầy Hoài An, rằng tất cả chúng ta phải đi qua những tấm  barrier của đường đời, mỗi một ngôi trường sẽ cấp cho mình một cái thẻ mở tấm barrier đó. Sau này, Huệ có thể làm việc này việc khác, nhưng không có những tấm thẻ kia, em sẽ không bao giờ thực hiện được ước mơ của mình. Em ghét toán lý hóa, thích văn, nhưng không được vì ghét mà đúp bởi các môn đó. Tại sao nhiều bạn trong lớp không thích văn, nhưng vẫn học, vì đấy là kiến thức cơ bản. Có kiến thức cơ bản, em mới đi tiếp. "Cố lên em ạ. Thầy rất tin vào em. Chỉ cần em không ghét toán, lý, hóa, là em học được ngay. Vào đại học là em được chọn môn mình thích để học rồi".

Đó là điều tôi nhớ và bây giờ luôn nói lại với hai con trai mỗi khi chúng giống tôi ngày ấy: thích môn này thì học rất tốt và đam mê, ghét môn kia là buông.

Có rất nhiều điều tác động đến cô bé mười bốn tuổi lúc đó. Giọng nói và cách nói của thầy. Vườn hoa có nhiều cây đang nở, vài con sâu róm bám vào những chiếc lá. Đôi mắt thầy vời vợi tình cảm nhưng nghiêm khắc. Và, tôi tự động mở những cánh cửa để tiếp nhận những điều tôi không thích.

Rồi tôi lên cấp ba. Số phận lại mỉm cười khi cô Thu Ba làm chủ nhiệm. Cô cũng hiểu ngay cá tính, những điểm mạnh và yếu của tôi. Tôi đỡ cực đoan hơn hồi cấp hai nhưng các môn học vẫn lệch. Và một lần nữa, cô Thu Ba đã giúp tôi cân bằng, để tôi tốt nghiệp loại cao rồi thi đại học.

Thế nào nhỉ? Có giai đoạn trong cuộc đời, ông bà là người gần mình nhất. Rồi đến bố mẹ. Có những khoảng lại là những người thầy. Chỉ cần người thầy đấy coi lũ trò không đơn thuần là dạy chúng những kiến thức có trong sách vở, đọc và chép, làm bài rồi trả bài như cái máy vô cảm, đời nhiều người sẽ khác. Tôi là một ví dụ. Không có thầy Hoài An ở cấp hai và cô Thu Ba ở cấp ba, tôi không tin mình sẽ có hôm nay. Một đứa trẻ mười ba, mười lăm chẳng nghĩ xa lắm về tương lai sự nghiệp sau này. Nó đơn giản, ở tuổi học thì học, rồi chơi vui với bạn, có những rung động đầu đời, vô lo vô nghĩ.

Làm thầy cô, hiểu tâm lý lứa tuổi và khả năng của từng học sinh là điều quan trọng. Đôi khi, nhiều thầy cô chỉ biết môn mình dạy, quan trọng hóa và đem suy nghĩ tuổi ba, bốn mươi áp đặt lên đứa trẻ hơn mười tuổi là sai lầm. Và, quan trọng nhất với một người thầy, là không được vùi dập, xúc phạm học sinh, đè bẹp cá tính của nó. Nếu ngày ấy, tôi gặp người thầy ưa nói những câu cay nghiệt, hay cô giáo có khoái cảm xúc phạm học sinh, cái sự học của tôi đứt đoạn giữa đường cũng nên.

Cách đây hai tháng, thầy Hoài An ở nước ngoài về, tìm tôi để tặng quà "cô học sinh cá biệt". Thầy bảo, thầy vẫn quan tâm đến tôi như ngày xưa, và thầy mừng. Còn cô Thu Ba, tôi vẫn gặp cô, hàng ngày theo dõi và liên tục "thả tim" đến cô qua trang cá nhân.

Không phải lúc nào tôi cũng thấy mình may mắn. Nhưng đôi lúc tôi cảm nhận được may mắn khi ở một khoảng rất xa về thời gian. Giống như bây giờ nhìn lại, tôi thấy mình đã thật may mắn và hạnh phúc khi trong đời gặp được nhiều thầy cô như người sinh ra mình lần thứ hai. Những người thầy đó đã làm được hơn rất nhiều công việc đòi hỏi họ, bằng tình cảm, tấm lòng và trách nhiệm trước mỗi con người.

NGUYỄN THỊ THU HUỆ
Nguồn: VNE


Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều