Thứ Tư, 6 tháng 2, 2019

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG & HÃY CẦM LẤY VÀ ĐỌC

Vào mùa Hội sách lần thứ IX-2016, lạc giữa biển sách, chắc hẳn mỗi độc giả đều có rất nhiều lựa chọn cho mình. Bên cạnh những cuốn sách đa dạng bày trên giá, bạn đọc sẽ bắt gặp một tác phẩm nói về những cuốn sách: “Hãy cầm lấy và đọc” của Huỳnh Như Phương, do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành tháng 3.2016.
GS Huỳnh Như Phương

Đây là tập hợp 61 bài viết của tác giả đã đăng tải trên nhiều tờ báo khác nhau: Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Người Lao Động, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Phụ Nữ, Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật, Văn Nghệ, Văn Nghệ TP HCM, Sài Gòn Tiếp Thị… Đây còn là kết quả cộng tác suốt 2 năm ròng của tác giả với trang Văn hóa đọc của Báo Doanh Nhân Sài Gòn cuối tuần.

Bước vào những trang văn “Hãy cầm lấy và đọc”, bạn đọc thấy mình như được tác giả dẫn dắt đi vào cuộc trò chuyện, khi thì diễn ra trong bầu không khí trang trọng trong một giảng đường, lúc thì ở một quán cà phê tĩnh lặng.... hoặc cũng có lúc tác giả như không còn hiện diện nữa mà để chúng ta đến với thế giới sách với mỗi riêng ta: trực tiếp và sâu lắng.

Phần đầu cuốn sách gồm 27 bài viết đụng chạm tới những khía cạnh thời sự của văn hóa đọc (Có chăng nghệ thuật đọc sách? Khám phá người đọc; Mùa xuân, sinh thái và văn chương; Sách - nhịp cầu giao lưu văn hóa...). Từ đó, dẫn đến những câu chuyện về việc viết sách, làm sách, tiêu thụ sách... mà tác giả ít nhiều có dự phần vào như một chứng nhân (Một tượng đài của văn hóa đọc, Người Sài Gòn và tình yêu sách, Khi nhà giáo viết sách, Sách phê bình và phê bình sách...), vừa ghi nhận những hiện tượng phức tạp (Hiện tượng “sách nhũn”; Sách ơi, nhiều lỗi quá!...) vừa đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng của văn hóa đọc (Một sáng kiến cho văn hóa đọc, Tủ sách Gia đình và ngày hội sách, Hướng tới một thị trường xuất bản lành mạnh...).
Bìa sách Hãy cầm lấy và đọc

Phần 2 của cuốn sách gồm 34 bài viết, có tiêu đề “Sách và người”. Đây vốn là những lời tựa, lời bạt trong sách và những bài điểm sách liên quan đến một số tác giả văn xuôi quan trọng của văn học hiện đại (Trần Tiêu - nhà văn của nông thôn, Võ Hồng trong trí nhớ, Trang Thế Hy giã biệt quán đời, Từ một bài báo xuân của Đoàn Giỏi...). Đối với tác giả, đọc là sống từng giây phút với cuộc đời này, lắng nghe ý nghĩa cuộc sống đã qua, với niềm vui đang được truyền trao cho chính mình (Khi triết học đi vào cuộc đời, Tạp văn của Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Mạnh Tuấn kể tiếp chuyện đời, Trong thế giới nhân vật của Phan Triều Hải...).

Bằng lối viết nhẹ nhàng, trang nhã, luôn thấm đượm lòng quý trọng của một người đọc, đồng thời là một nhà giáo, đối với những giá trị tinh thần mà thế giới sách mang lại, “Hãy cầm lấy và đọc” thật ra chỉ là những lời đề nghị, gợi ý... của một người yêu sách. Qua những trang viết này, có thể cảm nhận một ngọn lửa đang được thắp lên khiến lòng ấm lại trong cuộc lãng du về với những kỷ niệm, đến với những suy tư, băn khoăn, day dứt, hy vọng... như cùng tác giả tham dự vào thế giới phong phú và sinh động của văn chương.

HỒ CÔNG HOÀI DŨNG
Theo NVTPHCM


Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019

ĐẶNG TƯỜNG VY - NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỘC BƯỚC

Đặng Tường Vy có hai bài “dính” đến hai từ “độc bước”. Ấy là câu Ta độc bước… tìm tatrong “Ta – tìm – ta” và Độc bước tình rêu phong tình trong “Rêu phong cuộc tình”. Đó là hai gợi ý để tôi đặt tên bài viết ngắn này...
Nhà thơ Đặng Tường Vy

Thời chống Pháp, tứ thơ “Đồng chí” của Chính Hữu sẽ không bay lên được nếu không có câu kết: Đầu súng trăng treo. Thời chống Mỹ, tứ thơ “Tiếng bom ở Seng Phan” của Phạm Tiến Duật sẽ không đứng được nếu không có hai câu kết: Thế đấy ở chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ. Tất nhiên, để có mấy câu để kết, cả “Đồng chí” lẫn “Tiếng bom ở Seng Phan” đều phải có một đoạn dẫn dắt. Trong “Đồng chí” là 19 câu. Trong “Tiếng bom ở Seng Phan” là 12 câu. Đoạn dẫn dắt này giống như một sợi dây cháy chậm, sợi dây dẫn đến điểm nổ.
   
Nửa đầu thế kỷ 20, nhà thơ lớn người Đức B. Brecht có tứ thơ “Nếu hòn sỏi nói” (do Mai Lược chuyển ngữ) nổi tiếng:

Khi bạn tung hòn sỏi lên trời
Hòn sỏi nói: Tôi sẽ rơi về đất
Bạn tin hòn sỏi kia nói thật.

Nếu có ai ném bạn xuống nước
Chắc chắn bạn sẽ bị ướt.

Nếu có cô gái viết thư và hẹn giờ đến gặp
Thì bạn chớ vội tin
Vì đó không phải là tất yếu của tự nhiên.
   
Ít nhất, bài thơ cũng phải có 7 câu ở cả ba khổ đặt ra 3 giả định để rồi đi đến kết luận: Tất yếu của xã hội khác với tất yếu của tự nhiên bằng câu kết: Vì đó không phải là tất yếu của tự nhiên.
  
Tuy vậy, bên cạnh đó, vẫn có những tứ thơ tràn ra khỏi mọi khuôn phép và có khi chỉ cần có một câu thơ thôi, đã mang giá trị như một bài thơ hoàn chỉnh.
  
Chúa cũng tự tìm mình trong sáng tạo trong “Không đề” của Tagore là ví dụ thứ nhất.
  
Làm người ác vất vả vô cùng trong “Mặt nạ kẻ ác” của B. Brecht là ví dụ thứ hai.
  
Có những buổi chiều không biết cất vào đâu trong trường ca “Gọi nhau qua vách núi” của Thi Hoàng là ví dụ thứ ba.
  
Và còn nhiều ví dụ nữa.
  
Những suy nghĩ này bất chợt đến với tôi khi đọc xong tập thơ “Sóng ngầm” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, quý 3 năm 2017) của nhà thơ trẻ Đặng Tường Vy.  
Tập thơ “Sóng ngầm” của Đặng Tường Vy, NXB Hội Nhà văn 2017

Cũng không mất công nhiều lắm, độc giả có thể tìm ngay được những đơn vị câu ấn tượng đủ sức đứng độc lập của Đặng Tường Vy. Có thể tạm thống kê những cặp trên sáu dưới tám thật đáng nhớ: Nhẹ nhàng thương, nhẹ nhàng đau/ Nhẹ nhàng quay gót chào nhau nhẹ nhàng; Tình mẹ tựa đóa Ưu đàm/ Đưa con ra khỏi vũng chàm thế gian; Không rào chắn, không tường thành/ Trăm năm không kẻ thế chân một lần; Bao lần mật rót môi mềm/ Nghe lòng kiêu hãnh êm đềm rụng rơi; Tử, sanh cơn gió thổi vù/ Nước đục ao tù gắng nở hồng sen; Trời mưa ngập bến sông Tương/ Có bốn chân giường sao gãy được đây?; Đông nay là mấy đông rồi/ Bao lần di trú sao trời vẫn mây?; Đàn bà một chút rồi xem/ Cây cao bóng cả đổ rèm em qua; Xin anh một chút thật thà/ Để cho em được đàn bà với anh; Gập ghềnh chân bước nhiêu khê/ Mong manh phận bạc bốn bề hoang vu; Trách ai sao quá non gan/ Để em cất bước sang ngang theo chồng

Qua đây, có thể thấy Đặng Tường Vy là người có sở trường viết thơ lục bát. Và cũng vì thế mà chị trở thành chủ sở hữu đích thực của những câu lục bát trên. Ở một chừng mực đáng kể, Đặng Tường Vy đã bộc lộ chất nữ tính đa chiều và đa dạng của chị. Có lúc thì đụng chạm đến sự nhẹ nhàng như đụng chạm vào nỗi đau. Có lúc thì đụng chạm đến sự sinh tử như đụng chạm vào sự bứt phá. Có lúc thì đụng chạm đến sự mạnh mẽ như đụng chạm vào sự thách đố. Có lúc thì đụng chạm vào lòng kiêu hãnh như đụng chạm vào sự vị tha, nuông chiều, không chấp nhặt. Có lúc thì như đụng chạm vào sự thắc mắc như đụng chạm vào một thế giới bất khả tri. Có lúc thì đụng chạm vào nỗi khổ đau như đụng chạm vào thế giới bất khả tín. Có lúc thì đụng chạm vào sự xác tín như chỉ để tự mình khẳng định. Cũng có lúc thì đụng chạm đến những gì không dễ nói, đầy ẩn ý, có sắc màu ngờ vực, nghi hoặc đáng yêu:

Trời mưa ngập bến sông Tương
Có bốn chân giường sao gãy được đây?
   
Và dù có như thế nào thì những cặp lúc bát trên đều sinh thành một cách diễn đạt, cách triển khai rất đàn bà và có lẽ chỉ có đàn bà mới viết được.

Riêng khi đọc hai câu: Không rào chắn, không tường thành/ Trăm năm không kẻ thế chân một lần, tự dưng tôi liên hệ đến một câu nói của triết gia người Đức Nietzsche: “Trong tình yêu, nếu nàng hỏi chàng, chàng trả lời “chàng muốn”; còn nếu chàng hỏi nàng, nàng vẫn trả lời “chàng muốn”. Một tình yêu mà tận hiến đến thế, chắc chỉ có ở người đàn bà.
   
Trong “Sóng ngầm”, Đặng Tường Vy không chỉ có thơ lục bát. Ngoài những câu lục và câu bát rời rạc như Nắng mưa chơi oản tù tì hay Ta rượt chơi rượt bắt cho vừa lòng nhau, chị còn có những câu ở thể loại khác về tình yêu cũng đáng nhớ: Hai đứa mình đừng vội/ Mùa dậy thì còn xanh; Xin một đời không sửa
   
Đặng Tường Vy có hai bài “dính” đến hai từ “độc bước”. Ấy là câu Ta độc bước… tìm tatrong “Ta – tìm – ta” và Độc bước tình rêu phong tình trong “Rêu phong cuộc tình”. Đó là hai gợi ý để tôi đặt tên bài viết ngắn này.
  
Và dù lạnh giá như băng hay nóng bức như lửa, thì trong hành trình độc bước ấy, mong sao những bước đi của Đặng Tường Vy là những bước đi có nhận biết.
   
 ĐẶNG HUY GIANG
Nguồn: NVTPHCM



Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

VĂN HÓA TẨY CHAY

Đầu những năm 2000, Hà Nội vẫn chưa có nhiều nhà hàng sang trọng mọc lên như bây giờ. Một buổi sáng cuối tuần, cậu bạn đưa tôi lên khu phố cổ ăn phở ở một cửa hàng có tiếng. Chúng tôi lần đầu ăn ở đây, cậu bạn lơ ngơ dựng chiếc xe cũ chưa đúng chỗ thuận mắt. Và thế là chúng tôi trải nghiệm những lời chửi mắng như bề trên từ chủ quán trong ánh nhìn không thân thiện của tất cả nhân viên. Sau hôm đấy, cậu bạn kiên quyết sẽ không bao giờ bước chân trở lại quán đó nữa, dù không tìm được quán nào ăn ngon hơn.

Bạn tôi là một trong số ít khách hàng bất chấp bối cảnh thị trường chưa có nhiều lựa chọn, vẫn nhất quyết không sử dụng dịch vụ không tôn trọng khách hàng.

Thực tế có rất nhiều lý do khiến chúng ta có thể từ chối mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ vì thương hiệu đó không có đạo đức kinh doanh, gây tổn hại cho xã hội, môi trường hay cộng đồng. Tẩy chay là công cụ hữu ích của người tiêu dùng để làm cho cảm xúc của họ được biết đến và sẽ có tác dụng tác động tới thương hiệu thay đổi hành vi khi cảm xúc này được nhân rộng.

Tẩy chay trở thành hoạt động dừng mua, dừng sử dụng hoặc tương tác với người, tổ chức, thương hiệu, quốc gia vì lý do xã hội hoặc chính trị. Đó là sự phản kháng bất bạo động nhưng hiệu quả, cho một xã hội có dịch vụ và công bằng hơn.

Ở Mỹ, năm 1955, người phụ nữ da màu tên Rosa Parks đã bị phạt tiền vì không nhường ghế trên xe bus cho một người đàn ông da trắng. Nhà vận động xã hội nổi tiếng Martin Luther King đã phát động cuộc tẩy chay xe bus trong 13 tháng dẫn đến việc bang Alabama phải xóa bỏ việc phân chia chỗ ngồi trên xe buýt, và hệ thống xe bus cũng phải dừng lại tại mọi bến đỗ trong khu vực sinh sống của người da màu. Một cuộc tẩy chay trở thành bước tiến dài trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc của nước Mỹ.

Năm 2013, nhiều người Anh đăng đàn nói rằng sẽ tẩy chay hãng Primark vì việc sập nhà máy sản xuất của hãng này ở Dhaka, Bangladesh dẫn tới 1.129 người chết và khoảng 3.000 người bị thương. Họ không muốn tủ quần áo của mình thấm máu của những người công nhân xấu số và mang lại lợi nhuận cho những thương hiệu không biết coi trọng tính mạng con người.

Không chỉ trong thương mại, người tiêu dùng cũng có thể thực hiện quyền tẩy chay của mình vì nội dung chính trị. Người Nhật từng tẩy chay Google Map vì họ không dùng tên tiếng Nhật trên các quần đảo tranh chấp.

Ở Việt Nam, chúng ta còn nhớ giữa năm 2010, hàng loạt siêu thị, chợ và người tiêu dùng ở Việt Nam đã đồng loạt tẩy chay các sản phẩm của Công ty Vedan vì công ty này đầu độc môi trường và không chịu bồi thường cho người dân.

Tẩy chay hay sự quyết liệt của khách hàng một phần nào đó có thể thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đó là tính bền vững, bổn phận và trách nhiệm của doanh nghiệp.

Chúng ta, những người tiêu dùng có trách nhiệm ở thế kỉ 21, cần nhìn vào chiều dài của thương hiệu, trách nhiệm phát triển có tính bền vững của họ để tiêu dùng có trách nhiệm và tất nhiên sẵn sàng quyết liệt trong chuyện loại trừ.

Chúng ta không còn phải đến chỉ một cửa hàng bách hóa với tờ tem phiếu thời bao cấp. Cơ chế thị trường mở ra nhiều lựa chọn và cạnh tranh, nơi dành cho tiêu chí dịch vụ khách hàng.

Sau gần hai mươi năm, cậu bạn tôi sẽ có rất nhiều lựa chọn cho bữa sáng cuối tuần trọn vẹn bên ngoài. Cơ chế thị trường mở cửa, rất nhiều cửa hàng phở ngon, sạch, hiện đại, mở cửa hay dắt xe tận nơi cho khách hàng.

Nhưng thị trường đang mở rộng hơn cả biên giới quốc gia: nhiều người Việt đã trải nghiệm những quán ăn vỉa hè với những nụ cười thân thiện ở đất nước Thái Lan. Đó là nơi mỗi người dân thực sự nhận ra miếng cơm của mình phụ thuộc vào thái độ và dịch vụ dành cho khách hàng, và rộng hơn họ chính là đại sứ cho cả thương hiệu quốc gia về du lịch. Những sự đòi hỏi từ thị trường giờ lớn hơn "dắt xe cho khách". Trong phố cổ Hà Nội, một gương mặt cau có và làu bàu có thể xem là gây hại cho xã hội ở quy mô lớn, khi chúng ta cạnh tranh trực tiếp với Thái Lan trong thị trường chục tỷ đô của ngành du lịch. Thế giới phẳng là lúc người Việt tự sàng lọc thương hiệu nội địa kỹ hơn lúc nào hết.

Là người tiêu dùng, chúng ta có quyền năng quyết định sự tồn vong của thương hiệu thông qua quyết định tẩy chay hay ủng hộ sản phẩm của mình. Và sự tồn vong đó có thể là cả với thương hiệu quốc gia.

PHẠM HẢI CHUNG
Nguồn: VNE


NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ: Ý TƯỞNG LÀ QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU

Năm qua, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư gây chú ý trên văn đàn với tập truyện ngắn “Cố định một đám mây” và tập thơ “Gọi xa xôi” cùng Giải thưởng Liberaturpreis của Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin, trao cho tập “Cánh đồng bất tận” (bản tiếng Đức). Trước thềm xuân mới, PV báo Đại Đoàn Kết có cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

PV: Thưa nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, nhắc tới Tết, chị nghĩ tới điều gì?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Những rộn ràng cũng cũ. Tôi từng viết vậy, về Tết. Nó không còn là thứ ngọt ngào như lúc còn con nít mà từ hồi nào trở nên nhàm chán, tẻ nhạt. Như một trò thiêng đã giải xong. Có thể vì tôi đã khác hoặc Tết đã khác. 

Tôi nghĩ là do cả hai. Điều đó  khiến cho những trang viết về Tết của chị, trong tản văn hay truyện ngắn, cũng khác xưa. Đã từng có khi nào chị phải gò mình lại để viết, để chiều theo những lời mời cộng tác bài vở với các tờ báo Tết?

- Hồi xưa thì có. Giờ thì tôi tự do viết theo ý mình. Và biết từ chối những lời mời, dù những mời mọc là thứ áp lực cần thiết để tôi làm việc (đôi khi quá sức của mình). Cơ bản tôi không muốn bên mời cảm thấy khó xử, khi gọi bài mà lại không thể in, bởi tác phẩm của mình hoặc quá rầu rĩ, hoặc phạm vào kiêng kị. Bao giờ tôi cũng nói, văn tôi u tối lắm, anh (chị) nhắm có chịu được không?

Dù là viết theo “đơn đặt hàng”, nhưng suy nghĩ thì không ai “đặt” được?

- Không, ý tưởng là do tôi tự chủ. Nên phải từ chối nếu họ thích tôi viết gì đó có liên quan tới Tết, hay những thứ đèm đẹp, kiểu như Tết nhớ gì đó, thương gì đó. Người ta có thể nhớ bất cứ lúc nào, sao phải đợi Tết mới nhớ. Mà tôi chắc già rồi, không ưng cái kiểu hoài nhớ, ngoái lại nữa. Bữa rồi nghe nói có cuốn sách Tết, tôi hơi sợ, nghĩ đọc hết cuốn ấy, từ đầu tới đuôi toàn Tết, chắc là một trải nghiệm ám ảnh. 

Vậy thì khi bắt đầu viết một tác phẩm mới, sau khi đã có ý tưởng, chị thường quan tâm nhất là điều gì?

- Mình sẽ kể câu chuyện này theo cách nào, giọng điệu nào, nhìn từ ngôi nào. Tôi nghĩ mỗi người đều biết những câu chuyện gần giống nhau về con người, về tình yêu và thù hận, cảm thông và đố kỵ, nhưng tùy vào cách kể, mà câu chuyện ấy sống động hay tẻ nhạt. Dĩ nhiên ý tưởng là quan trọng hàng đầu, sau khi có nó, mọi thứ đều thuần về kỹ thuật.

Thế còn yếu tố cảm xúc có vai trò như thế nào trong việc viết của chị? Chị có thường phải nuôi dưỡng cảm xúc cho mình? Những cảm xúc xã hội, những cảm xúc gia đình liệu có chi phối và tác động như thế nào đến việc viết của chị? 

- Ý tưởng chính là cảm xúc. Nó gây hưng phấn ngay từ hình thành. Và tôi sẽ nghĩ về nó, theo đuổi nó trong một thời gian trước khi bắt đầu viết. Mệnh nó có thể yểu, vì tôi không tìm thấy hứng thú ở nó nữa, nhưng tôi chẳng tiếc nuối vì biết nó chưa đủ dày dặn, mạnh mẽ để có cơ hội sống sót. Lúc đó là mối quan hệ tay đôi, giữa tôi và ý tưởng của tôi, những tác động chung quanh không quan trọng. Tôi có thể trì hoãn viết vì bận những chuyện vặt không tên, mà một bà nội trợ nào cũng phải trải qua mỗi ngày, nhưng rồi sẽ tới lúc thôi, ngồi vào bàn và viết. 

Vậy thường, điều chị nghĩ đến đầu tiên khi hoàn thành một tác phẩm là gì? Và có tác phẩm nào, khi đặt dấu chấm hết, chị cảm thấy hoảng sợ, hay ít ra là có chút bồn chồn, lo lắng?

- Mình không còn ý tưởng nào đang chờ nữa. Lại phải tìm kiếm rồi. Tôi chỉ sợ vậy. Nhưng may là, ý tưởng khác cũng hay nảy ra trong lúc tôi đang đắp da thịt cho ý tưởng này. Trống rỗng thật sự là khi in xong cuốn sách. Tôi thấy mình phải làm lại từ đầu. Mình trắng tay rồi, mình hết sạch, mình phải viết rất nhiều câu chuyện nữa, bày ra một đống chữ nữa, cho cuốn sách tiếp theo.
Cuốn “Cố định một đám mây”.

Chị có thường “kiểm đếm” lại những “đứa con” của mình không? Tính tới thời điểm này, có nhiều lắm không những tác phẩm của chị chưa được công bố?

- Nếu đã có nhiều tác phẩm chưa công bố thì tôi đã không thấy trống trải sau một cuốn sách vừa ra đời rồi. Tôi ngày càng không dư dả vì ngày viết mỗi chậm hơn. Nói rung cảm chai sạn đi cũng đúng, nhưng tôi tự cảm thấy, mình càng khắc nghiệt, đòi hỏi cao, trước hết là với bản thân. Phần khác tôi tự làm khó mình, bởi viết nhiều quá, nhìn đâu cũng thấy mình đã viết rồi.

Còn việc kiểm đếm, tôi không để ý, thiệt tình. Giờ phải ngồi đếm mình đã in cuốn thứ bao nhiêu thì cũng ra con số, nhưng tôi không thích hành động này. Cơ bản tôi thấy chuyện qua rồi tức là qua rồi, của tôi ngày hôm qua sao quan trọng bằng những gì của tôi sắp tới. Tôi quan niệm, những thứ không thể chỉnh sửa thì đừng ngồi đó nhấm nháp hoài, mất thời gian.

Chị có phải tính toán về nơi công bố tác phẩm và thời điểm công bố không? Vì sao cuốn “Cố định một đám mây” lại rời một đơn vị xuất bản quen thuộc với nhiều đầu sách của chị, mà trôi xuôi ra tận Đà Nẵng?

- Thường thì tôi “gả” bản thảo tới những nơi quen biết cũ. Làm việc với những anh chị biên tập viên đã biết ý mình thì đỡ mất công. Tôi cũng không cầu kỳ lắm trong việc sách phải đẹp như thế nào, bìa bắt mắt ra sao. Nhưng, quả là tôi có nghĩ tới chuyện bán sách.  Chuyện “Cố định một đám mây”, vì sao phải lang thang, thì không tiện kể. Tôi không muốn bạn đọc bị mất phương hướng bởi những chuyện không liên quan tới văn chương. 

Nhiều người cho rằng, ở Việt Nam, hiện có nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là những người có thể sống khỏe bằng nhuận bút. Một cách thẳng thắn nhất, chị có phải là nhà văn sống được bằng nhuận bút? 

- Tiền dĩ nhiên quan trọng, nhất là với người sống bằng nghề viết như tôi. Nhưng ngoài tiền, tôi còn kiêu hãnh nữa. Và từ khi viết có ý thức hơn, không còn bản năng như xưa, tôi đã bắt đầu chuẩn bị cho cái việc mình không thể sống bằng bán sách. Nhưng người mua sách tôi thích một cô Tư trữ tình ngày xưa hơn là cô Tư lạnh lẽo của bây giờ.

Mới rồi, thấy chị đứng ra tài trợ cho cuộc thi truyện ngắn về phụ nữ: “Một nửa làm đầy thế giới”. Vì sao chị lại “nghiêng về phe nước mắt”?  

- Ồ, dùng chữ tôi tài trợ thì không chính xác lắm. Đó là phần dự án văn chương dành cho phụ nữ, kèm theo giải Liberatureis mà tôi nhận được. Tôi chỉ là nghĩ ra cách dùng tiền (dù không đáng là bao), sao cho hiệu quả nhất. Rồi phát hiện xài tiền cũng khó như kiếm tiền vậy.

Trân trọng cảm ơn nhà văn Nguyễn Ngọc Tư!

HOÀNG THU PHỐ (thực hiện)
Nguồn: Đại Đoàn Kết



Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

VỀ RỪNG U MINH NHỚ NHÀ VĂN SƠN NAM

Không chỉ khi về với mảnh đất tận cùng biên giới Tây Nam, mà mỗi lần nói tới rừng U Minh là tôi nhớ đến nhà văn Sơn Nam. Đây là quê hương tuổi thơ lẫn quê hương văn học của ông, nguồn cảm hứng vô tận cho nhà Nam Bộ học dựng nên nhiều sáng tác văn học, công trình nghiên cứu biên khảo giá trị về vùng đất mới phương Nam trước khi ông từ giã cõi đời cách đây tròn 8 năm, vào ngày 13.8.2008.
Nhà văn Sơn Nam

Nhờ hệ thống giao thông phát triển, đường về rừng U Minh thuận lợi, không còn khó khăn sình lầy như ngày xưa. Phong cảnh thiên nhiên, làng xóm và cuộc sống người dân từ U Minh Thượng đến U Minh Hạ đều đổi thay rất nhiều. Tuy nhiên, nhìn cảnh nhìn người U Minh, tôi vẫn thấy nhiều nét quen thuộc từng bàng bạc trên những trang viết giản dị mà sâu sắc đầy “hương rừng” của bậc tiền bối tài hoa lận đận Sơn Nam. Đứng giữa biển rừng xa xôi Tây Nam, tôi cảm thấy nhà văn như vẫn đang hiện diện đâu đây, với kính cận mũ diềm túi xách xắn quần lội bộ trên kênh rạch, bãi bùn. Sơn Nam như U Minh, mộc mạc và bí ẩn.

Chúng tôi cùng đoàn văn nghệ sĩ Sài Gòn về với rừng U Minh khi sinh nhật 90 tuổi và kỷ niệm 8 năm ngày mất của nhà văn Sơn Nam cận kề. Giấy khai sinh đề ngày 11-12-1926, nhưng theo lời mẹ của nhà văn Sơn Nam kể lại thì ông sinh giữa tháng 8 năm Bính Dần 1926. Do hoàn cảnh khắc nghiệt lúc ấy, đứa trẻ sau khi chào đời 3 tháng 10 ngày mà còn sống sót thì gia đình mới đến chính quyền làm giấy khai sinh. Tên cha mẹ đặt cho ông là Phạm Minh Tài, nhưng do cán bộ hộ tịch viết sai i thành y nên giấy khai sinh đề tên Phạm Minh Tày. Quê gốc ở cù lao Ông Chưởng thuộc tỉnh An Giang, từ đời ông nội chạy giặc Pháp qua Rạch Giá xuống U Minh lập nghiệp, nhà văn Sơn Nam là đời thứ ba của dòng họ Phạm gắn bó với vùng đất “Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh”.

Cái làng nhỏ Đông Thái ở rừng U Minh, nay thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, ngoài nhà văn Sơn Nam còn là nơi nhà thơ, soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà được sinh ra và hai ông trở thành bạn thân của nhau trên “trường văn trận bút” cho đến khi trở về với cát bụi. Làng Đông Thái nằm cách bờ biển ven vịnh Thái Lan chỉ vài cây số, nhưng tới lúc 10 tuổi Sơn Nam mới lần đầu thấy biển. “Bờ biển là bãi bùn hàng ki lô mét, đầy cây mấm, cây giá, muỗi mòng bay ào ào ngày như đêm, bước xuống thì lún ngang đầu gối. Rừng cũng vậy, mãn năm sình lầy, dưới bùn lố nhố những gốc cây đã chết hoặc cây sậy, đế, khá bén nhọn. Ấy thế mà người dân đi chân đất, gần như chẳng bao giờ bị thương tích đáng kể”. Nhà văn Sơn Nam kể lại trong hồi ký của mình, ông còn cho biết thêm: “Chung quanh nhà, nơi tôi chào đời, đầy lau sậy, luôn luôn có muỗi lại còn ong rừng (gọi ong mật). Hừng sáng, trẻ con dễ đói bụng, thường đi tìm đám lau sậy hoặc cây tạp là gặp tổ ong mật, ổ còn nhỏ ni tấc cỡ cái bánh tráng (bánh đa). Vắt mật ong, uống tại chỗ gọi là ăn điểm tâm, lát sau ra về, lừng khừng như kẻ say rượu vì mật ong có rượu, gây khó chịu lúc đói bụng” (Từ U Minh đến Cần Thơ của Sơn Nam).

Sinh thời, trò chuyện với chúng tôi, nhà văn Sơn Nam còn cho hay: “Hồi nhỏ, tôi nhớ quê tôi có rất nhiều chim thú, đặc biệt là cọp, khỉ, heo rừng, nai, thỏ. Hơn năm cây số bờ rạch toàn đất úng, um tùm rừng tràm, cỏ lác, cỏ năn. Chẳng một ai thèm để mắt đến đất, chớ nói chi tới tranh chấp. Dân quê lại thường đồn đãi chuyện ma quỷ. Những lúc rảnh rang là họ tụm năm tụm ba rượu trà, đờn ca, thổi sáo và kể đủ chuyện, sau gom lại viết thành một truyện ngắn, cốt cho hấp dẫn. Và cứ thế, tôi liên tục khai thác nền văn minh miệt vườn trong các trang viết của mình”. Xóm nhỏ mà gia đình họ Phạm định cư có mấy mươi nóc nhà người Khmer. Nhà văn Sơn Nam có người bác ruột thứ Hai giữ búi tóc, mù chữ, nhưng biết xem bói tướng, có duyên kể chuyện khẩn hoang, hay giao du với người Khmer, nói rành tiếng Khmer, kể chuyện cổ tích Khmer và thích lên đồng bóng mời thổ thần người Khmer nhập vào. Nhờ những câu chuyện từ ông bác Hai và người dân rừng U Minh mà sau này nhà văn Sơn Nam đã viết nên công trình Lịch sử khẩn hoang miền Namvà tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau. Khi sách xuất bản đầu thập niên 1960, nhà văn Sơn Nam gửi một cuốn từ Sài Gòn về quê tặng bác Hai, năm ấy đã 90 tuổi. Sau khi được một người cháu đọc sách của Sơn Nam cho nghe, bác Hai liền nhận xét tóm tắt để đứa cháu viết thư gửi lên Sài Gòn: “Thằng này nói dóc, nghe được quá. Nói dóc mà có căn cứ”. Nhận được thư ngắn của bác, nhà văn Sơn Nam hết sức cảm động và nghiệm ra nhiều lý lẽ về nghề văn: “Phải rồi, truyện ngắn, truyện kể gì gì đó đều là loại hư cấu. Nhưng hư cấu phải có căn. Có căn tức là mang cốt lõi hiện thực. Lời nhận xét của bác Hai khiến tôi hãnh diện với thâm tâm mình”.

Không chỉ gắn bó về đời sống tinh thần, mà nhà văn Sơn Nam còn chịu ơn người Khmer ở rừng U Minh. Nhà văn từng kể rằng, do mẹ ông hay đau yếu, nên sinh ra ông thiếu sữa, ốm quặt quẹo. Có một phụ nữ Khmer tốt bụng tên Thị Cà Xúc ngày ngày đến cho bú mớm, thương ông như con ruột. Lớn lên học hành rồi đi xa, ông không được gặp lại bà nhũ mẫu người Khmer nữa. Nhớ ơn bà cùng những kỷ niệm ấu thơ với người Khmer, khi viết văn ông lấy bút hiệu với chữ Sơn đứng đầu. Sơn là một trong những họ lớn của người Khmer, còn Nam là phương Nam.

Rừng U Minh không chỉ là quê hương nghĩa tình mà còn là nguồn cảm hứng vô tận cho nhà văn Sơn Nam viết nên nhiều tác phẩm vượt thời gian, mang đậm hơi thở nhịp sống vùng đất mới phương Nam từ thời khẩn hoang mở đất lập làng, chống chọi thiên nhiên khắc nghiệt và giặc ngoại xâm. Người ta hay nói rằng tuổi thơ thế nào thì văn chương thế ấy. Điều này rất đúng với trường hợp nhà văn Sơn Nam với tuổi thơ gắn bó với biển rừng xa xôi heo hút. Chất ngọc từ ký ức tuổi thơ ở U Minh, cộng với trí tưởng tượng phong phú và khả năng dựng truyện giản dị mà lôi cuốn, hấp dẫn, nhà văn Sơn Nam đã lần lượt cho ra đời mấy mươi tác phẩm quan trọng về đất và người phương Nam từ thời khẩn hoang, trong đó dấu ấn sâu đậm đầu tiên là tập truyện Hương rừng Cà Mau xuất bản năm 1962, kế đến là các tác phẩm Chim quyên xuống đất, Hình bóng cũ, Vọc nước giỡn trăng, Nói về miền Nam, Vạch một chân trời, Văn minh miệt vườn, Lịch sử khẩn hoang Miền NamĐất Gia Định xưa, Cá tính miền Nam,… Về kỹ thuật cầm bút, nhà văn Sơn Nam cho hay: “Tôi chọn cho mình cách viết truyện theo kiểu dã sử hiện đại và khảo cứu về lịch sử khẩn hoang vùng đất mới Nam Bộ. Cách viết này được nhiều độc giả quan tâm, lại không khiêu khích chánh quyền đương thời. Người đọc tinh tế cũng dễ nhận ra sự đánh động tinh thần yêu nước, tưởng nhớ cội nguồn tiên tổ trong những trang viết của tôi”.

Cũng từ U Minh, ông đã dấn thân vào con đường cách mạng từ thời Thanh niên Tiền phong năm 1945, rồi lên Sài Gòn sau Hiệp định geneva năm 1954, theo đuổi lý tưởng cầm bút và hoạt động công khai giữa muôn trùng nguy nan, trở thành một nhà văn hoá tiêu biểu của Sài Gòn và Nam Bộ nửa sau thế kỷ XX. Hơn nửa thế kỷ kể từ chuyến xe đò rời quê hương U Minh thân thuộc cuối trời Tổ quốc lên Sài Gòn đô hội xa lạ, ông đã hoá thân vào cát bụi để lại bao niềm thương tiếc khôn nguôi về hình ảnh đáng kính của “Ông già đi bộ”, “Ông già Nam Bộ”, “Ông già Ba Tri”,… và pho từ điển sống của lịch sử văn hoá Sài Gòn - Nam Bộ.

Mỗi khi nghĩ về nhà văn Sơn Nam, tôi hay liên tưởng đến hình ảnh con người cần mẫn gom nhặt bụi vàng tinh hoa để dâng hiến cho Sài Gòn và Nam Bộ, cũng chính là dâng hiến cho nền văn hoá vĩnh cửu của dân tộc này. Rừng U Minh chính mà mỏ vàng khởi nghiệp của ông. Với tôi, ông luôn là huyền thoại, một huyền thoại của rừng U Minh và đất phương Nam. Cách đây 5 năm, vào ngày 13.8.2011, tròn ba năm sau ngày “bố già” từ giã cõi trần, tôi đã hoàn thành bài thơ dài Bụi vàng Sơn Nam tưởng nhớ ông, trong ấy có đoạn day dứt về sự lận đận của một bậc tài danh:

Nửa đời bơi xuồng
nửa đời cuốc bộ
một thời bưng biền
một thời phố xá
bụi vàng đầy dần
núi vàng cao dần
theo từng trang sách của ông

Những trang sách vàng ròng làm giàu tâm hồn bao thế hệ
không nuôi nổi người thợ chăm chỉ tài hoa tới khi trở về đãi cát phía hư vô”.

PHAN HOÀNG
Nguồn: SGGP


TÔN TRỌNG SỰ SỐNG

Nếu có ai hỏi, điều gì quan trọng nhất, tôi không cần suy nghĩ mà sẽ trả lời ngay: đó là sự sống. Con người hay vạn vật, nếu không còn sự sống thì mọi thứ khác đều chẳng ý nghĩa gì, từ quyền lực, sắc đẹp, thanh danh đến của cải, cùng bao dự định lớn nhỏ trong đời.

Sự sống là quan trọng và cần được tôn trọng, không chỉ với chính mình, với người khác mà còn cả với những loài khác. Tôn trọng là giữ cho mình được sống, bảo trọng chính cơ thể của mình, không làm tổn thương hay xâm hại sự sống của người khác - cao nhất là không giết người. Điều đó ứng với tinh thần từ bi của đạo Phật là không sát sanh.

Cuối năm 2018 vừa qua, anh Dương Hồng Quý, 43 tuổi, khi phát hiện mình mắc bệnh về mạch máu não và không thể qua khỏi, đã đề nghị các thành viên trong gia đình cho mình được hiến tạng. Đó là lời đề nghị về một cách chết không vô nghĩa. Và tháng 12/2018, một phần tạng anh Quý hiến tặng bắt đầu tiếp nối sự sống trong cơ thể những người khác. Không chỉ anh Quý, số người đăng ký hiến mô, tạng ở Việt Nam lần đầu tiên tăng kỷ lục, chiếm một phần ba tổng số người hiến mô, tạng trong 5 năm trên cả nước. Theo Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia, tổng số người đăng ký hiến tạng sau khi chết hoặc chết não đã lên tới khoảng 20.000.

Nhưng tôn trọng sự sống thì khó, mà tước đoạt sự sống lại quá dễ dàng. Năm 2018 cũng ghi nhận số người chết vì tai nạn giao thông kỷ lục và đặc biệt về tính chất nghiêm trọng của các vụ việc. Đã hơn 8.400 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông năm qua, đưa Việt Nam đứng thứ hai trong khu vực về tỷ lệ người chết do va chạm trên đường. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tai nạn giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho người ở độ tuổi từ 15 đến 29 ở Việt Nam. Cứ 100.000 người đi trên đường thì hơn 26 người bị cướp đi sự sống. Chỉ riêng 4 ngày tết Dương lịch, 110 người đã thiệt mạng.

Đó là chưa kể ngay sau kỳ nghỉ, hôm 2/1, "hung thần container" đã lao thẳng vào đám đông chờ đèn đỏ ở Long An khiến 4 người chết và gần 20 người bị thương. Ngay sau đó, thông tin 30% tài xế đường dài sử dụng ma túy khiến tôi không khỏi tự hỏi, những người đang được trao vào tay quyền điều khiển những cỗ máy giết người hàng loạt như xe container, họ đã bước vào nghề thế nào?

Uống rượu, dùng ma túy, chất kích thích, phóng bạt mạng, sẵn sàng gây gổ với chủ phương tiện khác... là hình ảnh của nhiều tài xế xe tải đường dài. Vì đâu họ đã vô trách nhiệm với sinh tồn của cá thể khác, cẩu thả trong tay lái khi họ điều khiển một cỗ xe nguy hiểm?

Tài xế xe tải là nghề không chỉ cần bằng lái mà còn cần văn hóa lái xe. Thế nhưng tấm bằng thậm chí có thể mua được và gần như không được đào tạo về văn hóa lái xe, trách nhiệm với các phương tiện khác. Tôi đọc lời kể của chính các tài xế, họ cho biết các chủ hàng, chủ phương tiện, vì lợi nhuận đã tận dụng tài xế quá công suất, thậm chí biết tài xế hư hỏng, nghiện ngập nhưng vẫn dùng. Trong khi đó, như bạn tôi kể sau khi đi học lấy bằng lái xe, các trung tâm dạy lái xe do chạy đua để có nhiều học viên nên đã "du di" - nếu không nói là lờ đi - những chuẩn mực, cấp bằng lái xe dễ dàng hơn quy định. Những bài học về văn hóa tham gia giao thông, trách nhiệm với xã hội thực tế đã không bao hàm trong nhiều tấm bằng lái xe. Tất cả, vì túi tiền của mình, mỗi mắt xích trong chuỗi công cụ sản xuất này đã tiếp tay cho những tài xế hụt chuẩn ra đời.

Trong đạo Phật có "lý duyên khởi", tức cái này có thì cái kia sẽ có. Theo đó, một hệ quả xảy ra bao giờ cũng do nhiều nhân duyên đóng góp. Ta trách tài xế có lối làm nghề tai hại thì cũng phải trách tới chủ doanh nghiệp vận tải, đơn vị đào tạo nghề và xa hơn là đơn vị giám sát quản lý các hoạt động về vận tải nói chung. Tất cả đóng góp vào việc tạo ra các hung thần xe tải, hủy hoại sự sống đang diễn ra hàng giờ, trên những cung đường tôi và bạn đi học, đi làm, về quê thăm gia đình.

Cách đây ba năm, tôi đọc được thông tin khẩn trên "tường" của một người bạn. Có một phụ nữ vừa gãy chân, cần phẫu thuật gấp nhưng bệnh viện đang thiếu nhóm máu AB. Tôi biết nhóm máu mình trùng với người bệnh nên quyết định nghỉ làm buổi chiều để đến Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình ở Quận 5, TP HCM tặng máu. Thật bất ngờ, tôi gặp hơn 10 người cũng đến đây để cho máu. Sau khi thăm khám, xét nghiệm, bác sĩ chọn tôi và một người nữa để hiến cho bệnh nhân. Nhờ đó, đến tận bây giờ, tôi và con trai người bệnh, anh Trí, đã trở thành bạn. Cũng từ đó, Trí đã tham gia hiến máu tình nguyện thường xuyên như nhiều bạn bè tôi, mỗi năm ba, bốn lần. Họ tin rằng, phần máu mình cho đi hôm nay, biết đâu giúp kéo dài sự sống một ai đó. Tôi luôn tin, những việc thiện lành sẽ làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, không chỉ với người được nhận mà cả với người trao đi dù là một bữa ăn, một câu nói hay hành động tử tế, những giọt máu hồng khỏe mạnh.

Tôi cũng tin, khi ta chưa có dịp hiến tặng sự sống cho ai khác thì cũng đừng vì sự cẩu thả, lợi nhuận, sự vô cảm, vô minh mà bất chấp đồng loại, nuôi dưỡng những "điểm mù" có thể cướp đi sinh mạng người khác chỉ trong những tích tắc.

LƯU ĐÌNH LONG
Nguồn: VNE



Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2019

MỐI DUYÊN ÔNG PARK

“Trước khi sang Việt Nam, tôi gần như không có nơi nào để đi”, ông Park Hang-seo nói với các nhà báo, “Tôi cám ơn Việt Nam và nợ họ nhiều điều”.

Tôi đã cảm động khi đọc những lời này, nó được một người bạn trích dẫn trên trang của anh, cũng như tôi đã rung động sâu sắc khi xem ông Park và các cầu thủ thi đấu tuần qua. Tôi nghĩ tới từ "duyên".
HLV Park Hang-seo

Ở chỗ làm cũ, tôi có một số đồng nghiệp Hàn Quốc. Người thứ nhất, Kwon, sang Việt Nam gần 10 năm và đã chọn nơi đây là quê hương thứ hai. Khi tôi kể với anh chuyện hoàng tử Lý Long Tường chạy loạn sang Cao Ly năm 1226, sau trở thành một dòng họ lớn ở Triều Tiên và giúp vua đánh giặc Nguyên Mông bằng binh pháp của nước Đại Việt, Kwon biết sử tích này. Anh nói luôn cảm thấy như có dòng máu Việt trong người vì anh "hợp với cuộc sống ở đây đến lạ kỳ". Chính Kwon đề nghị tổng giám đốc cho lắp đặt đường truyền để nhân viên xem trực tiếp cùng lúc ở năm địa điểm của cơ quan trận bán kết Việt Nam-Hàn Quốc ở ASIAD 2018. Anh chọn cổ vũ đội tuyển Việt Nam.

Người thứ hai là một cô gái trẻ, Ch. vừa tới làm việc gần nửa năm sau khi cạnh tranh với ba nhân viên khác để đoạt một suất sang Việt Nam. Chồng cô đã khuyến khích cô sang đây làm việc vì nghe dân làm ăn Hàn Quốc nói với nhau, Việt Nam là một nơi "đang trỗi dậy". Cũng có người nói với cô rằng thực phẩm ở Việt Nam không an toàn và giao thông rất hỗn loạn. Nhưng chỉ sau ba tháng, cô chia sẻ với tôi, hai vợ chồng đều thích ở đây và mong ở Việt Nam dài lâu.

Kwon và Ch không phải số ít người nước ngoài gặp nhân duyên ở mảnh đất này. Theo báo cáo của một công ty bất động sản quốc tế, người Hàn Quốc chiếm 19% tổng số người mua nhà tại TP HCM trong 9 tháng đầu năm 2018, tỷ lệ đã nhảy vọt so với mức 6% của năm 2016 và 8% của năm 2017. Khu Phú Mỹ Hưng từ lâu được gọi là "Seoul thu nhỏ" bởi có cộng đồng đông đảo người Hàn sinh sống.

Tôi sẽ không cố gán sự nồng ấm trong quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc sau chuỗi thành công của ông Park Hang-seo vào bài viết này, bởi không chỉ người Hàn Quốc, rất nhiều người nước ngoài quốc tịch khác nhau tôi gặp đều yêu mến Việt Nam, nhìn thấy những mặt tốt đẹp khi sống tại đây.

Với các nhà đầu tư, họ ca ngợi sự hoàn hảo của cơ cấu nhân khẩu, yếu tố hàng đầu đảm bảo cho việc mở mang thị trường và hoạt động kinh doanh. Với số dân dự kiến đạt mức 100 triệu vào năm 2024, chỉ cần chuyển động nhỏ trong hành vi tiêu dùng của một nhóm nào đó cũng có thể tạo thành "một thế lực thị trường". Tầng lớp trung lưu lại Việt Nam đang nhanh chóng lớn mạnh, trong đó có tới 13% đã tiến đến chuẩn của tầng lớp trung lưu thế giới và dự kiến đạt khoảng 30 triệu người sau năm 2020.

Với nhiều nhà nghiên cứu địa chính trị, "Việt Nam" cũng được hiểu như một tính từ chỉ động lực đổi thay. Thị trường lao động của Việt Nam trẻ trung và dồi dào, mức sống cải thiện kéo theo nhu cầu tiêu thụ gia tăng khiến giới kinh doanh hứng khởi. Chúng ta nhìn thấy kẹt xe và chật chội, họ nhìn thấy thị trường và nhu cầu.

Môi trường sống tại các thành phố lớn Việt Nam hấp dẫn người nước ngoài bởi giá nhà và giá cả tiêu dùng, dịch vụ tài chính và viễn thông dễ chịu hơn nhiều các thành phố lớn Châu Á. TP HCM đứng thứ hai và Hà Nội đứng thứ tám trong số 10 thành phố năng động nhất thế giới theo xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới 2018. Trong khi đó, San Francisco rơi khỏi top 20 và Hong Kong rơi khỏi top 30 vì giá nhà đắt đỏ; còn Dehli và Bắc Kinh mất điểm vì ô nhiễm môi trường.

Nhưng trên tất cả, nhiều người nước ngoài chấm điểm cao cho Việt Nam chính là nhờ yếu tố con người.

Bạn bè, đồng nghiệp nước ngoài của tôi khẳng định Việt Nam mang lại cho họ sự lạc quan, niềm tin vào cơ hội mới. Họ thấy những người Việt luôn cầu tiến, chăm lo học hành, xoay xở cuộc sống và biết cách trào lộng ngay cả khi đối mặt với những vấn đề bức bối. Một nhà ngoại giao phương Tây còn ước giá như Việt Nam có thể xuất khẩu sự lạc quan cho nơi khác.

Hai đồng nghiệp Hàn Quốc của tôi đều có chung câu chuyện về áp lực làm việc ở quê nhà. Do tôn ti trật tự và cạnh tranh, các nhân viên không thể rời văn phòng trước cấp trên, họ thường kiệt sức khi về tới nhà lúc 9 giờ tối. Còn ở đây, họ tìm được sự cân bằng, chứng kiến các đồng nghiệp thân thiện, làm việc hiệu quả và cần mẫn nhưng vẫn dành nhiều thời gian cho gia đình và bạn bè - điều xa xỉ ở nhiều quốc gia phát triển.

Câu chuyện phát triển của chúng ta những năm qua đã gắn với nhiều yếu tố ngoại, từ đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và giao thương. Thế nhưng ở chiều ngược lại, ngày càng nhiều người nước ngoài tìm thấy sự thành công và hạnh phúc ở Việt Nam, tôi mạo muội gọi đó là "cái duyên ngài Park". Chúng ta thường có xu hướng khắt khe với chính mình và quên đi những điều giản đơn nuôi dưỡng hạnh phúc. Một xã hội sống động, giàu truyền thống và lạc quan, nơi gia đình và cộng đồng gắn kết chính là nét duyên thầm mà chính người Việt Nam nhiều khi không nhận thấy.

"Tôi chỉ là huấn luyện viên của một môn nhỏ là bóng đá. Tôi không nghĩ tôi là anh hùng của các bạn. Ở đây, tôi có cơ hội làm việc với các trợ lý, các cầu thủ... chúng tôi hiểu mình phải đáp lại kỳ vọng của người hâm mộ". Ông Park đã luôn khiêm tốn khi trò chuyện với công chúng Việt Nam. Và từ phía mình, chúng tôi cũng cảm thấy may mắn có được mối lương duyên với ông. Mong ông tiếp tục đồng hành.

CẨM HÀ
Nguồn: VNEX



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều