Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2019

TS. ĐOÀN HƯƠNG & SỰ “DẠI DỘT” CẦN THIẾT

Tiến sỹ văn học Đoàn Hương một lần nữa lại gây sóng gió trong dư luận, khi bà tham gia một cuộc trò chuyện trên VTV với đề tài chính xoay quanh đề xuất “tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai”.

Bà đã nói về việc Anh rời EU và từ đó, đưa ra nhận định tầm quan trọng của Anh ngữ sẽ không còn lớn nữa, do đó nếu chỉ dồn vào tiếng Anh là không ổn.
Tiến sỹ văn học Đoàn Hương

Thực tế, điều bà Đoàn Hương nói là chưa chuẩn, chưa trúng, chưa đúng nhưng dù gì nó cũng chỉ là giới hạn của một nhận định cá nhân mang tính chủ quan. Và tất nhiên, khi người đọc, người xem cảm thấy cái không đúng, không trúng ấy nó nghịch lỗ tai mình, họ sẽ cảm thấy khó chịu. Từ cái khó chịu đó, bà Đoàn Hương thành đối tượng bị “ném đá” là điều cũng dễ hiểu.

Sẽ có người nói bà Đoàn Hương dại dột khi nhận lời các cuộc phỏng vấn, trò chuyện dễ thành tâm điểm của sự cuồng nộ trong dư luận. Điều họ nói có lý. Bà Đoàn Hương đã từng tham dự cuộc phỏng vấn nói về "cải tiến" chữ của ông Bùi Hiền. Dù bà không bảo vệ cái đề án ấy, thậm chí bà còn chỉ ra những cái chưa đúng của nó, nhưng bà đề cao thái độ làm khoa học của ông Bùi Hiền. Song, sự khách quan của bà Đoàn Hương không đủ bảo vệ bà trước dư luận. Rất may, hình như bà không chơi Facebook nên cũng chẳng bị ảnh hưởng từ nó là mấy.

Nhưng nhìn vào cái cách bà Đoàn Hương lựa chọn cuộc phỏng vấn và đối thoại, tôi phải thừa nhận rằng bà đã có một sự "dại dột cần thiết". Thậm chí, tôi xem hành động ấy của bà là dũng cảm. Bà đã dũng cảm lên tiếng đúng lĩnh vực của mình, khi các đơn vị phỏng vấn, đối thoại với bà đang mong mỏi nhất một ý kiến của một chuyên gia. Mà nếu nói về ngôn ngữ, rõ ràng bà Đoàn Hương là chuyên gia. Bà là một chuyên gia về Ngữ văn, với học vị tiến sỹ đàng hoàng. Và bà khiến tôi đặt câu hỏi: “Các chuyên gia hiện nay đang ở đâu khi xã hội cần họ nhất?”.

Trong một cuộc tranh luận khoa học trên mạng xã hội gần đây của một nhóm những người trẻ yêu một môn khoa học có sự chỉ trích rất gay gắt (bằng học thuật) đối với vài bài viết về khoa học của một người trẻ nổi danh. Trên diễn đàn, nhiều người chỉ ra rằng các giới thiệu khoa học của người trẻ nổi danh kia là ngụy khoa học, với những tài liệu không chính xác được sử dụng làm nền tảng.

Thậm chí, họ còn chỉ ra được những chỗ nào là đạo văn, và họ cho rằng sự nguy hiểm của các bài viết giới thiệu khoa học thường thức thiếu chuẩn xác ấy lại tạo ra niềm tin vững chắc đối với những độc giả hâm mộ của người trẻ kia, để họ cho rằng đó chính là khoa học chân xác. Lo ngại thứ ngụy khoa học gây nên những hiểu biết sai lệch trong cộng đồng, họ đã lên tiếng và từ đó tạo ra tranh cãi dữ dội giữa hai phe: bên chỉ trích và phe cổ động viên hâm mộ của tay bút trẻ kia.

 Đọc cuộc tranh cãi ấy, tôi thấy mình nên có chút trách nhiệm và tôi đã liên hệ với một tiến sỹ đúng chuyên ngành khoa học ấy. Tôi nhờ tiến sỹ này tham gia bằng một bài viết minh định chân-ngụy để chấm dứt sự tranh cãi. Tôi đã nghĩ rằng bằng uy tín lâu năm của mình, ý kiến chuyên gia của vị tiến sỹ nọ sẽ có sức nặng. Nhưng điều tôi nhận được chỉ là sự từ chối khéo, đại ý “bận lắm, với cả ngại tham gia mấy việc như thế”.

Điều khiến tôi thất vọng hơn cả là vị tiến sỹ nọ thực ra không hề bận rộn gì. Vị ấy đã nghỉ hưu và ngày nào cũng lên Facebook bày tỏ quan điểm của mình về mọi vấn đề xã hội, từ chính trị đến thể thao, đa số toàn những lĩnh vực mà vị ấy thiếu thông tin, dữ kiện và thậm chí là cả kiến thức.

Từ câu chuyện của vị tiến sỹ tôi quen và của bà Đoàn Hương, tôi nhận ra rằng đang tồn tại một chủ nghĩa lạm bàn thái quá trong xã hội đương thời. Cái gì chúng ta cũng cấp cho mình cái quyền bàn luận, bình luận bất chấp ta có hiểu biết đủ về nó hay không. Trong khi đó, việc mình rành rẽ nhất thì mình lại im lặng, thờ ơ đến mức vô trách nhiệm.

Chúng ta cần xem lại chính mình. Để xã hội văn minh hơn, cần lắm những "dại dột" dũng cảm như kiểu của Tiến sỹ Đoàn Hương. Và cần hơn nữa là việc đọc thật kỹ, nghe thật kỹ điều người khác nói, kể cả nó có nghịch nhĩ đến mức nào. Ném hòn đá đi thì dễ, nhưng thu lại hòn đá thì khó. Và hòn đá, nhiều khi nó chuyên chở luôn cả nhân cách của chính mình.

VĂN ĐOÀN
Nguồn: VNCA



Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

ĐỌC THƠ TRẮNG CỦA LA MAI THI GIA

Người đàn bà thơ La Mai Thi Gia, là thơ từ khi mới được sinh ra, lần đầu tiên riêng tư góp mặt với thế giới thơ ca bằng Thơ trắng (NXB Hội Nhà văn, 2017)…
Nhà thơ La Mai Thi Gia

Tựa Thơ trắng của La Mai Thi Gia được lấy từ cảm hứng ý tưởng của nữ sĩ người Pháp Hélène Cixous (bà sinh ra ở Algeria năm 1937). “Dòng chữ trắng” (L’Encre Banche, The white ink) là dụng ngữ nổi tiếng của bà trong bài viết rất có giá trị mang tên Tiếng cười của Medusa (Le Rire de la méduse) ấn hành năm 1975, 1976. Trong bài viết này bà nói: “Bao giờ cũng thế, bên trong người phụ nữ luôn luôn là một chút tốt lành của dòng  sữa mẹ. Nàng viết bằng chữ trắng”.

Và như vậy Thơ trắng là chữ trắng, là tố chất của thân xác cũng như linh hồn của người nữ, là địa hạt riêng tư của họ. Thơ của La Mai Thi Gia cũng thế, là tố chất của thân xác và linh hồn của người đàn bà sinh ra với cái tên nghe đã là thơ.
Tập Thơ trắng của La Mai Thi Gia

Người đàn bà hát thơ như mình là thơ, cắm hoa như mình là hoa.

Người đàn bà cất lên tiếng hát bằng làn da, hát ca bằng thân xác ngân nga, cười khóc mà la mai thi gia.

Người đàn bà, gió trong tóc ngàn xưa phong ba, sóng trong ngực mà nghiêng thuyền lạ, sương trong mắt mà chiêu nắng tà.

Người đàn bà làm thơ cho nàng thôi phôi pha, làm thơ cho nàng quên yêu ma.

Người đàn bà, giọt nước mắt còn lay bay phù sa, giọt sữa ấm còn đong đưa nụ hoa, dòng chữ trắng còn long lanh ngân hà.

Người đàn bà đem chăn gối làm sông làm núi, đem châu thổ nguyên sơ làm ngả ba, đem châu thân huyền bí làm nhà.

Người đàn bà thân thể từng đêm kinh thánh, ngàn năm réo rắt nhã ca.

Người đàn bà, ra đi từ đại dương con gái, xuống đêm đời làm giọt tình, làm giọt thơ pha

Người đàn bà đường tơ bay trong đêm tối, trong âm vang của một nửa là…, và vẹn nguyên trong cõi ta bà

Người đàn bà ném vào lửa những đêm dài tự vắng, trong nắng hồng từ đó bước chân ra.

Người đàn bà thơ La Mai Thi Gia, là thơ từ khi mới được sinh ra, lần đầu tiên riêng tư góp mặt với thế giới thơ ca bằng Thơ trắng (NXB Hội Nhà văn, 2017).

NHẬT CHIÊU
(Lời tựa tập Thơ trắng)



Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

CHẤT VẤN THÓI QUEN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO TRONG THƠ PHAN HOÀNG

Từ tập thơ Tượng tình (1995) đến Hộp đen báo bão (2002) và Chất vấn thói quen(2012), hành trình thơ của Phan Hoàng đã trải qua hàng chục năm lao động miệt mài trên cánh đồng thơ. Để rồi sau mười năm, từ tập thơ Hộp đen báo bão Phan Hoàng xuất bản Chất vấn thói quen chỉ với 36 bài thơ, điều đó cho thấy anh là người rất cẩn trọng với thơ, rất trân trọng người đọc…
Nhà thơ Phan Hoàng

1. Không phải ngẫu nhiên, tập thơ Chất vấn thói quen của Phan Hoàng, (Giải thưởng Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2012), khi xuất hiện trên văn đàn đã tạo một cơn địa chấn trong đời sống văn học với hàng chục bài viết đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng mà theo thống kê chưa đầy đủ trong Chất vấn thói quen - Tác phẩm và dư luận thì có 21 bài như: “Thay đổi cảm hứng bầu trời” của Nguyễn Quyến, “Bốn ấn tượng về Chất vấn thói quen” của Trần Phò; “Một xuất phát mới trong thơ Phan Hoàng” của Đặng Huy Giang; “Giọng thơ hào sảng rất riêng” của Trần Nhã Thụy; “Lao vào mọi dòng xoáy biển đời, chất vấn thói quen” của Hoàng Thụy Anh; “Những cơn bão ký tự ấm trong thơ Phan Hoàng” của Phạm Ngọc Hiền; “Suy nghiệm từ cuộc sống trút vào thơ” của Trần Huy Minh Phương; “Thơ Phan Hoàng tiếng kêu thảng thốt của những nền tảng văn hóa xã hội đương thời” của Hoa Nip; “Cơn bão ký tự mới” của Vũ Thanh Hoa; “Thèm làm một ngọn gió rong chơi” của Anh Thư; “Hà Nội nồng nàn cùng chất vấn thói quen” của Phan Đình Minh; “Nhà thơ Phan Hoàng và người tình ma lực” của Nguyễn Quỳnh Trang; “Phan Hoàng xông đất văn học thủ đô” của Hiền Nguyễn; “Phan Hoàng được tặng khăn trong lễ ra mắt thơ” của Dương Tử Thành; “Nhà thơ Phan Hoàng day dứt với làng quê” của Đào Đức Tuấn; “Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng: “Báo là nghề, thơ là nghiệp”” của Nguyễn Tý và Phùng Hiệu; “Nhà thơ Phan Hoàng: “Chất vấn thói quen” hay là sự chối bỏ các khuôn mẫu” của Bình Nguyên Trang; “Nhà thơ Phan Hoàng: Thơ là cái đẹp hiện hữu tâm hồn mỗi người” của Hàn Thanh Nhân; “Nhà thơ Phan Hoàng: Thơ hay như phụ nữ có duyên” của Loan Trầm. Và cho đến đầu năm 2015, tức sau ba năm tập thơ được xuất bản vẫn tiếp tục có những bài viết về Chất vấn thói quen đăng tải trên báo chí: “Học cách ‘chất vấn’ từ Phan Hoàng của Phan Thuỷ, “Cuộc chiến khắc khoải mười năm vật vã cơn bão chữ” của Quang Hoài…

Các bài viết dù xuất phát từ những điểm nhìn khác nhau, của những người làm nghề nghiệp khác nhau, sống ở những miền quê khác nhau nhưng đều có sự gặp gỡ chung đó là sự nhận diện về cái mới, cái lạ như một sự bứt phá trong thi pháp thơ của Phan Hoàng. Đó là sự lột xác để từ bỏ những thói quen cũ, cái nhìn cũ, tư duy cũ, một điều cốt tử trong hành trình sáng tạo thi ca, cũng như các lĩnh vực sáng tạo khác trong đời sống xã hội. Bởi, bất cứ một sự vật hiện tượng nào trong đời sống cũng dung chứa trong nó cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Thói quen, từ góc nhìn văn hoá cũng hàm chứa trong nó cả hai mặt trên. Nghĩa là có thói quen tốt nhưng cũng có thói quen xấu và việc bỏ được một thói quen xấu cũng như rèn luyện một thói quen tốt là hành trình không đơn giản. Không những thế, việc chất vấn, đối thoại với thói quen của chính mình là một thách thức không dễ vượt qua. Việc Phan Hoàng chọn tiêu đề với một cái tên rất lạ, nghe chẳng thơ chút nào “Chất vấn thói quen” làm tựa đề cho tập thơ của mình, phải chăng cũng là cách tác giả muốn phá vỡ một “thói quen” thường thấy trong sáng tác thơ ca, khi trong các “chợ thơ” tràn ngập các tập thơ với những cái tên nghe “rất kêu”, “rất nổ”, “rất bốc” và… “rất sáo” như: miền yêu, giọt nắng, giọt hoa, giọt mơ, giọt hồng... mà khi đọc thơ chỉ là những con chữ rỗng tuếch, vô hồn, những cảm xúc giả tạo nhưng lại được một số nhà “phê bình” tung hê là “mỹ học” của “cái này, cái khác”... Chính những thứ thơ màu mè, vô vị được PR bởi lối “phê bình xu phụ” kia đã tầm thường hóa giá trị của thơ, làm cho bạn đọc quay lưng với thơ, xa lánh thơ. Rất may, thơ Phan Hoàng không rơi vào trường hợp này. Đọc Chất vấn thói quen không phải câu thơ nào trong tập thơ cũng toàn bích và không phải không còn những chỗ cần được hoàn thiện trong thi giới, trong cảm xúc, trong tư duy thơ. Nhưng có điều chắc chắn ở tập thơ này ta không còn nhận ra cái thi giới quen thuộc của thơ Phan Hoàng trước đây mà đã có một sự lột xác trong bút pháp và tư duy thơ. Chất vất vấn thói quenkhông chỉ là sự chất vấn bản thể, một chất vấn mang tâm thức hiện sinh trước những vấn đề nhức nhối của nhân sinh và phận người mà còn là sự chất vấn thi pháp và tư duy thơ của chính mình để tìm ra chân trời mới cho hành trình sáng tạo thi ca. Ở Phan Hoàng sự tự lột xác này không phải là vấn đề bản năng, tự phát mà hơn hết và trên hết là sự tự ý thức của hành trình dấn thân ở một thi sĩ không bao giờ muốn gặm nhấm mình, muốn “ăn mày dĩ vãng” để “tự sướng”, “tự sung”, “tự kêu”... rồi không bao giờ chịu đổi mới hành trình sáng tạo của mình như anh đã xác quyết: “Một người cầm bút không gì đau khổ hơn là lặp lại chính mình và lặp lại của người khác. Để tránh cái lối mòn ấy, cái thói quen ấy cần có sự dũng cảm. Thói quen lặp lại không chỉ đang chi phối đời sống sáng tạo thi ca, mà nó còn hiện diện trong cả sách giáo khoa văn học lẫn phương pháp giảng dạy của giáo viên môn văn. Tôi gọi đó là thói quen không biết sợ hãi. Bởi nếu biết sợ hãi, ý thức về sự trì trệ của đời sống thơ ca thì những người liên quan phải tìm cách thay đổi, để cái đẹp của thi ca và văn học sinh sôi nảy nở” (Chất vấn thói quen – Tác phẩm và dư luận).

Vâng! Để chống lại thói quen “cần phải có sự dũng cảm” kể cả thói quen “không biết sợ hãi”. Bởi, từ bỏ một thói quen đơn thuần đã khó, từ bỏ một thói quen đã hằn sâu trong tư duy sáng tạo lại càng khó hơn. Ý thức được điều này, Phan Hoàng luôn “chất vấn thói quen” trong tư duy thơ với một hành trình khám phá để luôn làm mới mình, làm cho cõi thơ mình thực sự lấp lánh một vùng ánh sáng của những dự phóng sáng tạo.

Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi
tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen
không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?

                                                                (Chất vấn thói quen)

2. Đọc Chất vấn thói quen của Phan Hoàng, ta thấy những trăn trở về sự thay đổi thói quen trong tư duy thơ là một tâm thức hiện sinh luôn ám ảnh hành trình sáng tạo thơ của anh. Và những cảm hứng sáng tạo này được thể hiện qua sự kiến tạo thế giới thi ca của tác giả từ việc chọn lựa thi đề, giọng điệu, ngữ ngôn, ảnh hình, cấu trúc mỗi bài thơ và của toàn bộ tập thơ.

Và có thể nói Chất vấn thói quen là một diễn ngôn có tính đa nghĩa, là một “văn bản dở dang” nhằm đối thoại với người đọc về những vấn đề của đời sống để tìm sự sẻ chia, để cho những con chữ vô hồn kia trở thành một tín hiệu thẩm mỹ kết nối thi nhân và độc giả. Đây cũng là ý thức về vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học, một điều mà không phải người cầm bút nào cũng nghĩ đến. Điều nảy cho thấy sự thay đổi hệ hình trong tư duy thơ của Phan Hoàng mà những bài thơ như: “Chữ nghĩa thị trường”, “Cơn bão ký tự mới”, “Văn bản dở dang”, “Chất vấn thói quen”, “Tình yêu tiếng mẹ dở dang”... là một minh chứng cho sự đổi thay này...
Chất vấn thói quen và các tập thơ khác của Phan Hoàng

Thơ ca bao giờ cũng là tiếng gọi thê thiết đối với người đọc và sự đồng vọng của tiếng gọi từ người đọc sẽ là “tiếng chim gọi đàn” làm lay động vũ trụ thi ca. Vì vậy, có thể xem bài thơ “Văn bản dở dang” là tuyên ngôn nghệ thuật cho hành trình sáng tạo thơ Phan Hoàng khi nhà thơ biết “chất vấn”, biết từ bỏ “thói quen” lỗi thời trong tư duy của lối thơ ca minh hoạ đã từng là một “lực cản” đối với sự vận động và phát triển của thơ ca ở một thời chưa xa. Và trong một ý nghĩa nào đó, đây cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời hậu chiến đang đi tìm một bầu khí quyển mới cho vũ trụ thi ca để “đoạn tuyệt” với “thói quen” của tư duy thơ sáo mòn, xơ cứng, công thức nhưng lại nhân danh quá nhiều những điều huyễn hoặc ngoài văn chương để biện mình cho sự trì trệ làm cản trở sự đổi mới thi ca.

Mọi nền văn minh hình như phát tích từ khoái lạc giấc mơ ánh sáng vô thức chống lại thói quen kỹ năng bóng tối ý thức
kỹ năng nhân danh tiến bộ gặm nhắm từng khoảnh khắc tự nhiên sự sống

Vượt lên đau đớn và thăng hoa
tôi tự tại giấc mơ tôi
mưa ban mai lặng lẽ gióng chuông gọi hồn tận thế
những con chữ như chiến binh chuyển dịch văn bản thơ mãi mãi dở dang

văn bản vô ngôn
văn bản tinh huyết
văn bản ma lực
tâm chấn tín hiệu khoái cảm

Đắm chìm sâu giấc mơ khoái lạc
đắm chìm sâu văn bản dở dang
tôi phát hiện tôi
khác xa dần
xa dần
cánh đồng thâm canh cảm xúc con trâu cái cày
khói lam mây xám ăn quẩn chái bếp thiếu gạo của mẹ
dàn đồng ca hát nhép tân cổ giao duyên mùi mẫn cởi áo trao nhau

Cơn hồng thuỷ khoái cảm âm thầm nổi lên
kỹ năng dục vọng trang phục mỹ từ mục ruỗng bị đánh đắm
từng đợt sóng tín hiệu bụi vàng ký ức dâng tràn 

                                (Văn bản dở dang)

Ý thức về sự đổi mới thi pháp và thay đổi điểm nhìn nghệ thuật trong sáng tạo thi ca đã tạo cho Phan Hoàng một quyết tâm chống lại căn bệnh sáo mòn, bảo thủ của nếp tư duy già nua để vươn đến một khát khao sáng tạo.

tẩy xoá nếp nhăn tư duy già nua
hằn sâu gương mặt rỗ nhàu trái đất
rỗ nhàu đúc khuôn thần đồng sáng tạo

Những lúc bay trên đỉnh thăng hoa
lơ mơ thấy mình
hào phóng chàng trai độc quyền cánh rừng nguyên sinh
rực hương thiếu nữ
ném phăng kỹ năng dục vọng trang phục mục ruỗng
bồng bềnh ngọn lửa trong ngần khoái lạc
từng đợt sóng tín hiệu kỳ bí dâng tràn
va đập chín chiều ký ức
đánh thức bụi vàng lãng quên

Song, đó là khát khao sáng tạo đích thực chứ không phải là sự “sáng tạo” của những trò làm xiếc ngôn từ với các câu thơ mà ở đó chỉ là những con chữ vô hồn, khô khốc, nhạt nhẽo không gắn với thân phận con người, với nỗi đau của cuộc sống nhân sinh, chỉ vật vờ như chiếc bóng mà khi tiếp nhận không để lại trong tâm cảm, tâm thức người đọc một chút ấn tượng nào.

Vật vờ như ngọn gió vô hình
trong thế giới ảo
lớp lớp ký tự vô hồn
nhà nhà nhốn nháo
những ký tự thiếu tư duy số phận

           (Cơn bão ký tự mới)

Vì vậy, đọc Chất vấn thói quen của Phan Hoàng ta luôn bắt gặp trong cảm thức của thi nhân một sự khắc khoải đến đớn đau trước những cái lỗi thời, ấu trĩ, đang mê hoặc con người, với những “bảng vàng bia đá” hư ảo và giả tạo, đang là một thứ xiềng xích vô hình và hữu hình trói buộc / huỷ hoại mọi sáng tạo của con người không chỉ trong lĩnh vực thơ ca mà còn ở rất nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Đời người chỉ một gang tay
sao tự trói mình xích xiềng lê dài giá trị bia đá?

                                      (Văn bản dở dang)

Và khát vọng sáng tạo trong thơ Phan Hoàng đã trở thành một tuyên ngôn sống mang tâm thức hiện sinh của những con người không chấp nhận sự nhàm chán đến cũ kỹ của lối tư duy giáo điều, mù xám mà một số người đang sử dụng để tự huyễn hoặc mình và huyễn hoặc người khác. Hãy biết thích nghi với cái mới để tiến về phía trước, sáng tạo những câu thơ mang tính dự báo, tính nhân văn sâu sắc. Đó là một yếu tính của thi ca mà thi nhân cần thấu triệt chứ không phải là những tư tưởng giáo điều huyễn hoặc. Vì thế, cần có một cơn “đại hồng thuỷ” để thay đổi nếp tư duy lỗi thời trong hành trình sáng tạo thi ca cũng như mọi hành trình sáng tạo khác của cuộc sống, đó cũng là điều ám ảnh tâm thức thơ Phan Hoàng ở Chất vấn thói quen.

Làm sao bùng lên nhiều cơn hồng thuỷ
dâng sóng tín hiệu đỉnh khoái
cuốn phăng những kho văn bản mộng mị ngủ muộn
những kho văn bản ấu trĩ già cỗi
những kho văn bản hư danh giả dối
khủng bố dòng chảy tự do ngôn từ
ám sát khát khao chồi xanh ý tưởng
đe doạ cánh rừng nguyên sinh rực hương thiếu nữ 
                                          căng tràn văn bản nhựa sống tương lai

                                                              (Văn bản dở dang)

Chính khát khao sáng tạo này là chất xúc tác làm nên sự đổi mới thi pháp thơ Phan Hoàng ở Chất vấn thói quen. Vì thế, trong tập thơ, ta bắt gặp nhiều bài thơ mới / lạ thể hiện phẩm tính đổi mới trong hành trình sáng tạo thơ của tác giả. Đó là những bài thơ: “Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc”; “Cái chết đen và vũ khúc trắng”; “Bóng tối đang nuốt chúng ta”; “Tiếng thì thầm” “Cái chết của bạo chúa”; “Tôi đang ở đâu?”; “Thèm làm ngọn gió tự do”... Và trong các bài thơ này có những câu thơ đầy ám gợi luôn làm ta khắc khoải, trở trăn...

Chiều ăn phố sực mùi khoai lang nướng
gió hú nhớ đồng thơm dậy giấc cố hương 

                                   (Ly hương gió)

Hay:
        
Thì thầm giao hưởng bất tận
tuần hoàn qua những đại dương phận người lênh đênh
cuốn cánh buồm tôi trôi mê mải hải lưu buồn
đau những chân trời tư tưởng tật nguyền
câu thơ neo bờ nước mắt

                                (Tiếng thì thầm)

Để rồi, từ những khắc khoải mang tâm thức hiện sinh, nhà thơ tự “chất vấn” về sự hiện hữu của bản thể, về sứ mệnh của người cầm bút, sứ mệnh của văn chương trước những vấn đề nóng bỏng của hiện thực đời sống đang đặt ra cho thơ ca, rất cần sự dấn thân của người nghệ sĩ. Đây cũng là một trong những cảm hứng chi phối hành trình sáng tạo trong thơ Phan Hoàng ở Chất vấn thói quen mà người đọc có thể cảm nhận từ những sẻ chia đầy trách nhiệm của người cầm bút trước những “cuộc bể dâu” từ “những diều trông thấy”...

Tôi đang ở đâu đất nước sinh từ hồn thiêng nghĩa sĩ vô danh?
Đất nước dãi dầu hạt gạo anh hùng, xảo quyệt đám rầy nâu chưa bị hành quyết!

Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Cây bút vô cảm trước thân phận dân nghèo, im lặng trước lãnh thổ đe doạ ngoại xâm, bất lực trước cái ác trá hình nhũng nhiễu!

Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Tôi đang ở đâu?
Ở đâu?
                                           (Tôi đang ở đâu?)

Chất vấn thói quen, vì vậy là một sự vượt thoát chính mình trong hành trình sáng tạo thi ca. Và đây cũng là một thành công đáng trân trọng của Phan Hoàng trong ý thức làm mới đời sống thi ca đương đại.

3. Từ tập thơ Tượng tình (1995) đến Hộp đen báo bão (2002) và Chất vấn thói quen(2012), hành trình thơ của Phan Hoàng đã trải qua hàng chục năm lao động miệt mài trên cánh đồng thơ. Để rồi sau mười năm, từ tập thơ Hộp đen báo bão Phan Hoàng xuất bản Chất vấn thói quen chỉ với 36 bài thơ, điều đó cho thấy anh là người rất cẩn trọng với thơ, rất trân trọng người đọc. Song, để chiếm lĩnh trọn vẹn tâm cảm người tiếp nhận, Phan Hoàng không dừng lại ở đây mà phải luôn đổi mới, biết từ bỏ “thói quen” lỗi thời trong lao động nghệ thuật, trong thi pháp thơ để vượt lên chính mình, hầu hoàn thiện hơn nữa hành trình sáng tạo thi ca của mình.

Đọc Chất vấn thói quen ngoài những thành công như đã khẳng định, một điều hạn chế dễ nhận thấy trong thơ Phan Hoàng ở tập thơ này đó là chất tự sự của một nhà báo làm thơ đôi chỗ đã lấn át chất trữ tình vốn là một yếu tính của thơ, khiến cho sự lan tỏa cảm xúc của thơ đến độc giả nhiều khi chưa thật hoàn hảo. Chất triết luận trong một số bài thơ nhiều chỗ chưa thể hiện hết độ chín tư duy và chiều sâu tâm hồn. Thơ là sự tan chảy của lý trí và tình cảm. Nếu hai yếu tố này không hòa quyện được trong thơ thì thơ sẽ thiếu sức lay động lòng người. Đây cũng là điều thi nhân cần nhận biết trong hành trình sáng tạo thi ca và cũng là một “thói quen” cần phải vượt qua. Khắc phục được những hạn chế này, thơ Phan Hoàng sẽ neo được trong tâm thức người đọc và sẽ có một vị trí xứng đáng trong nền thơ ca hiện đại của dân tộc. Bởi nói như Guillaume Apollinaire: “Nhà thơ là kẻ tìm ra được những hứng thú mới, dẫu hứng thú đó khó chịu đựng. Có thể thành nhà thơ ở mọi lĩnh vực: miễn là thích phiêu lưu và đi khám phá”.

Hy vọng từ Chất vấn thói quen, Phan Hoàng không ngừng khám phá vũ trụ thi ca với “hứng thú mới” để tự khai phóng những chân trời lao động, sáng tạo làm phong phú thế giới thi ca của mình.

PGS. TS TRẦN HOÀI ANH
Nguồn: Văn Nghệ



Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TIẾN ĐẠT: VÀO ĐỜI TỪ CỬA HẸP VĂN CHƯƠNG

Nhắc đến nhà văn Tiến Đạt, nhiều người yêu văn chương biết đến anh qua tác phẩm Tôi vào đời. Tác phẩm này sau đó được dựng thành phim Vào đời. Có thể nói, Tiến Đạt đã thực sự “vào đời” bằng cửa hẹp văn chương.
Nhà văn Tiến Đạt

Sau hai mươi năm cầm bút kể từ cuốn sách đầu tay, Tiến Đạt viết được: Có con chim lạ trong thành phố (tập truyện ngắn), Tội lỗi tự nhiên (tập truyện ngắn), Thể xác lưu lạc (tiểu thuyết), và mới đây là tập truyện ngắn: Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân và tập du ký Lữ khách gió bụi xa gần (NXB Văn hóa Văn nghệ). Hai mươi năm cho ra lò chỉ vài cuốn sách nhưng cũng đủ làm nên diện mạo một nhà văn Tiến Đạt.

Từ gái điếm đến mỹ nhân

Truyện ngắn Tôi vào đời giống như một tự truyện của Tiến Đạt viết về đời sống sinh viên tỉnh lẻ vào thành phố nhập học. Những chàng trai vừa rời làng quê, để có tiền ăn học đã phải làm nhiều công việc vô danh. Nhân vật trong Tôi vào đời làm thêm bằng nghề chạy xe ôm, phương tiện là chiếc xe 67 còn lại sau chiến tranh, mà khách hàng ruột là những cô gái điếm.

Hai mươi năm trước, Tiến Đạt học ĐH Luật TP.HCM ở ngã tư Bình Triệu (Q. Thủ Đức). Hẳn nhiên, gần trường ĐH thường có nhiều dãy phòng trọ cho sinh viên thuê. Trong những dãy phòng trọ chật hẹp, tồi tàn này, không chỉ có sinh viên mà còn có nhiều tầng lớp dưới đáy xã hội khác đang trú thân chờ mong một ngày đổi đời. Những người sống lâu năm ở Sài Gòn hẳn còn nhớ, khu Bình Triệu là nơi có rất nhiều cô gái hành nghề bán thân sinh sống. Bởi cách cây cầu Bình Triệu là bến xe Miền Đông khá phức tạp bởi dân tứ chiến giang hồ từ các miền Trung, Bắc đổ về Sài Gòn hàng ngày.
Tập truyện Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân của Tiến Đạt

Chàng sinh viên Tiến Đạt đã sống trong môi trường như thế, và có lẽ chính “cái thuở ban đầu” ấy đã theo anh mãi trong các sáng tác sau này. Truyện của Tiến Đạt thường miêu tả những nhớp nhúa của cuộc sống nhưng luôn để lại những dư vị an lành trong lòng người đọc. Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân lần này cũng vậy nhưng ngòi bút Tiến Đạt đã công phu hơn qua trải nghiệm của thời gian.

Nhà văn Trần Nhã Thụy, một người thân với Tiến Đạt cả trong văn và ngoài đời, nhận xét về tập truyện Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân: “Lúc nào cũng vậy, truyện hay tiểu thuyết của Tiến Đạt đều có thao tác khảo sát bên ngoài và bên trong, như nhận diện hai mặt của cuộc sống. Nhưng Tiến Đạt không thuần đuổi theo thiên hạ, hay trôi theo dòng đời mà qua đó truy đuổi, soi rọi tâm trạng cá nhân mình. Sau những khốc liệt bao giờ cũng là ước nguyện được trở về bình an, được mộng một giấc lành. Do đó, truyện ngắn của Tiến Đạt tuy mô tả nhiều khía cạnh nhớp nhúa của xã hội, rốt lại vẫn để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng đẹp cùng với những chia sẻ cá nhân không màu mè giả tạo”.

Vừa đi chơi vừa kể chuyện

Tiến Đạt may mắn hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa, khi anh tốt nghiệp ĐH xong liền được Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) nhận vào làm. May mắn bởi, với một người viết, có điều gì khiến họ hạnh phúc hơn là được đi?! Gần như Tiến Đạt đã đi khắp mọi nơi trên quả đất này. Hẳn nhiên, anh đi vì công việc của người làm du lịch nhưng thông qua đó cũng là các chuyến “thu lượm” thông tin, hình ảnh của người làm nghề viết.

Tập du ký Lữ khách gió bụi xa gần của Tiến Đạt không có cái dữ dội mang tính “PR” như một vài cuốn sách khác, kiểu như: đi bộ xuyên Việt khi trong túi không có đồng nào, đi khắp thế giới với vài trăm USD trong túi…Nhưng du ký của Tiến Đạt, ngoài giới thiệu cảnh quan đẹp, văn hóa lạ của những vùng đất, còn mang đến cho người đọc sự suy ngẫm thông qua góc nhìn của một nhà văn.

Tiến Đạt chia sẻ về tập du ký này: “Cuốn sách này, chỉ là tập hợp của những bài viết mang tính ngẫu hứng, và dậy lên niềm xúc cảm về những vùng đất tôi từng đi qua. Vì, còn có nhiều nơi từng đặt chân đến, nhưng thật khó khi trải lòng ra trang viết. Có thể, còn chờ ủ thêm chất men, hoặc phải quay trở lại khơi nguồn mạch chảy suy tư du ký. Biết đâu, sẽ nằm trong dự án những cuốn sách tiếp theo, khi cuốn sách này bắt nhịp được tần sóng cảm xúc của độc giả - những người bạn thân thiết - mà tôi hiểu, cũng như tôi, luôn mang theo bên mình trái tim của lữ khách”.

HOÀNG NHÂN
Nguồn: TTVH



Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TRẦN NHÃ THỤY: LÀM THƠ TẶNG VỢ RỒI VỀ… NẤU CƠM

Được độc giả biết đến với những tập truyện ngắn, tản văn đặc sắc, và một vài tiểu thuyết gây được tiếng vang, đã chuyển thể thành phim nhưng với nhiều anh em làm báo Sài Gòn, nhà văn Trần Nhã Thụy lại là người thích làm thơ, có những câu thơ rất hay, rất thú. Đặc biệt, anh thường làm nhiều thơ về vợ, người phụ nữ quê đất võ Bình Định nhưng rất dịu dàng. Người phụ nữ không chỉ là một nửa cuộc đời mà còn mang đến hạnh phúc cả phần đời còn lại cho anh, cùng hai cậu con trai kháu khỉnh và một gia đình hạnh phúc, để anh mặc sức “ngoại tình” với chữ nghĩa đêm đêm.
Nhà văn Trần Nhã Thuỵ

Gã giang hồ mê chơi nhưng… nhớ nhà

Như lần làm thơ về vợ, Trần Nhã Thụy đã viết thế này, “Cùng nhau một chặng đường trần/Mình đưa tay nắm những lần ngã đau/Đắng cay nuốt đã nhiều rồi/Thì thôi nước chảy qua cầu ngày xanh”. Dường như, với một người viết văn như anh, những câu thơ chân thành và đắm đượm nhất chính là thơ về vợ, người đã gắn bó với anh từ những ngày mới chân ướt chân ráo mưu sinh ở mảnh đất phồn hoa này. Dù chưa từng kể hết những cơ cực trên đường đời nhưng tôi phần nào hiểu được hoàn cảnh của đôi vợ chồng trẻ ấy. Sống bằng ngòi bút cả nghĩa bóng và nghĩa đen, nuôi hai con nhỏ, ở trong một căn phòng thuê lợp tôn đâu đó ngoại thành. Dần dần, anh chị mua đất, rồi dựng nhà và hồi cuối năm ngoái, căn nhà lại được hoàn chỉnh cho ngăn lắp, to đẹp hơn một chút nữa để những ngày hè oi bức, anh không phải ở trần trên gác viết văn mà mồ hôi lẫm chẫm như chính Trần Nhã Thụy từng tâm sự đâu đó. Có lẽ, thời gian nhiều năm ấy, với vô vàn khó khăn mà những người tỉnh lẻ lập nghiệp ở thành phố phải đổi mặt, nếu không có sự cảm thông, chia sẻ, gắng gượng thì tình yêu không thể nào dìu dắt người ta bước tiếp được. Và, sau nhiều những cay đắng nuốt sâu vào trong lòng ấy, anh chị càng hiểu, càng yêu và thương nhau hơn.

Nhưng, làm người cầm bút anh ý thức rằng. Cuộc sống dù cay đắng hay hạnh phúc thì vẫn phải sống, mà còn cố gắng sống tốt hơn. Vì vậy, anh chọn cách mỉm cười với tất cả mọi thứ, với thơ và đời. Như anh từng viết: Chiều chiều vo gạo nấu cơm/Ngồi trong xó bếp nghe thơm nỗi buồn. Có lẽ, đó là câu thơ tự đáy lòng, thốt chân thực về cảm xúc của anh. Như lần anh bật lên, sau những buổi sáng tập thể dục ở con đường nhỏ trước nhà. Người ta đi Mỹ đi Tàu/Còn mình quanh quẩn cái cầu Gò Dưa. Những câu thơ của Trần Nhã Thụy không nhiều, không cầu kỳ bóng bẩy nhưng cứ làm người ta nhớ mãi, ám ảnh như uống ly cà phê thơm ở một góc quán thơ mộng đâu đó không bao giờ quên. Và khá đặc biệt, bạn bè chỉ đọc thơ anh ở trang facebook cá nhân chứ ít bao giờ anh đưa lên báo, ngoài một lần các đồng nghiệp cũ ở tờ Tuổi Trẻ in một chùm giới thiệu mà thôi.

Thú thật, tôi ít thấy ai tài hoa mà lại chung thủy như anh. Có lẽ đó là cách để anh giữ gìn cuộc sống hôn nhân gia đình. Và thật kỳ lạ, không biết đùa hay thật nhưng dù là người am tường khá nhiều lĩnh vực, Trần Nhã Thụy bảo anh không biết dùng thẻ…ATM, nghĩa là tiền trong tài khoản tất cả đều do vợ giữ, bạn bè các báo chi trả nhuận bút, lương thưởng anh đều không biết. Hỏi thêm, anh cười hóm hỉnh, mình thì được vợ nuôi, tiền ăn sáng, ăn trưa hay cà phê đều có vợ đưa cho mỗi ngày mà chiều chiều lại đón con về ăn cơm vợ nữa thì cần chi tiền? Vậy mà lần nào ngồi nhậu với anh em, bè bạn, khi tính tiền thì anh đều giành trả, bảo mình…mới có tiền!

Cách đây ít bữa, trong dịp đại hội nhà văn thành phố, Trần Nhã Thụy được đông đảo đồng nghiệp tín nhiệm bầu làm Trưởng ban kiểm tra Hội Nhà văn TP HCM. Anh bảo, mình cả đời ở nhà cơm canh, làm ô-sin cho vợ con thì nay lại được làm ô-sin cho anh em trong hội, không biết có mấy năm tới, có làm được gì cho mọi người không. Hình như, sâu thẳm trong anh, cái chức danh ấy là vì bạn bè, vì anh em tình nghĩa nên Trần Nhã Thụy nhận lời chứ với anh, nó không phải là mục đích của người cầm bút.

Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly

Tôi quen anh cũng qua những bài báo. Dần dà, anh em không hẹn nhưng thi thoảng vẫn ngồi bên nhau, ở một quán quen bên bờ kênh Nhiêu Lộc, lặng lẽ nhìn dòng nước phía xa xa, ngắm con kênh từng trong xanh, rồi ngầu đục và lại trong xanh, như những thăng trầm hưng thịnh của thành phố non trẻ này. Cũng như tôi, dù có một căn nhà, một gia đình lẫn cuộc sống khá ổn định giữa Sài Gòn nhưng trong anh chưa bao giờ thôi khắc khoải về nỗi nhớ quê, vùng đất Quảng Ngãi nắng gió sinh ra, nuôi dưỡng anh suốt một tuổi thơ khốn khó. Anh vẫn kể, mình đam mê nhiều thứ. Đó không phải là tính cách mà phần nhiều do đòi hỏi của công việc khiến anh luôn tỉ mỉ, cặn kẽ tất cả những gì mình đặt bút viết, dù là một cái tản văn nho nhỏ in báo hay một cuốn tiểu thuyết vài trăm trang giấy. Ví như viết về người chơi đàn, anh kỳ công quan sát, học hỏi cách chơi đàn. Có khi anh tới tận xưởng đàn, tìm hiểu và chơi thử. Rồi viết về những người đi hát, anh cũng kỳ công vào quán karaoke nghe hát, cảm nhận bằng tất cả cơ học của giọng hát chứ không đơn thuần là âm điệu. Đó không chỉ đơn giản là sự đam mê, là tinh thần trách nhiệm, là hứng thú với trang viết của mình mà hơn tất thảy, với Trần Nhã Thụy, đó là trách nhiệm của mình với con chữ, với độc giả mỗi khi đặt bút trước trang giấy.

Với những người làm báo trẻ có chút nấn níu với văn chương ở thành phố này, nhiều người coi Trần Nhã Thụy là người anh trong cuộc sống, người thầy trong cầm bút và đối thủ trên…bàn nhậu. Dường như, trong làm báo, viết văn hay đời thực, anh đều để lại những ấn tượng khá riêng với người đối diện. Một nét riêng lặng lẽ, trầm trầm của người đã trải qua nhiều biến cố cuộc đời. Anh kể, mình làm báo đã hơn hai mươi năm, kinh qua nhiều cơ quan nhưng phần vì cái cái tôi quá lớn, phần nữa có khi chẳng vì lý do gì khiến anh ít khi nào trụ lâu ở một nơi nhất định, dù nghề báo đã nuôi sống anh, và gia đình lẫn cả văn chương. Vài năm trở lại đây, anh làm trưởng đại diện cho một tờ báo thị trường khá lớn nhưng ít người biết. Ai hỏi, anh bảo mình chỉ là “thằng viết dạo”, rồi cười. Có lẽ, Trần Nhã Thụy là vậy, anh ít khi nhận về mình những xưng danh, chức tước mà cứ vui vẻ ngước nhìn cuộc đời, như một đứa trẻ tò mò muốn tìm những trái chín trên cao vậy. Cái tâm thế luôn hàm ơn tất thảy mọi thứ xung quanh mình của người thành danh cùng văn chương nhưng dường như lại đi bên lề văn chương khiến Trần Nhã Thụy lúc nào cũng thong thả, thảnh thơi và ít bị cuốn vào vòng phù hoa ảo vọng. Anh viết nhiều, mà thật lạ là lại ít kỳ vọng, chả ham nổi tiếng. Đôi lần ngồi cà phê, tôi vẫn cười. Người như anh, văn như anh, đất Sài Gòn giờ hiếm lắm. Hiếm bởi cái tình với anh em, với đồng nghiệp khi văn chương đang ngày một mất đi tính nhân bản vốn có của nó, là làm đẹp cho cuộc đời. Ngay chính nhiều người cầm bút đang hằn học, đua ganh với nhau. Sống với đồng loại nhiều người còn ác lắm, cầm bút mà làm gì?

Rồi, như trong một lần tâm sự rất thật với chính mình và bè bạn, anh viết “Đời tôi là những vỉa hè/Cà phê cà pháo ngồi nghe chuyện đời”. Nếu biết nhiều về anh, có lẽ ai cũng hiểu điều này bởi sau hơn 20 năm cầm bút ở Sài Gòn, anh đã quá am hiểu, tường tận con người và vùng đất này. Tuy nhiên, điều băn khoăn nhất trong cuộc đời Trần Nhã Thụy vẫn là quê nhà. Và ước mơ ám ảnh anh, lại là sau này được về quê, được sống giữa một vùng tuổi thơ, trong căn nhà có mấy câu cau khẳng khiu mà năm nào cũng trĩu quả, có đồng lúa xanh xanh trước cửa mà lần nào về quê cũng đương thì con gái… Thế nên, anh viết “Bạn bè dăm đứa bôn ba/ Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly”.

ĐOÀN ĐẠI TRÍ
Nguồn: Tinh hoa Việt



Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TRẦN KIM TRẮC - ĐẠI THỤ CỦA VĂN CHƯƠNG NAM BỘ QUA ĐỜI

Theo thông tin từ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, nhà văn Trần Kim Trắc đã qua đời vào ngày 17-11-2018 tại nhà riêng trên đường Cống Lở, phường 15, quận Tân Bình. Tuy nhiên, vì lý do riêng nên gia đình không phát tang; vậy nên công chúng mới được thông báo cách đây hai ngày.
Nhà văn Trần Kim Trắc

Khi hay tin nhà văn Trần Kim Trắc, một trong những đại thụ của văn chương Nam bộ đã qua đời, hầu hết những người yêu mến ông đều không tránh khỏi cảm giác bất ngờ. Nhà văn Trần Kim Trắc sinh năm 1929 tại Chợ Gạo, Tiền Giang. Ngoài tên thật, ông còn sử dụng bút danh NT và Trần Kim dưới những tác phẩm của mình. Sự nghiệp văn chương của nhà văn Trần Kim Trắc được bắt đầu từ lúc ông 25 tuổi với truyện ngắn đầu tay được đăng báo là truyện Cái lu, đạt giải nhì giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam ngay sau đó.

Dù đến với văn chương khá muộn nhưng nhà văn Trần Kim Trắc có một quá trình lao động văn chương chăm chỉ và đều tay. Ông có nhiều tác phẩm đã xuất bản như: Cái lu(truyện ngắn, 1954), Cái bót (truyện ngắn in chung, 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung, 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn, 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết, 1996), Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn, 1997), Học trò già (truyện ngắn, 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn, 1998),  Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn, 1999)…

Nhà văn Trần Kim Trắc từng đạt các giải thưởng như: giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1954 với truyện ngắn Cái lu, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 với tập truyện ngắn Ông Thiềm Thừ.
Nhà văn Trần Kim Trắc bên người vợ của mình

Đặc biệt, vào năm 2012, lúc đó đã bước sang tuổi 83 nhưng nhà văn Trần Kim Trắc vẫn cho thấy sức lao động bền bỉ và dẻo dai bằng việc tham dự cuộc thi viết truyện ngắn chủ đề “Con người và cuộc sống hôm nay” do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức. Truyện ngắn Sài Gòn đắc địa của ông đã đạt đồng giải nhì (không có giải nhất) cùng với nhà văn Trương Anh Quốc.

Vào tháng 11-2015, với những giá trị quan trọng mà văn chương Trần Kim Trắc mang lại, NXB Trẻ đã ký hợp đồng mua bản quyền trọn đời tác phẩm của ông. Theo đó, bắt đầu từ tháng 11-2015, đơn vị này độc quyền sử dụng 19 tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc với khoản phí trả trước là 100 triệu đồng cùng số tiền nhuận bút trên mỗi tác phẩm được xuất bản, không tính phần trả trước. Ngoài ra, trong hợp đồng có điều khoản: sau khi nhà văn qua đời, gia đình ông tiếp tục hưởng nhuận bút các tác phẩm của ông do NXB Trẻ ấn hành.

Ông Nguyễn Minh Nhựt, Giám đốc NXB Trẻ chia sẻ về lý do mua bản quyền trọn đời tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc: “Nhà văn Trần Kim Trắc là một trong những nhà văn lớn, viết rất nhiều tác phẩm trong đó có nhiều tác phẩm viết về Nam Bộ cũng như viết về giới trẻ. Về mặt văn tài, ông là nhà văn lớn nhưng thái độ, lối sống của ông rất khiêm tốn, là bài học lớn đối với người làm nghề. Xuất phát từ những vấn đề đó, NXB Trẻ có một nguyện vọng đề đạt xin mua tác quyền trọn đời bộ tác phẩm của ông. May mắn thay NXB Trẻ được ông đồng ý giao quyền”.

Trước sự ra đi của nhà văn Trần Kim Trắc, ông Nguyễn Minh Nhựt không giấu được xúc động: “Tôi và các cán bộ, nhân viên của NXB Trẻ đều rất buồn khi những đại thụ đã từng gắn bó với NXB Trẻ lần lượt đã ra đi như nhà văn Sơn Nam, nhà văn Trang Thế Hy rồi lần này là nhà văn Trần Kim Trắc. Phía NXB không biết nói gì hơn ngoài sự chia buồn gửi đến gia đình nhà văn. Chúng tôi sẽ cố gắng chăm chút, xuất bản để những tác phẩm của ông sẽ còn ở lại với nhân gian, phục vụ độc giả”.

HỒ SƠN
Nguồn: SGGP



Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

AN BÌNH MINH - THÊM MỘT MẢNG TRẦM TÍCH VỀ HẬU CHIẾN

Tiếp sau thành công của một loạt truyện ngắn, cùng với việc rinh về giải Ba (không có giải Nhất) Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ IV của Hội Nhà văn Việt Nam (2011-2015) cho cuốn “Dư chấn 3,5 độ richter”, cứ ngỡ đâu nhà văn An Bình Minh sẽ “xả hơi”. Nhưng không, hóa ra ông vẫn lặng lẽ thu mình cày ải và vẫn thủy chung với truyện ngắn.
Nhà văn An Bình Minh

15 truyện trong tập “Chuyện tình Xiêm Riệp” ra mắt bạn đọc lần này vẫn là sự tiếp nối mạch nguồn của một nhà văn từng một thời mặc áo lính, bên cạnh những chuyện “cập nhật” đời sống hôm nay, là mảng đề tài đề tài chiến tranh (chiếm gần một nửa trong tập truyện). Nhà văn An Bình Minh, tên khai sinh là Bùi Bình Thiết, tuổi Mậu Tý (1948). Từ quê hương Liên Bặt, Ứng Hòa, Hà Nội, ông nhập ngũ năm 1965. Từng là lính cao xạ, rồi văn công Phòng không - Không quân; sau ngày đất nước thống nhất, ông đi học rồi chuyển ra làm báo, viết văn.

Được hỏi vì sao ông vẫn thủy chung với mảng đề tài chiến tranh và người lính, nhà văn An Bình Minh không ngần ngại trả lời cần phải viết để trả nợ ký ức. Đó là những trận chống lại cuộc tập kích chiến lược bằng “siêu pháo đài bay B.52” của Mỹ trên đất Bắc; là đồng đội mới hôm trước vẫn cùng nhau nói cười vô tư, xúm xít quanh con chó tên Đốm (Tôi và Đốm), ria mép còn măng tơ, nhưng lại có thể bắn một lúc 21 quả đạn pháo trung cao mỗi quả nặng gần 30 kilogam - cái con số mà chiến sĩ Hồng quân Liên Xô cao lớn đã lập kỷ lục tại thung Rua trong cuộc chiến tranh Vệ quốc, để rồi hôm sau chỉ còn lại một “ống bơ không đầy” trong hầm pháo, thịt xương bay tung tóe khắp nơi. Ký ức của người lính là những đồng đội vừa ra khỏi cuộc chiến 10 năm (1965-1975) lại hòa vào đội quân tình nguyện sang đất nước Campuchia giúp bạn để rồi chỉ còn dòng tên trong các buổi phát thanh “Nhắn tìm đồng đội”...

“Chuyện tình Xiêm Riệp”, tên một truyện ngắn được lấy làm tên chung của cả tập sách, kể về những người lính lớp sau của tác giả và đồng đội. Thuấn một chàng trai vừa học xong Đại học Y, chưa qua thực tập lấy bằng đã nhập ngũ theo lệnh Tổng động viên 1979. Anh không lên biên giới phía Bắc, đánh quân Trung Quốc xâm lược mà được điều động sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn. Thuấn được bổ sung vào Trạm quân y Tiểu đoàn đặc công. Trong trận tập kích vào trại tù nhốt thân nhân của những người bị khép tội “phản bội chế độ” Khmer đỏ, đơn vị Thuấn đã giải thoát cho hơn 200 người, trong đó có cô gái trẻ Pơrăm. Trong khi hầu hết những người dân Campuchia được quân tình nguyện Việt Nam cứu sống đều dắt díu nhau về quê thì cô gái tiều tụy có tên Pơrăm cứ bám riết lấy tiểu đội cứu thương của Thuấn không chịu rời. Hỏi ra mới biết Pơrăm không còn chỗ nương tựa, bố mẹ và người anh trai của cô đã bị Khmer đỏ hành quyết. Lũ coi trại tù định lấy Pơrăm làm quà dâng lên ăng-ka, để “thượng cấp thỏa mãn thú tính trên thân xác con gái của kẻ thù”. Nếu cứ để Pơrăm lang thang trở về quê không chốn nương thân, chắc hẳn cô sẽ lại sa vào tình cảnh cũ, đi vào ngõ cụt, tương lai chờ đón rất tăm tối? Tình thế chẳng đặng đừng, buộc Thuấn phải để Pơrăm tá túc cạnh Trạm quân y Tiểu đoàn, nơi anh vừa được đề bạt trạm phó.
Tập truyện ngắn “Chuyện tình Xiêm Riệp” của An Bình Minh

... Sau hơn nửa năm họ sống gần nhau, một bên là anh Bộ đội nhà Phật (tên của người dân Campuchia đặt cho quân tình nguyện Việt Nam) tốt bụng, chân thật, chưa một mảnh tình vắt vai và cô gái trẻ xinh đẹp, thông minh, chăm chỉ cần mẫn giúp chăm sóc thương binh và dạy tiếng Khrme cho bộ đội để rồi cái điều “phải đến đã đến”. Họ yêu nhau, khi bộ đội Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ rút về nước, Thuấn trở lại sống cùng Pơrăm trong ngôi nhà của bố mẹ cô ở Xiêm Riệp.

Sau 20 năm nhọc nhằn mưu sinh, họ đã có được một mái ấm hạnh phúc với hai con gái một con trai, kinh tế sung túc. Pơrăm bằng sự thông minh khéo léo của mình đã sớm trở thành cô chủ nhỏ xinh đẹp của Công ty cá Biển Hồ có chi nhánh xuất khẩu gần khắp cả nước. Tưởng chừng như mọi thứ đã viên mãn thì đúng lúc ấy, nàng Pơrăm bất ngờ đòi ly dị. Đến lượt Thuấn trở nên thân cô thế cô và gần như mất tất cả, bởi các con anh đều lấy họ mẹ để được học lên cao…

Trải qua nhiều dằn vặt, giằng xé, bác sĩ Thuấn quyết tìm cho ra nguyên - nhân - ly - hôn để giúp anh yên lòng ở lại Campuchia giữ gìn dòng máu của mình. Thuấn không tin Pơrăm vì tham vàng bỏ ngãi mà quên nghĩa tình xưa và hơn thế vẫn muốn lưu giữ ký ức về một cô gái tóc rối năm xưa, giữa rừng bám theo anh không dời nửa bước... Bởi thế dẫu đã tìm ra được cái nguyên nhân lạnh lùng và đau đớn kia, anh vẫn tự dối lòng khỏa lấp. Pơrăm đã là một bà chủ nhỏ xinh đẹp, hấp dẫn. Trong công việc làm ăn, kinh doanh cô thường xuyên đi đây, đi đó, tiếp xúc với nhiều đại gia trẻ cùng quê cũng mới nổi như cô. Những điều thuận lợi đó là điều kiện cần có đủ để cô “xét lại” cuộc hôn nhân dị chủng của mình...

Câu chuyện được bố cục trong một không gian, thời gian khá chặt chẽ. Nó mở đầu bằng chính cái kết thúc với một chút có hậu. Thuấn sống trong ngôi nhà tuềnh toàng ở biên giới phía đông Campuchia. Cuộc tình của người đàn ông Việt là chuỗi hồi ức diễn ra trong sự ngóng trông, thấp thỏm để cuối cùng anh được nói chuyện qua điện thoại với đứa con trai gọi về từ Hà Nội khi vừa đặt chân xuống sân bay... Dường như tác giả muôn thông qua câu chuyện này để gửi gắm đến bạn đọc một thông điệp lớn hơn rất nhiều so với thân phận của tình yêu đôi lứa, rằng mọi thứ sẽ rất dễ bị người đời nguôi quên, nếu như nó không được luôn nhắc nhớ. Đó cũng là bài học cảnh tỉnh cho những ai hãy còn chút ảo tưởng mơ mộng, rằng không có sự vật nào lại không vận động, biến đổi. Mọi thứ đều có thể…

Cùng với mảng truyện về đề tài hậu chiến, An Bình Minh còn có những tác phẩm phản ánh cuộc sống đương đại khá sắc sảo như: “Ly thân thời 4.0”, “Vợ chồng hề”; “Công trình thế kỷ”, “Ngôi nhà trên đỉnh Thung Lau”, “Gió thoảng”, “Về thôi con”, “Ok! Bố”... với giọng văn dí dỏm, lý giải tình cảm cuộc sống với một chút triết lý nhẹ nhàng, sâu lắng.

Từng làm đủ nghề trong quân đội, Nhà văn An Bình Minh kinh qua chiến đấu trên nhiều chiến trường. Vốn sống của ông về mảng đề tài chiến tranh trầm tích phong phú, còn nhiều hứa hẹn. Trước đó, ông đã có hơn 20 năm làm báo, làm phóng viên, biên tập viên, đến chỉ đạo xây dựng nội dung một tờ báo. Trong mảng đề tài cuộc sống mới, ông có nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết gây được ấn tượng trong lòng bạn đọc và đồng nghiệp. Không hẳn một lời khuyên, nhưng tôi vẫn ước giá như ông mạnh dạn phóng bút như đã từng dũng mãnh xông pha ở chiến trường, chắc hẳn sẽ còn nhiều tác phẩm văn học viết về mảng đề tài này hấp dẫn hơn.

NGUYỄN MINH NGỌC
Nguồn: Blog Văn chương phương nam



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều