Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ THUỴ VŨ: ‘XIN CẢM ƠN CUỘC ĐỜI VÀ BÈ BẠN…’

Là một trong năm nhà văn nữ có tiếng ở miền Nam trước 1975, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ là người duy nhất chỉ viết về những nhân vật và bối cảnh rặt chất Nam Kỳ, bằng tất cả vốn sống của một công dân Vĩnh Long thứ thiệt. “Phần lớn cuộc đời tôi kiếm tiền nuôi con bằng việc viết feuilleton trên các nhật báo. Mỗi sáng tôi tới toà soạn, viết tay trên mấy tờ giấy có kẻ ô, đưa nộp cho họ rồi chạy ù sang toà soạn khác, viết tiếp cái feuilleton khác.” – nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ. Hoạ sĩ Hoàng Tường vẽ

Mười tác phẩm đã công bố trước 1975 của bà vừa được NXB Hội Nhà văn và Phuong Nam Books tái bản làm hai đợt. Nhà văn Thuỵ Vũ là con gái của một người có cái nhìn phóng khoáng về mọi chuyện – nhà văn Mặc Khải – bà thừa hưởng từ ông thói quen không áp đặt bất cứ điều gì lên người khác, kể cả với con cái trong gia đình.

– Bà từ bỏ nghề giáo, lên Sài Gòn bắt đầu viết feuilleton trên tạp chí nào?

– Tôi bắt đầu bằng những truyện ngắn được đăng trên tạp chí Bách Khoa. Đó là những truyện viết cẩn thận ý tứ nhất của tôi, so với các feuilleton (truyện in nhiều kỳ) sau này. Những truyện feuilleton đó đều được in thành sách nhưng tôi phải chỉnh sửa rất nhiều. Bởi trong đó ngoài vô số lỗi chính tả còn có chuyện lẫn lộn các nhân vật trong các feuilleton khác nhau. Tôi vẫn coi truyện ngắn in trên Bách Khoa là mẫu mực, giống như người chồng chính thức trong gia đình, còn các feuilleton khác thì giống như chuyện ngoại tình, khó mà so sánh chúng cùng nhau.

– Cuộc sống của một phụ nữ viết văn có nhiều khó khăn không, khi bà phải một mình nuôi con?

– Phần lớn cuộc đời tôi kiếm tiền nuôi con bằng việc viết feuilleton trên các nhật báo. Mỗi sáng tôi tới toà soạn, viết tay trên mấy tờ giấy có kẻ ô, đưa nộp cho họ rồi chạy ù sang toà soạn khác, viết tiếp cái feuilleton khác. Ba chỗ như vậy. Nhuận bút rất cao, đủ cho tôi nuôi mỗi bà vú cho mỗi đứa con. Nhiều bạn thân vẫn chê tôi không biết quản lý và giữ tiền. Nếu không, có thể tôi đã không quá khốn đốn sau năm 75, khi xã hội thay đổi và tôi không thể tiếp tục viết báo kiếm cơm.

– Bà có thể kể đôi chút về đời sống của mấy mẹ con bà sau năm 75…

– Các con tôi, mỗi đứa từng có một bà vú chăm sóc, sau năm 75 phải tự chăm sóc lẫn nhau, đứa lớn chăm đứa nhỏ, chỉ cách nhau mấy tuổi. Trong khi đó, tôi phải ra đường bươn chải kiếm sống, khó khăn cực khổ gấp trăm lần việc viết báo trước đây. Ai cần việc gì tôi làm việc đó, đủ các loại việc mà tiền kiếm được chẳng bao nhiêu. Những buổi chiều kiệt sức trở về nhà, thấy cả bốn đứa con nhỏ đói khát, dơ hầy, mũi dãi lòng thòng nằm lăn lóc bên nhau, nhiều khi tôi chỉ muốn chết… Cuối cùng, không thể tiếp tục cuộc sống kinh khủng đó, tôi đành bỏ Sài Gòn về quê mẹ ở Lộc Ninh, để ăn ké vào nhà mẹ.

– Lúc đó, ở quê, gia đình bà sinh sống bằng cách nào?

– Mẹ tôi làm ruộng. Tôi thì không hề biết lao động chân tay. Còn mẹ tôi, tuy là vợ nhà văn thuộc gia đình khá giả nhưng bà có thể làm ruộng, làm vườn vì ở quê ai cũng biết. Buổi sáng bà cầm liềm đi ra ruộng, lúc nào cũng vừa đi vừa quăng cái liềm ra phía trước xa, và nói: “Vũ khí đi trước nè”. Khi mới về Lộc Ninh, tôi cũng cố làm nghề chụp ảnh để kiếm sống nhưng không thành công. Rồi thì, do tôi tự dạy tiếng Anh cho các con mình, bạn bè của con và con nít hàng xóm liền xúm vô học ké, cuối cùng lại thành một lớp tiếng Anh. Mọi người không trả công tôi bằng tiền, nhưng trong vườn nhà họ có cái gì thì họ mang  tới cái đó làm quà cho cô giáo.

– Vậy còn cha của các con bà, nhà thơ Tô Thuỳ Yên thì sao?

– Ổng đi học tập cải tạo. 13 năm ổng đi học tập, tôi có đi thăm ông một lần duy nhứt. Sau đó ổng đi Mỹ với gia đình…

– Bà cảm thấy thế nào khi tất cả tác phẩm trước năm 75 đều đã được tái bản?

– Tôi rất vui. Sách in đẹp, tất cả lỗi chính tả đều được sửa rất kỹ. Tôi thấy mình thật may mắn khi nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều bè bạn, cả bạn cũ và bạn mới. Tôi xin cảm ơn cuộc đời và bè bạn…

– Với cuộc đời rất nhiều biến động của mình và vốn sống của một nhà văn từng trải qua hai thời kỳ xã hội khác nhau, bà sẽ viết tự truyện?

– Nhiều người cũng gợi ý với tôi chuyện đó. Nhưng giờ chỉ nghe tới chuyện viết là tôi đã thấy sợ. Có lẽ việc viết lách của tôi coi như đã xong rồi, chấm dứt rồi. Và tôi sẽ không viết thêm gì nữa.

– Mỗi ngày bây giờ, bà dùng thời gian vào những việc gì?

– Tôi ăn chay trường đã nhiều năm, có lẽ nhờ vậy mà không bị bệnh, ngoài việc nặng tai cũng như những thứ khó chịu thông thường mà tuổi già ai cũng phải có. Tôi tập Dịch cân kinh mỗi ngày, đọc báo Giác Ngộ và kinh sách Phật giáo. Tôi sống với vợ chồng con trai và cháu nội, và đứa con gái đã nằm liệt hơn 40 năm của tôi. Con trai tôi có viết lách chút ít, chắc được thừa hưởng từ cha. Cháu cũng là phật tử, chuyên đi hộ niệm cho các gia đình quen biết. Tôi cũng rất may mắn có cô con dâu hiếu đễ, nhân từ. Cháu đã thay mẹ chăm sóc em chồng nhiều năm, không hề nề hà.

– Bà có mơ ước điều gì trong cuộc sống hiện nay?

– Tôi ước nếu có nhiều tiền, tôi sẽ đi làm từ thiện.

– Xin chúc bà sức khoẻ và sự thảnh thơi tâm trí…

KIM CÚC
Theo TGTT 6-2017

______________________________

Bốn đầu sách của nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ đã được NXB Hội Nhà văn và Phuong Nam Books tái bản đợt đầu gồm: ba truyện dài Khung rêu, Nhang tàn thắp khuya, Thú hoang; và một tập truyện ngắn: Lao vào lửa.

Sáu đầu sách tái bản đợt sau gồm bốn truyện dài: Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh; và hai tập truyện ngắn: Mèo đêm, Chiều mênh mông.





TỰ TRUNG THỰC VỚI MÌNH

Trong thời gian qua nhiều cán bộ công chức vi phạm phải xử lý kỷ luật (trong đó có cả cán bộ cấp cao), nhưng hầu như trước đó, họ vẫn được đánh giá là tốt, thậm chí còn thăng tiến từ vị trí này tới vị trí khác. Chuyện này dân gian đã từng nói nhiều về cái sự bi hài “các đồng chí bị lộ và các đồng chí chưa bị lộ”.


Việc này có lỗi của quy trình đánh giá cán bộ. Tuy nhiên, xét ở phẩm chất làm người, mà cao hơn là phẩm chất để xứng đáng là công bộc của dân, thì còn thấy ở đây sự thiếu trung thực của những cá nhân cán bộ công chức đó. Sao không tự trung thực với mình, đối diện với chính mình, tự vấn lương tâm để hiểu rằng mình có còn xứng đáng để ngồi vào vị trí ấy, có còn xứng đáng với đất nước, với nhân dân hay không?

Không còn nghi ngờ gì nữa, khi mà khuyết điểm của cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy chính quyền các cấp ngày càng nhiều, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phạm vi ngày càng rộng thì nó rõ ràng là biểu hiện của hiện tượng cán bộ thiếu trung thực với dân, với tổ chức Đảng. Trong quá trình phát triển đất nước, hệ thống cơ chế, cách thức vận hành của bộ máy hành chính công, của các cơ quan quản lý nhà nước chắc chắn không tránh khỏi những kẽ hở mà con người ở trong hệ thống ấy có thể lợi dụng, có thể dùng quyền hạn và chức trách của mình để thu lợi bất chính cho mình. Không phải việc nào, hành vi nào cũng được tổ chức hoặc cơ quan pháp luật phát hiện ra kịp thời. Theo cách nói của người phương Đông để răn dạy về nhân quả, thì có những việc chỉ có mình biết và trời biết đất biết. Để thấy, sự trung thực của cá nhân con người là một đòi hỏi quan trọng. Nếu làm việc sai mà không thấy xấu hổ, nếu thu lợi cá nhân hàng trăm tỷ, nghìn tỷ mà bề ngoài vẫn nói vì dân vì nước thì có nghĩa là họ đã không có một chút trung thực nào, không phải chỉ với tổ chức, với nhân dân, mà ngay cả với chính mình.

Cũng trong đạo lý của người phương Đông còn lưu giữ câu nói của Khổng Tử: “Cỏ chi lan mọc ở rừng sâu, không vì không có người biết đến mà không thơm”. Làm việc tốt hay việc xấu đừng chỉ vì người đời có biết đến hay không. Bởi vì sống quan trọng nhất là không hổ thẹn với chính mình. Trong cái vế sau của câu nói ấy, Khổng Tử cho rằng người quân tử tu Đạo lập Đức, không vì khốn cùng mà thay đổi tiết tháo. Thời đại ngày nay chúng ta không đem những tiêu chí về người quân tử của Nho giáo xưa kia ra so sánh, nhưng cái ý nghĩa làm người thì thời nào cũng thế. Trong những tiêu chuẩn, tiêu chí của người đủ phẩm chất làm cán bộ thời nay vẫn đòi hỏi một yêu cầu cao về đạo đức con người.

Khi nghĩ đến những sai phạm trong những vụ việc liên quan đến dự án đất đai, lại không thể không nhớ đến câu nói cũng của Khổng Tử: “Quân tử luôn nhớ đức hạnh, tiểu nhân luôn nhớ đất đai. Quân tử luôn nhớ hình luật, tiểu nhân luôn nhớ lợi lộc”.

Tất nhiên, chẳng phải cứ là cán bộ cấp cao hay cấp thấp, chẳng cứ là công chức hay viên chức, cứ là con người thì đã cần sự trung thực. Trung thực là một phẩm chất làm người, là một trong những thứ làm nên nhân cách con người. Có nó là đồng nghĩa với tôn trọng sự thật, lẽ phải, mang đến niềm tin mà chỉ trong mối quan hệ bình thường nhất giữa những con người với con người, chỉ có sự thành thật, sự trung thực mới làm cho các mối quan hệ trở nên bền vững.

Đương nhiên là trong cuộc sống, không phải ai cũng chắc chắn rằng đều làm đúng và làm tốt mọi thứ. Là con người thì có yếu đuối, có thấp hèn. Trong giải quyết công việc, có những thứ sẽ bị xử lý sai. Nhưng nếu có sự trung thực thì ngay cả khi đã làm sai, người trung thực sẽ công khai khuyết điểm, dám nhận trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho người khác.

Trở lại với câu chuyện trung thực như là một trong những tiêu chí để đánh giá cán bộ. Nếu bây giờ rà soát lại quy trình, thì lâu nay việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp vẫn được tiến hành theo quy trình thống nhất, từ Trung ương xuống đến cơ sở. Mỗi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp đều quy định rõ các điều kiện cần và đủ về học vấn, phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn, uy tín... Mà trong đó, trung thực của cán bộ có thể không được tách ra thành một mục, nhưng nó là một tiêu chí nằm trong phẩm chất đạo đức. Thế thì tại sao ngày càng nhiều cán bộ cực kỳ thiếu trung thực? Họ làm việc sai và nghĩ rằng không ai biết cho đến khi “bị lộ”, tức là khi cán bộ đã bị phát hiện ra là có sai phạm (thậm chí nhiều cán bộ sau khi nghỉ hưu mới phát hiện ra sai lầm khuyết điểm).

Trong 5 điều dạy thiếu niên nhi đồng từ khi bắt đầu đi học, Bác Hồ có dạy cần phải “thật thà”. Đây có thể gọi chính là một biểu hiện cơ bản của tính “trung thực”. Như vậy sau này đối với cán bộ, thật thà, trung thực được biểu hiệu qua phương pháp mà cán bộ tiến hành công việc, qua giải quyết các mối quan hệ và qua tiếp xúc với nhân dân... Thời gian qua, rất nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền bị xử lý kỷ luật đã cho thấy rằng, đức tính thật thà, trung thực của họ đã trôi tuột đi đâu đó, họ làm cán bộ dường như với mục đích làm lợi cho cá nhân và nhóm người chứ không phải cho dân, cho nước.

Có một ví dụ mới đây nhất về đòi hỏi của nhân dân về trung thực. Trong các cuộc gặp gỡ với cán bộ lãnh đạo, những người dân Thủ Thiêm đã đề nghị chính quyền cần phải trung thực với nhân dân. Họ cho rằng, các nhiệm kỳ trước, chính quyền Thành phố đã không trung thực trong vấn đề quy hoạch Thủ Thiêm, dẫn đến làm lợi cho một bộ phận người có tiền và lại làm hại nhiều hộ dân địa phương.

Như đã nói ở trên, trung thực vốn là một đức tính của con người. Nhưng nó phải được rèn luyện và được hình thành trong cuộc sống, trong lao động. Một con người trung thực là trước hết phải thành thực với chính mình, rồi mới trung thực với người khác, luôn luôn tuân thủ chuẩn mực đạo đức chân thật trong mỗi lời nói, cử chỉ và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị của một con người chân chính. Đối với người bình thường, với mọi con người, sự thật thà, trung thực đã có ý nghĩa lớn như vậy.

Cho nên đối với cán bộ, trung thực phải được đòi hỏi như một phẩm chất cao hơn. Nhất là khi cán bộ là đảng viên thì còn có đòi hỏi về mục tiêu, lý tưởng và sẵn sàng cống hiến, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đất nước - những vấn đề đã được thể hiện đầy đủ trong Điều lệ Đảng hiện hành.

Trong công việc hay trong cuộc đời cũng thế, không ai có thể đảm bảo rằng không bao giờ sai. Vấn đề là cách thức giải quyết và ý thức về những việc đó. Trong đó, đòi hỏi mỗi người phải có sự trung thực như một phẩm chất cần thiết và quan trọng.
“Cỏ lan chi mọc trong rừng sâu, không vì không có người biết đến mà không thơm”. Làm việc cho đúng, cho tốt là bởi vì trước hết để trung thực với chính mình, không phải chỉ để người khác biết tới. Cũng như có thể nói ngược lại, tham nhũng, tiêu cực, trục lợi cá nhân và lợi ích nhóm... đừng tưởng tổ chức và pháp luật chưa phát hiện ra thì cứ thế làm bừa, nhắm mắt mà làm, bởi vì đối diện với sự trung thực của chính mình mới là sự khó hơn cả.

NGUYỄN ĐỨC THÀNH VĨNH
Theo Tinh Hoa Việt


TẾ HANH: ĐỜI TÔI THỰC HAY MỘNG, ĐỜI TÔI BUỒN HAY VUI

Trong các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Tế Hanh có dáng vẻ của một thi sĩ hơn cả, không phải chỉ bởi “đôi mắt nồng nàn lạ” (Hoài Thanh-Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam) mà còn là, hay chính là, bởi vẻ buồn ngơ ngác của ông, không phải chỉ trên vẻ mặt mà cả trong cách hành xử, ứng đối của ông với mọi người, mọi sự.
Nhà thơ Tế Hanh và bút tích của ông

Quan lộ của ông hanh thông. Những việc, những địa vị nhiều người thèm muốn, cạy cục chạy vạy lại đến với ông hoàn toàn tự nhiên.

Có lẽ, một phần do uy tín văn chương của ông, đức độ của ông, phần khác, do ông không âm mưu, không phe phái, không khiến bất cứ ai phải dè chừng. Ông là một trong những ủy viên Ban chấp hành “chuyên nghiệp”, có lúc là Ủy viên thường vụ, có lúc là Trưởng ban Đối ngoại, có lúc tham gia lãnh đạo báo Văn nghệ, Nhà xuất bản Văn học… Tôi không biết, không hình dung được, con người “dư một ít lời thơ”, “dư thương sớm, sẵn ngơ ngẩn chiều”, con người “Gặp em câu cuối cùng chưa nói/ buổi sớm qua rồi, sắp hết trưa” ấy đã hoàn tất những công việc quan trọng đó như thế nào. Có lẽ, một cách cũng …: “Vừa thực lại vừa mộng/Vừa gần lại vừa xa” mà thôi. (Mùa thu Yanta).

Tế Hanh rất hiền. Rất thật thà. Rất giàu yêu thương. Nhiều bạn văn chương như Quách Tạo, Chế Lan Viên, Khương Hữu Dụng, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Đình, Tịnh Hà, Hà Minh Đức, Phạm Hổ, Nguyễn Đình Thi, Võ Văn Trực, Mã Giang Lân, Vũ Quần Phương… nhận được lời đề tặng trước các bài thơ của ông. Trong số bạn văn nghệ, hình như ông gần gũi, thân thiết hơn với Huy Cận, Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên. Giữa họ có sự khăng khít của mối tình bè bạn từ nhiều năm tháng của cuộc đời. Bài thơ ông viết sau khi Xuân Diệu mất thấm thía chân tình:

Mọi khi đến nhà anh/ Tôi gọi to: Diệu ơi/ Nghe anh trả lời:/ Hanh đó hả// Hôm nay đến nhà anh/ Tôi gọi thầm: Diệu ơi/ Và chỉ nghe tiếng tôi: Diệu ơi. Cái tiếng vọng thiệt thà, âm thầm mà da diết này chính là Tế Hanh, là thơ Tế Hanh. Nhưng ông thân với Chế Lan Viên hơn cả. Chế Lan Viên là nhà thơ sắc sảo nhất của làng thơ Việt. Tôi có cảm giác Chế Lan Viên cần sự hồn hậu ở bạn và Tế Hanh thì “nương tựa” vào sự mạnh mẽ, quyết đoán của Chế Lan Viên. Tôi được một chị bạn làm việc tại văn phòng Hội Nhà văn kể lại câu chuyện sau: Một hôm, có cuộc họp gay cấn về một vấn đề nào đó của Đảng đoàn Hội. Giữa chừng, Chế Lan Viên có điện thoại, ông phải xuống văn phòng để nghe (hồi đó chưa có di động mà máy cố định cũng rất ít). Chế Lan Viên đang nói chuyện thì thấy Tế Hanh chạy từ tầng trên xuống, giọng lo lắng: Hoan ơi, nhanh lên, họ phản công rồi. Chế Lan Viên vội vã theo chân bạn trở lại cuộc họp.

Có vẻ như những cuộc họp kiểu đó, những gay gắt, những đối đầu đều không chút thích hợp với Tế Hanh. Ông không muốn tham dự nhưng lại không thể né tránh. Những khi nghe ông thầm thì các câu chuyện tưởng là thâm cung bí sử của giới lãnh đạo nhà nước, giới lãnh đạo văn nghệ mà hầu như ai ai cũng đã biết, mới thấy hết sự mơ màng thi sĩ của ông. Những lúc như vậy, tôi có cảm giác ông đang bước lạc vào một thế giới xa lạ và lại nhớ tới nhận xét “người rụt rè, ngượng nghịu như một chàng rể mới” của Hoài Thanh.

***

Nhưng Hoài Thanh cũng từng viết về con người rụt rè, ngượng nghịu ấy: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm”. Vâng, Tế Hanh là một người tinh lắm trong cõi Thơ của mình. Hoài Thanh cũng viết: “Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người có sẵn một tâm hồn tha thiết.” Vâng, Tế Hanh có một tâm hồn tha thiết với những nơi chốn, những tình cảnh, những con người ông yêu mến, xót thương. Chế Lan Viên đã viết rất hay, rất chính xác về cái tạng của Tế Hanh, về bầu khí nuôi dưỡng thơ Tế Hanh: “Dù anh viết khá hay vể biển, biển trong bão dữ, nghĩ đến anh, tôi vẫn nghĩ đến cái êm đềm của những dòng sông. Chim anh viết hay, không phải hải âu mà là chim én. Anh có thể tả mùa hè rực rỡ nhưng hình như anh xúc động nhất mùa thu... Nếu vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm vào các trái hồng lẫn trái xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó sẽ hì hục tìm thơ trong bộ rễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh phúc”(Tế Hanh hay Thơ và Cách mạng - Tuyển tập Tế Hanh, NXB Văn học, 1987). Nhưng dường như chưa thỏa, vài lần khác trong bài viết, Chế Lan Viên nhấn lại ý trên: “Và giữa bao nhiêu cái rộn ràng ấy, thì cái lõi, cái thực chất Tế Hanh, người tình nhân (Tôi nhấn mạnh), vẫn còn lại đó” (s đ d). Sở dĩ tôi trích Chế Lan Viên nhiều như vậy, một phần bởi ông là người bạn tri âm tri kỷ của Tế Hanh, ông là người yêu và hiểu Tế Hanh, yêu và hiểu thơ Tế Hanh hơn bất cứ ai. Phần khác, tôi có cùng cảm nhận như ông khi đọc Tế Hanh, khi gặp Tế Hanh, ngoại trừ việc ông cho rằng, nếu cách mạng không đến, có khi Tế Hanh: “thành nhà thơ trừu tượng cũng nên” (s đ d). Chính Tế Hanh đã chẳng từng khẳng định: Tôi muốn viết những dòng thơ dễ hiểu/ Như những lời mộc mạc trong ca dao” đó thôi. Có thể, những lời đó được viết trong một cảnh ngộ cụ thể nào đó, một trạng thái tình cảm nào đó nhưng từ trong bản chất, thơ Tế Hanh thuộc dòng thơ tình cảm, hơn thế, trực cảm. Những câu thơ hay của Tế Hanh như món quà bất ngờ trời đất ban tặng, như một bông hoa quý hiếm chợt hiện ra trên đường, ngay trước mắt và trong tầm tay.

Trong bài thơ Viết sinh nhật 60, Tế Hanh đã rất thành thật khi nói rằng: Khi tôi hai mươi tuổi người ta đọc thơ tôi/ Khi tôi ba mươi tuổi, người ta quên thơ tôi/Khi tôi bốn mươi tuổi, người ta lại đọc thơ tôi/ Khi tôi năm mươi tuổi, người ta còn đọc thơ tôi.

Thực ra thì khó có một thời điểm dứt khoát, rạch ròi đến vậy. Ta chỉ có thể nói đến một khoảng thời gian nào đó mà thôi. Khi Tế Hanh ở độ tuổi đôi mươi, ông có Quê hương, Lời con đường quê, Những ngày nghỉ học, Phơi phới, Dễ thương, Vườn cũ, Hoàng hôn… những bài thơ sau hơn 70 năm vẫn còn in dấu trong tâm tưởng người đọc. Những câu thơ như Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang/ Kéo nỗi buồn không chạy khắp làng” (Lời con đường quê); “Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt/Lòng buồn đau xót nỗi chia xa/ Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu/ Ngàn đời không đủ sức đi mau/Có chi vương vấn trong hơi máy/ Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau… Lẽo đẽo tôi về theo bước họ/ Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương (Những ngày nghỉ học); Cảm giác êm êm khẽ động vừa/ Lan từ bóng lá ủ ê đưa/ Âm thầm cửa hé trông xa vắng/ Như lúc đầu thu những buổi trưa (Dễ thương);Nhà người yêu mến ngang qua đấy/ Vắng mặt nên lòng thấy biệt ly” (Có những con đường); Nắng nhớ rưng rưng chớp lệ mờ/ Mây buồn đôi mảnh vẩn lơ thơ/ Cỏ cây im lặng như từ thưở/ Đôi lứa xa nhau vẫn đợi chờ (Vườn cũ); Lẻ loi cho đến cả bên chân/ Cái bóng trung trinh cũng chẳng quầng (Hoàng hôn)… đã lặm vào, đã ẩn sâu trong tâm hồn nhiều thế hệ yêu văn chương Việt Nam.

Khi Tế Hanh ở độ tuổi 40- 50 người đọc thường nhắc đến Nhớ con sông quê hương, Chiêm bao, Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Bão, Vườn xưa, Cha ngồi ở giữa, Mặt quê hương, Mặt mùa xuân, Gặp xuân ở ngoại thành, Chăn con, Tiếng sóng, Gửi miền Bắc, Rét nàng Bân, Điệu quê hương, Mùa thu Yanta, Phạm Thái, Tình yêu của sách, Cái nhìn, Kinh nghiệm làm thơ, Tặng, Sóng, Hà Nội vắng em… của ông. Đây là khoảng thời gian hồi sinh của Tế Hanh, sau thời gian “người ta quên thơ tôi” (trong thực tế, thời gian ở độ tuổi 30, Tế Hanh viết rất ít hay có thể nói, ông gần như không viết được. Và không chỉ riêng Tế Hanh. Nhiều nhà thơ của phong trào Thơ Mới như Huy Cận, Xuân diệu, Chế Lan Viên đều hăng hái tham gia cách mạng tháng 8 và kháng chiến giải phóng dân tộc nhưng cũng viết ít và không để lại dấu ấn. Và, không chỉ các nhà thơ. Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng này là một công việc đòi hỏi nhiều công phu và xin bàn vào dịp khác).

Bài thơ tình ở Hàng Châu được viết trong một chuyến thăm Trung Quốc, vào những ngày hòa bình đầu tiên sau cuộc kháng chiến 9 năm. Cảnh trí thanh bình, “bốn bề êm ái”, trăng “vời vợi thâu đêm” và Mùa thu đã đi qua còn gửi lại/ một ít vàng trong nắng trong cây/ Một ít buồn trong gió trong mây/ Một ít vui trên môi người thiếu nữ… chính là bầu khí, là đất sống của thơ Tế Hanh. Một ít buồn, một ít nhớ nhung, một ít xót xa, thương cảm, một ít day dứt: Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa/ Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa và Những ngày buồn nghĩ đến thấy vui vui/ Những ngày vui sao lại thấy bùi ngùi… là Tế Hanh, nhà thơ tình cảm, nhà thơ của mùa thu, của ánh trăng, của dòng sông êm, của cánh lá xanh, của ánh vàng sót lại sau thu, của “hoa bắt đầu thưa thớt cuối đường xuân” của “sợi gió đến se cùng sợi liễu”… Cố nhiên, Tế Hanh lúc này không còn là cậu học trò trốn học “tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương” nữa. Nỗi nhớ của ông đã có địa chỉ: nhớ mẹ, nhớ Vườn xưa, Nhớ miền Bắc, ông đã lắng nghe “Điệu quê hương”, lắng nghe “Tiếng sóng”, cái tiếng sóng “đã bao lần vang động giữa thơ tôi”, ông đã nhìn thấy một dòng Hiền Lương: “Nước chảy xuôi dòng bỗng chảy ngang” bởi nỗi đau chia cắt đôi bờ… Và, ông đã yêu:

“Ta đã yêu em/ Như yêu sự sống/ Ngày hiện trong đêm/ Thực hòa với mộng”, ông nhìn thấy quê hương thương yêu, trìu mến qua khuôn mặt người con gái: “mặt em như tấm gương/ Anh nhìn thấy quê hương… Ơi miền Nam yêu dấu/ Trên mặt em yêu dấu/ Ơi tháng năm nhớ thương/ Mặt em là quê hương”. Ông hân hoan cùng cảnh trí: “Tôi từ nội thành ra ngoại thành/ Vừa gặp mùa xuân đi ngược lại”… Và, trong tâm hồn hiền hậu của Tế Hanh đã có một cơn bão: Cơn bão nghiêng đêm/ Cây gãy cành bay lá/ Ta nắm tay em/ Cùng qua đường cho khỏi ngã// Cơn bão tạnh lâu rồi/ Hàng cây xanh thắm lại/ Nhưng em đã xa xôi/ và cơn bão lòng ta thổi mãi”… Cơn bão, chính là một chỉ dấu sự thay đổi của Tế Hanh trong giai đoạn này.

Trong vài ba mươi năm Tế Hanh đã xuất bản hàng chục tập thơ: Gửi miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương, Khúc ca mới, Đi suốt bài ca, Câu chuyện quê hương, Theo nhịp tháng ngày, Giữa những ngày xuân, Con đường và Dòng sông. Đây là giai đoạn Tế Hanh viết nhiều và có nhiều bài thơ hay. Tuy nhiên, như Tế Hanh từng viết, một cách khiêm tốn: “Đem bày tỏ nỗi lòng/ Trong câu thơ cảm khái/ Có đôi khi thành công/Và nhiều khi thất bại”, ông chỉ thực sự thành công ở những bài thơ tình cảm, hợp tạng của mình.

Trong một bài viết về Tế Hanh, Thanh Thảo cho rằng: “Thơ Tế Hanh có lẽ gần nhất với âm nhạc đồng quê, gần nhất với những khúc ca quê mà người ở đầu sông hay cuối bãi vẫn thầm hát cho chính mình. Không hề cố gắng, không tỉa tót hay triết luận, thơ Tế Hanh đến ngay người đọc theo con đường thẳng, như cách của một người bạn thật thà, chân thành và đôn hậu, thuyết phục ta bằng sự hồn nhiên bẩm sinh, bằng tiếng nói nguyên thủy của con người khi yêu thương, bằng sự dễ dàng còn lại sau mọi phức tạp đã qua (Từ Hoa niên tới mãi mãi -Tưởng nhớ nhà thơ Tế Hanh, NXB Hội Nhà văn, 2009). Thanh Thảo cũng cho rằng, dù đọc rất nhiều thơ nước ngoài, am hiểu thơ hiện đại phương Tây, yêu thích Aragon, Eluard, Rene Char, Saint-John-Perse…và dịch nhiều thơ, Tế Hanh “vẫn rất mộc mạc, thật hồn nhiên và với ông, kỹ thuật thơ, dù là kỹ thuật tân kỳ, vẫn không khiến ông quan tâm bằng chính cảm xúc và sự hồn nhiên, đôn hậu (s đ d.). Nhận xét này của Thanh Thảo làm tôi nhớ tới những lần được nghe Tế Hanh trò chuyện, nhận xét về thơ Ta, thơ Tây. Tế Hanh cũng là người “tinh lắm” trong việc thẩm định thơ.

Nhà thơ Việt Phương kể với tôi, vào năm 1963 ông đem mấy bài thơ tình nhờ Tế Hanh đọc. Ít lâu sau, Tế Hanh nói với Việt Phương: “Phương viết những bài nghĩ về tình yêu chứ không phải những bài thơ tình”. Đến hôm nay Việt Phương vẫn còn nhớ lời nhận xét ấy hẳn vì nó vừa chân tình vừa xác đáng. Lại nhớ, trong bài Kinh nghiệm làm thơ, Tế Hanh có một đoạn thơ so sánh thâm thúy giữa việc làm thơ/ bài thơ và tình yêu/ người yêu: “Mỗi lần làm thơ tôi lại như bắt đầu/ Hơn mười năm làm thơ, tôi chưa rút ra kinh nghiệm/ Như một người đang yêu, tôi chỉ biết/ Tôi yêu. Tình yêu có kinh nghiệm gì đâu” và “Một bài thơ hay như bóng dáng người yêu/ Càng lâu càng mơ, càng xa càng nhớ”.

Tế Hanh tự hỏi: Tôi phải làm thế nào/ Khi tôi bảy, tám mươi tuổi người ta vẫn còn đọc thơ tôi.
Có lẽ không ít người nghĩ đến điều đó nhưng chỉ duy nhất Tế Hanh thổ lộ trước chúng ta. Sự chân thành này nuôi sống thơ Tế Hanh. Hàng trăm năm sau người đọc vẫn sẽ nhớ đến những dòng thơ chân tình tha thiết, những nỗi buồn thương của Tế Hanh. Cái ánh ngọc dịu dàng ấy sẽ mãi lặng thầm tỏa sáng trong tâm hồn chúng ta. “Ta sẽ giã từ đời. Thơ vẫn ở/ Trong mùa xuân vĩnh viễn góp vui chung”.


* * *

Các bác, các chú Khương Hữu Dụng, Yến Lan, Trinh Đường, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn Bổng, Tế Hanh là bạn của ba tôi từ hồi còn ở Văn Nghệ Liên khu 5. Khi tập kết ra Bắc, mối quan hệ này vẫn tiếp nối, thân tình, gần gũi. Ba tôi chuyên ngành Sân khấu, con của các bác các chú lại ít ai theo nghiệp cha. Vì vậy, tôi được các bác các chú để tâm dìu dắt. Bác Khương Hữu Dụng, chú Trinh Đường và chú Tế Hanh thường gặp gỡ, trò chuyện với tôi về Thơ, như với một người đồng nghiệp trẻ. Em trai của chú Tế Hanh, nhạc sĩ Thế Bảo là bạn thân của nhà tôi từ ngày nhỏ ở quê Bình Sơn, Quảng Ngãi. Mối quan hệ nhiều riềng mối này khiến chú cháu thân nhau hơn. Có lần chú đến nhà tôi ở khu tập thể Đại học Tổng hợp, phố Lò Đúc tặng tập Thơ thiếu nhi cho các con tôi. Tiếc là tập thơ đã bị thất lạc, trong tủ sách của chúng tôi chỉ còn lại Tuyển tập Tế Hanh in năm 1987 với lời đề tặng: Tặng Ý Nhi, gửi Nguyễn Lộc của chú. Năm 1974, sau một thời gian làm thơ, có thơ in nơi này nơi khác, tôi được chú Tế Hanh nhắn chọn thơ đưa tới nhà xuất bản Văn học- nơi chú đang làm việc. Sau này, thơ tôi và Lâm Thị Mỹ Dạ được in chung trong tập Trái tim - Nỗi nhớ. Nếu không có lời nhắn của chú, hẳn tôi không dám đem thơ đến một nhà xuất bản lớn như vậy. Tôi hiểu, ngoài sự quan tâm đến thơ trẻ nói chung, chú còn quan tâm đến đứa cháu cùng tên với người con gái đầu lòng, do hoàn cảnh chiến tranh, chú chưa được gặp. Sau ngày thống nhất đất nước, chú vào Đà Nẵng. Vốn rụt rè, chú nhờ ba tôi đưa đến thăm gia đình cô Phụng và Ý Nhi. Ba tôi kể, suốt cuộc gặp gỡ, chú rất xúc động, gần như không nói được điều gì. Dịp khác, chú cùng vợ chồng Ý Nhi đến thăm ba mẹ tôi. Ý Nhi có đôi mắt đẹp giống chú.

Sau 1975, tôi về làm việc tại Nhà xuất bản Tác Phẩm mới, cùng ở trong số nhà 65 Nguyễn Du của Hội Nhà văn. Nhà chú ở Nguyễn Thượng Hiền, cùng khối nhà với cơ quan nên chú thường đi bộ đến Hội. Thỉnh thoảng chú lại ghé lên Nhà xuất bản, khi thì trò chuyện với Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, khi thì trò chuyện với Xuân Quỳnh, Lê Minh Khuê, khi ghé vào phòng giám đốc, gặp Vũ Tú Nam, Nguyễn Kiên và thường ghé vào Phòng biên tập Thơ của tôi.

Câu chuyện của chú chỉ xoay quanh chuyện văn chương, mặc dù ở Hội Nhà văn lúc ấy có khối chuyện để người ta thì thầm to nhỏ. Có lần, chú đến chơi gặp lúc Nhà xuất bản đang họp (NXB thời kỳ này tập hợp được một số anh chị em xuất sắc trong các lĩnh vực. Ai cũng lo làm việc, chẳng màng chuyện địa vị, chức tước…nên không khí rất vui). Tế Hanh kéo ghế ngồi cạnh Xuân Quỳnh và tôi - 2 tên đến trễ, ngồi bên ngoài, đang mải mê tán chuyện. Như mọi khi, chú chỉ ghé chơi, chẳng để tâm đến việc người ta đang bàn luận và biết vậy, mọi người vẫn tiếp tục bàn soạn công việc, tranh cãi, thảo luận, không ngần ngại. Tế Hanh là vậy, thực thà, hiền hậu, mơ màng. Có lúc yêu một ai đó, Tế Hanh cũng chỉ biết làm thơ: “Em biết không giữa anh và em/ Không nói được nhiều hơn là nói được”, cũng chỉ biết: “Cùng đi một quãng nói bằng lặng im”, cũng chỉ có thể Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em”. Mà nếu muốn tặng quà thì cũng chỉ có thể tặng em: “Mây nổi trên ngàn/ Trăng phơi đầu bến, biển vang cuối bờ… Tặng em thế kỷ chúng ta/ Nỗi vui nỗi khổ đều qua vội vàng”. Chẳng may, em bỏ ta mà đi thì đành tự an ủi: “Mất người yêu ta còn lại tình yêu”.

...

Nhưng chú đọc thơ thì thật tinh ý, thật nhạy cảm. Năm 1981, sau chuyến đi Tiệp Khắc, tôi in hai bài thơ trên báo Văn Nghệ. Gặp tôi trước cổng Hội Nhà văn, chú bảo: Hai bài đều khá nhưng chú thích bài Một buổi chiều ở Praha hơn. Chú bảo, chú cũng có viết về Praha nhưng đó là một Praha khác. Nghĩ một chút, chú nói thêm:

Mà cháu cũng khác rồi. Mãi sau này, khi đã qua một thời gian viết và chuẩn bị cho xuất bản Người đàn bà ngồi đan, tôi mới hiểu hết ý của chú. Quả thật, Một buổi chiều ở Praha là bài thơ mở đầu cho một giai đoạn khác của thơ tôi. Nhà xuất bản nhờ chú đọc giám định tập Người đàn bà ngồi đan.Chú gặp tôi, bàn bạc kỹ cách chọn bài và đề nghị rút bài Nguyễn Du, 1813 ra khỏi tập. Tôi tiếc lắm nhưng vẫn làm theo vì biết chú lo cho tôi. Quả nhiên, khi bài thơ in trên Tạp chí Sông Hương, có người đã gọi bài thơ là, Ý Nhi, 1983, có ý cho rằng tôi có tâm trạng không tích cực… Khi tập thơ được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn, với tư cách ủy viên Hội đồng Thơ, chú đã có bài viết nhận xét, đăng trên báo Văn nghệ, có tiêu đề Sự hình thành một bản lĩnh thơ. Chú cho rằng: “sự phản ảnh thực tại ở đây là tâm trạng của nhà thơ… tất cả là độc thoại…những cảm xúc nội tâm ấy được nâng lên trong một lối diễn tả mới mẻ. Ý Nhi thuộc vào lớp những nhà thơ đã đi xa cách diễn tả sẵn có từ phong trào thơ mới”.

Hồi chú Tế Hanh bị đau mắt, tôi thường ghé qua nhà thăm cô chú. Chú buồn lắm vì đi lại khó khăn, và nhất là vì không được đọc sách. Tôi nhớ, ít nhất chú có 3 bài thơ liên quan đến sách: Tình yêu của sách, Câu chuyện đọc sách, Cái tủ sách của cha tôi. Chú từng viết: Có tập thơ dính đầy bụi bặm/ Thời gian toan phủ một màu quên/ Có tập bị chuột ăn, gián gặm/ Tôi tưởng chừng da thịt tôi rên… Chỉ có sách: một niềm chung thủy/ Sách chẳng bao giờ nỡ bỏ ta… Vậy mà, oái oăm thay, đôi mắt đẹp của chú cứ ngày một mờ đi: Mắt anh không được như xưa/ Nhìn đêm bỡ ngỡ, nhìn trưa bàng hoàng… Mắt em ngày trước hồ trong/ Anh nhìn đôi lúc ngỡ vòng sương rơi/ Nói sao hết được em ơi/ Anh không thể bắt cuộc đời đứng yên.

Không thể đọc sách, không thể đi xa, chú thường đi quanh hồ Thiền Quang, cái hồ rất đẹp chỉ cách nhà chú vài trăm mét. Nếu như ngày trước Tôi đi quanh hồ hàng nghìn cây số/ Bước tôi đi đo thử bước thời gian/ Trong đời tôi những vui buồn sướng khổ/ Hồ biết không, hỡi hồ Thiền Quang… Thì sau này: Đi dò dẫm bên hồ từng bước/ Tôi thấy hồ như một khối mơ hồ/ Tôi biết hồ nhờ nghe qua hơi nước/ Đi bên hồ như bước giữa hư vô… Trên đường đến nơi làm việc, tôi thường nhìn thấy Tế Hanh bước chậm rãi quanh hồ, dáng phân vân, nghĩ ngợi. Hình ảnh đó đã gợi cho tôi viết bài thơ Nhà thơ và cái hồ nhỏ. Tôi muốn dùng bài thơ để kết thúc bài viết về Tế Hanh, người từng đặt câu hỏi: Đời tôi thực hay mộng/ Đời tôi buồn hay vui.

NHÀ THƠ VÀ CÁI HỒ NHỎ

Khi đời đã trụi trần, đối diện với mình đây
(Mùa thu-E. Evtusenko)

Mặt hồ quen từ buổi thiếu thời
chợt sáng lên như mảnh gương
trong mùa đông của tuổi sáu mươi
và cái ánh mới mẻ ấy
vừa đẩy ông ra xa
vừa vẫy gọi ông
tìm đến soi nhìn.

Những cuốn sách mang tên ông
những phần thưởng
những diễn đàn
những bài viết ngợi khen
những chào mời vồ vập
những bức ảnh in to và rõ nét
những chương trình phát thanh và vô tuyến truyền hình

Phải chăng
đó là cuộc đời ông

Giọt nước mắt ràn rụa qua gương mặt
hạnh phúc
nụ cười cay đắng trước trò đùa nghiệt ngã của số phận
cái giá của tự do
mặt trái của quyền lực
sự nhân nhượng của con người trước cái ác
ranh giới giữa cái đẹp và sự phù phiếm
bao ý nghĩ từng giày vò ông
và như một chứng bệnh
chúng không thể chữa khỏi bằng thứ vinh quang ông có được

Phải chăng
đó là cuộc đời ông

Lòng đố kỵ giấu kín dưới từ ngữ đẹp đẽ
sự phản trắc được giải thích bằng những lý lẽ sắc sảo
ham muốn tầm thường
được che đậy bằng câu chuyện bông đùa
và nỗi sợ hãi
hầu như vô nguyên cớ
suốt đời đè nặng ông bằng sức nặng vô hình
suốt đờ trói buộc ông bằng dây nhợ vô hình

Phải chăng
đó là cuộc đời ông

Trong những chiều
Nhà thơ thường đi quanh cái hồ quen
vẻ như khách lạ.

4/1987
Ý NHI

Theo Tiền Phong




Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

CHẦM CHẬM ĐỜI NGƯỜI - HOÀNG VIỆT HẰNG

Tình cờ nhìn thấy người bạn thuở ấu thơ đang kéo xe ba gác, ký ức về Hà Nội 50 năm trước ùa về. Nhìn lại mới thấy, những con phố, những ngôi nhà, những con người, những dòng sông… đã có quá nhiều thay đổi. Sống chậm lại một chút để lắng nghe chính đời mình đang trôi đi.

1. Cái hôm Hà Nội vừa có gió nồm thổi về, tôi xuống Đầm Trấu đi mua sách ở cơ sở của Nhà xuất bản Trẻ, chợt quá chân xuống mạn chợ bờ sông, định mua ít ngô và mua chùm bồ kết xanh về phơi trên nong nia cho đỡ nhớ quê nhà; không ngờ tôi đã nhìn thấy cậu Len hàng xóm cũ, nhà ở ngay đầu ngõ làng Vân Hồ, đang kéo xe ba gác chất đầy trấu. Cái lưng của Len cũng hơi gù giống ông Lâm cha hắn. Tự dưng tôi dừng xe lại nhìn theo mãi, rồi tạt vào quán cà phê vỉa hè khu Đầm Trấu nghe hóng về Len.

Dễ hơn 50 năm, hồi đó chúng tôi cùng học lớp 1 trường Vân Hồ, bố Len làm nghề kéo xe ba gác đi chở trấu thuê ở Đầm Trấu mạn gần nhà máy xay Lương Yên, mẹ Len làm nghề đan len thuê. Tôi học lớp 1 cũng đã đan len thuê đến khi vào lớp 3. Hồi đó chỉ dám nhận đan gấu áo len, bà mẹ Len đan thành thục thân áo len và thông thạo triết cổ và khâu chân kim cổ áo len.

Chuyện là ông Lâm, bố của Len đi từ sớm đến tối khuya mới về nhà. Mùa mưa ông hay về sớm, rủ bố tôi đi câu cá ở mạn đầm Sét. Đi qua chợ Mơ cũng hay mua chai quốc lủi mấy bìa đậu mơ nhắm với đậu phụ và cá rô đầm Sét rán vàng.
Nhịp sống phố phường Hà Nội xưa

Ký ức xưa như vừa đánh thức tôi nhớ về những con cá rô đầm Sét ở mạn Đuôi Cá, ở phía dưới phố Trương Định bây giờ. Bao nhiêu ao chuôm đầm cá, là bấy nhiêu mùa sen nở. Và tôi chợt phát hiện ra bố tôi có cái thú là hay đi dưới mưa rào, có hôm mưa rào đi xuống đầm Sét thì tạnh, ngồi câu cá hoặc xuống đầm kéo vó. Bao nhiêu là cá đi ăn mưa. Cá chép, cá mè, cá rô đầy cái chậu tôn lớn, ăn không hết mẹ tôi bảo đem cho ông bà Len rồi mang vào làng Vân Hồ cho bà Ba Được, bác họ tôi ở đó.

Tuổi thơ có bữa mẹ tôi gỡ cá rô và giã xương cá rô lọc nước nấu canh rau cải mơ, vị ngon ngọt ấy mãi thấm ở trong lòng đến giờ chưa tan.

Cậu Len hồi nhỏ học kém, hay hỏi tôi mượn vở tập chép để tối về chép lại bài tập về nhà. Chỉ ít năm sau ông khi Lâm ba gác mất đột ngột do đột quỵ. Nhà bà Len nghèo, hiếm người nên cậu Len ngày ấy nom lơ ngơ, tội lắm. Năm sau, chưa kịp giỗ đầu người bố của mình thì bà mẹ Len cũng theo chồng ra đi, để lại Len bơ vơ, không rõ trong họ có ai nuôi nấng? Rồi những năm chạy đi sơ tán…

2. Thoắt đã hơn 50 năm, giờ đây tôi nhìn thấy Len vừa kéo chiếc xe ba gác qua, cái lưng gù gù ấy ám ảnh mãi hình ảnh ông Lâm ba gác xưa. Tôi nghĩ, không hiểu sao mệnh trời lại để cha con Len làm mãi nghề ba gác khó nhọc, khi tuổi sập chiều, giờ đứa con vẫn nối cái nghề của cha khó nhọc này. Đầm Trấu không còn trấu, nhà máy xay Lương Yên không còn xay xát.

Bà bán quán cà phê vỉa hè vừa pha trà vừa kể: “Ông Len ấy có ngày kéo một xe dừa xiêm đi bán lẻ, trưa về có khi trải tấm chiếu nằm trên xe ba gác ngủ ở dưới cây trứng cá kia, hoa trứng cá nở trắng rơi đầy người mà không biết gì đâu, có hôm mưa mà giời thương, mưa cũng không rơi đến mặt”.

Nghe nói ông ta ở dưới xóm trọ nghèo dưới mạn dốc Phà Đen. Hàng ngày vẫn đi nhận kéo xi măng bán lẻ, chở hàng đồ chơi cho dân thợ ảnh chụp choẹt ở công viên Tuổi Trẻ mạn đường Trần Khát Chân. Ông Len chịu khó lắm, kể cũng lạ, cực nhọc thế mà không thấy ốm đau chi.

Chỉ sống có một mình, ông cũng hay giúp người chạy chợ, chở hàng rong, khi có người mua buôn bán lẻ vật liệu trong mạn khu nhà khá giả ở Đầm Trấu. Nhiều nhà neo người còn thuê ông đi mua cây cảnh chở về làm vườn trên tầng thượng.

Ông Len ‘‘ba gác’’ biết cả nghề điện nước, ai thuê gì làm nấy, cũng sống được nhờ tài vặt. Tôi ngồi nhấm ly cà phê đen thấy đắng. Hơn nửa thế kỷ qua, kể từ ngày Hà Nội xưa của tôi vẫn còn có chợ Đuổi, ở bên cạnh khu nhà máy cơ khí, nay đã là những ngôi nhà cao tầng với những shop thời trang thế giới tên tuổi, đèn nhập nháy sáng trưng, xóa sạch những cơ ngơi cũ kỹ của Hà Nội xưa. Chắc Hà Nội chỉ còn trong người chép sử ghi lại một thời bao cấp, một thời đạn bom và một thời tự hào, một thời luôn tràn ngập tình thương quý mến nhau.

3. Tôi đã mua xong bồ kết xanh, mua xong ngô nếp trắng, nắng đã đứng bóng mà không thấy cậu Len ba gác trở về. Bà chủ quán cà phê vỉa hè xởi lởi bảo: “Chắc gặp khách ở chợ, người ta gọi cậu ta đi chở vật liệu thì chả biết giờ nào mới về”. Tôi định nán lại, nhưng lại thôi, hẹn với mình hôm khác trở lại Đầm Trấu gặp Len, để hỏi thăm nhưng chắc gì Len muốn nhớ về cái ngõ có cha và mẹ với tuổi thơ ở gần Công viên Thống Nhất, nơi cậu ấy từng hạnh phúc và từng mất mát, nhưng nhỡ đâu, bạn lại không muốn nhớ lại chuyện cũ thì sao?

Tôi lại thấy hình ảnh cái lưng gù gù kéo xe trong vạt nắng xế, và cơn gió nồm ẩm ướt khó chịu làm người ta muốn nguôi ngoai, buông bỏ đủ thứ, nhưng thành phố đi dọc sông Hồng tôi vẫn tìm thấy sóng ký ức và một phận người chìm dạt?

HOÀNG VIỆT HẰNG
Theo TTVH


NHỚ PHAN VŨ - NGHỆ SĨ CỦA NHÂN DÂN

Phan Vũ không chỉ là nhà viết kịch, viết truyện, làm thơ, mà còn là họa sĩ vẽ chân dung và phong cảnh. Việc hội họa của Phan Vũ không nhiều người biết. Cách đây mấy năm, Phan Vũ đưa tranh đi triển lãm ở Pháp. Về nước, Phan Vũ cho tôi biết bà con đến xem rất đông, nhất là Việt kiều.

Trưa ấy, tôi ghé nhà Phan Vũ theo lời nhắn của một người bạn. Cùng ngồi chơi với Phan Vũ có nhà văn Phạm Gia Thanh - biên tập viên kịch bản Xưởng Phim truyện Hà Nội. Phạm Gia Thanh hỏi tôi sao lại đến giờ này, không đi uống bia à? Tôi bảo: “Vừa từ hàng bia về đây!” “Sao về sớm thế?”. “Hết tiền thì về”. “Thế mai lấy tiền đâu mà uống?” - Tôi nói. “Vừa gặp Cao Nhị bên Báo Văn hóa, Cao Nhị nói: “Ngày mai tới đây viết cho tớ một bài về hành khách đi tàu, tớ sẽ ứng trước cho cậu 20 đồng”.
Vợ chồng nhà thơ Phan Vũ.

Phan Vũ liền rút ra 20 đồng đưa cho tôi và bảo: “Đây là tiền để chiều nay cậu uống bia, tớ biết cậu không có bia là người lờ đờ”. Nhận tiền bỏ vào túi, tôi hỏi ngay: “Ông nhắn tôi đến là có việc gì?”. Vũ che miệng húng hắng ho, rồi bảo: “Tớ sẽ nói ngay, việc cũng quan trọng đấy, nhưng trước khi nói, tớ đọc cho cậu nghe cái trường ca vừa làm xong. Trường ca có tên: "Hà Nội phố”. Nói rồi, Phan Vũ lên giọng. Trường ca dài hơn 1000 câu, Phan Vũ đọc một mạch. Tôi bảo:

- Hay lắm! Tớ thích cái điệp khúc “Em ơi! Hà Nội - phố”. Câu này có thể hiểu theo 2 cách: Em là người Hà Nội và Em cũng là Hà Nội phố.

Phan Vũ cười:

- Cách hiểu của cậu hơi lạ so với những người khác, nhưng lại hợp với suy nghĩ của tớ.

Tôi bảo:

- Gửi cho Báo Văn nghệ đăng.

Phan Vũ cười nhạt:

- Chẳng có cái văn bản nào về việc cấm đăng bài của bọn tớ, nhưng tác phẩm của bọn tớ sáng tạo ra gửi đến các báo đều ít khi được in. Thế nhưng báo cho cậu một tin vui là vẫn có nơi họ sử dụng bài viết và kịch nói của tớ. Hai hôm nữa, tức là 8 giờ sáng ngày mốt, thứ Sáu, bên Đài Tiếng nói Việt Nam dựng vở kịch nói của tớ viết về Cụ Hồ và Lê Quảng Ba từ Trung Quốc về nước. Họ đề nghị tớ nhờ cậu làm cố vấn về ngôn ngữ và sự kiện, vì cậu có thâm niên ở Việt Bắc hơn 10 năm, và lại là tác giả của cuốn sách viết về Hoàng Văn Thụ. Xuân Đài nhớ đến đúng giờ giúp mình nhé!

Hai hôm sau, tôi đến đúng giờ ở phòng thu phố Bà Triệu. Anh biên tập viên Phòng Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam đã ngồi sẵn. Các diễn viên vào phòng thu âm diễn kịch chỉ bằng tiếng. Đó là đặc trưng của kịch truyền thanh. Họ diễn đến đâu, anh biên tập ra hiệu dừng lại đến đó và đề nghị tôi có ý kiến. Thực ra ý kiến của tôi cũng không nhiều, lúc này tôi chỉ nhớ 1 chi tiết.

Tôi bảo với họ: “Trong tiếng Tày, “Pác” là mồm, “Pắc” là “cắm”! Các bạn phải gọi là “Pác Pó”, tức là cái miệng hang, còn “Pắc Pó” là sai”. Biên tập viên và Phan Vũ tiếp thu ngay, buộc diễn viên phải diễn lại.

Theo anh biên tập viên, vở kịch của Phan Vũ sẽ phát vào tối thứ Bảy (vào giờ nào thì lúc này tôi quên mất rồi). Chiều hôm đó, tôi đến báo cho ông Nguyễn Chí Kim – Vụ trưởng Vụ Tuyên giáo Ban Dân tộc Trung ương, đề nghị anh báo cho anh Lê Quảng Ba – Trưởng ban Dân tộc (tương đương Bộ trưởng) và toàn thể cán bộ, công nhân viên trong Ban đón nghe. Sáng thứ Hai, ông Kim báo cho tôi biết ông Lê Quảng Ba rất khen kịch của Phan Vũ, hay về nghệ thuật, lại chính xác về sự việc. Tôi rất mừng và đề nghị ông Kim nên cấp cho Phan Vũ một cái giấy khen và ít tiền gọi là để động viên.

Ông Kim cười: “Giấy khen thì dễ rồi, còn tiền theo Xuân Đài bao nhiêu thì vừa?”. Tôi bảo: “Chút ít gọi là động viên thôi ông, khoảng 100 đồng là vừa”. Ông Kim bảo: “Tôi sẽ báo cáo với ông Lê Quảng Ba và xuống phòng tài vụ làm ngay”.

Tôi nhớ thêm kỷ niệm nữa về Phan Vũ hồi đó. Số là có cháu Nguyễn Thu Quyên, nhà ở phố Nguyễn Thái Học, vừa tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trong một lần tìm gặp tôi, bảo: “Cách đây mấy hôm, chú Phùng Quán - bạn của bố cháu đến chơi, chú đọc thơ cho cả nhà nghe, sau đó chú đọc trường ca "Hà Nội phố" của ông Phan Vũ mà không cần bản thảo cầm tay. Chú Đài ơi, cháu muốn ông Phan Vũ cho cháu 1 bản chép tay thì làm sao ạ? Chú giúp được không?”. “Được! Chú sẽ viết vài dòng giới thiệu cháu với ông Phan Vũ và đề nghị ông ấy chép cho cháu. Ông Phan Vũ là người thoải mái, rất quý mến bạn đọc nên chú tin ông ấy sẽ chép cho cháu”. Tôi viết vài dòng cho Phan Vũ và chỉ số nhà ở phố Hàng Bún cho cháu Quyên.

Mấy hôm sau, cháu Thu Quyên đến gặp tôi, hớn hở khoe bản thảo "Hà Nội phố" do chính tay Phan Vũ chép, và nói: “Trước lúc đi, cháu có nhét vào phong bì một chút tiền và viết mấy dòng: Thơ chú các báo không chịu đăng, cháu là nhân dân, nhân dân yêu chú, đây là số tiền nhuận bút của nhân dân, mong chú không từ chối!”. Cháu nói dối chú Phan Vũ sau khi đưa bì thư: “Trong đây là bài thơ cháu mới làm, lúc nào cháu về chú hãy đọc”. Nói rồi cháu ôm tạm biệt chú và đi ngay.

Tôi gõ đầu cháu Quyên: “Con ranh, khôn thế! Biết cách cư xử của một người Hà Nội gốc!”.

Phan Vũ không chỉ là nhà viết kịch, viết truyện, làm thơ, mà còn là họa sĩ vẽ chân dung và phong cảnh. Việc hội họa của Phan Vũ không nhiều người biết. Cách đây mấy năm, Phan Vũ đưa tranh đi triển lãm ở Pháp. Về nước, Phan Vũ cho tôi biết bà con đến xem rất đông, nhất là Việt kiều.

Từ dạo đó, tôi và Phan Vũ hay gặp nhau ở căng tin Hội Văn nghệ uống bia. Mỗi lần, Phan Vũ lại đọc cho tôi nghe vài bài thơ, tôi thấy thơ Vũ hay, ý ở ngoài lời, ẩn dụ rất kín đáo. Tôi bảo Vũ: “Sao không in một tập thơ?” - “Không nhà xuất bản nào chịu chi tiền in cho mình, muốn in mình phải xuất tiền, mà tiền thì mình không có. Xuân Đài in tập thơ "Tạ tội" chắc cũng phải tự xuất tiền ra…”.

Gần đây Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam cộng tác cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn in tập thơ cho Phan Vũ, tập thơ tên là “Ta còn em” (trong đó có trường ca “Hà Nội phố”). Thế là thơ Phan Vũ đã đến với bạn đọc một cách đàng hoàng.

Chuyện về Phan Vũ nếu kể ra còn rất nhiều…

Tôi chỉ thêm 1 chuyện nhỏ. Cháu Việt Nga (con gái Phan Vũ) nhiều lần gọi tôi lên chơi với bố cháu, bố cháu hay nhắc đến bạn bè cũ. Có lần cháu nhắn tôi xuống Vũng Tàu chơi với bố, hai ông già ngồi trong căn hộ, ngắm biển trò chuyện hẳn thú vị lắm. Tôi bảo cháu: “Bây giờ chú còn mệt, bao giờ khỏe hơn chú sẽ đi”. Vậy là chẳng bao giờ gặp được anh nữa… Hẹn gặp anh nơi anh vừa mới đến, chờ nhé!

XUÂN ĐÀI
Theo VNCA




Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

NHỮNG KẺ BẮT NẠT - JESSE PETERSON

Tôi từng có một con ngựa xấu tính, sẵn sàng đá vào mặt tôi bất cứ lúc nào. Bố đã dạy tôi bước tới, không sợ hãi, và quát nó thật to.

Tôi lớn lên trong một trang trại nuôi rất nhiều ngựa, mỗi con nặng trung bình 900kg. Ngựa, cũng như một con người hay một cộng đồng người, có tính cách khác nhau và riêng biệt. Với một con ngựa hung dữ khổng lồ, điều khiển nó quả thực rất khó khăn, đặc biệt là khi tôi chỉ mới 10 tuổi, nặng không tới 30 kg tính luôn cả đôi bốt.

"Jake! Đứng vào vị trí" - tôi đã làm theo lời bố, hét vào mặt con ngựa. Giờ nghĩ lại ký ức về việc một cậu bé con ra lệnh cho con ngựa lớn, tôi tưởng chừng các con ngựa khác trong chuồng đang nhìn nhau và tủm tỉm cười. "Được rồi, bé con", con ngựa Jake chắc đã thầm nghĩ.

Bố dạy rất nhiều bài học, nhưng phải đến giờ tôi mới hiểu được ý nghĩa của chúng. Ông thường dành thời gian đến bên giường, đọc truyện cho tôi trước giờ đi ngủ. Những câu chuyện ngụ ngôn về con rồng hung dữ, tàn sát dân làng.

Thời điểm đó tôi cũng có con rồng của tôi. Nó là thằng chung lớp tên Doug, thân hình phốp pháp, chuyên bắt nạt tôi. Tôi sợ nó lắm, vì nó mà mỗi sáng thức dậy tôi sợ đến trường, gặp ai tôi cũng hỏi cách để thoát khỏi thằng Doug đó. Mẹ tôi, một phụ nữ sùng đạo và theo chủ nghĩa hoà bình, bảo: "Hai đứa thử nói chuyện với nhau đi". Kết quả là tôi còn bị nó cười nhạo và đánh nhiều hơn. Mẹ nói chuyện với mẹ của Doug. Cũng chẳng giải quyết được gì, tôi vẫn bị nó cho ăn đòn.

Bố nghe chuyện, ông vỗ vai kể về con rồng của ông. Richard hồi xưa hay bắt nạt bố và Tony. Hai bọn họ sợ lắm, mỗi lần tan học là co giò chạy cho nhanh. Ông nội bảo, lần sau nếu Richard có đánh, hai đứa phải cùng đáp trả. Richard khá bất ngờ khi bố và Tony không bỏ trốn nữa và phản công, từ đó nó không dám đụng đến bố nữa. Tình huống đó giống như truyện cổ tích bố hay kể, người dân một làng hợp sức, cùng đứng lên chống lại con rồng bằng sức mạnh đoàn kết.

Nhường nhịn trong nhiều trường hợp là tốt nhưng có những khi cách nhún nhường của mẹ không sử dụng được. Nhiều thế kỷ trước, bộ lạc Maori gần đảo New Zealand nổi lên với nền văn hoá chiến binh, khát máu. Bộ lạc hàng xóm Moriori trong trận chiến, thay vì quyết liệt chống trả, lại vẫy cờ hoà bình, muốn làm bạn và sẵn sàng dâng hiến một phần tài nguyên cho Maori. Cuối cùng, tất cả những người Moriori bị tiêu diệt.

Bộ lạc Maori dù là con rồng hung dữ ăn hiếp Moriori, nhưng khi gặp nước Anh hùng mạnh đã phải thay đổi và thích nghi. Người Maori chọn đứng ở giữa của sự đương đầu và chủ nghĩa hoà bình, làm cho đối thủ phải dè chừng bởi uy quyền ngấm trong máu của từng chiến binh. Vì vậy mà Maori có thể hợp tác và có cuộc sống yên bình với người Anh.

Những câu chuyện ngụ ngôn như vậy có ở khắp nơi. Pháp phải thay đổi cách sống với thế giới sau trận Điện Biên Phủ nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam. Nhật phải thay đổi thái độ với thế giới sau khi gặp Đồng minh năm 1945. Tất cả họ đều bị buộc phải thích nghi, chọn con đường ở giữa.

Mỗi chúng ta không thể luôn lẩn trốn con rồng hiếu chiến và ưa bắt nạt như người Moriori. Vậy làm thế nào để đối mặt với con rồng của mình đây? Tất nhiên là mình sẽ không đi tìm nó mà trong lúc này, hãy rèn luyện nội lực tốt nhất có thể. Mình phải chuẩn bị cho ngày nó đến tìm mình. Mà sự thật, con rồng không mạnh như nó nghĩ đâu. Nó giống một cung điện làm bằng giấy chưa gặp gió bão. Những kẻ ưa bắt nạt thực ra đều rất yếu đuối.

Bạn gái tôi học võ. Gần đây có nhiều người nói với tôi: "Phụ nữ không nên học võ thuật, chỉ khổ các ông chồng"; "Họ sẽ đánh những phụ nữ khác". Không đâu, võ sinh được dạy rằng, bạo lực không bao giờ là lựa chọn đầu tiên để giải quyết vấn đề. Ta chỉ dùng đến nó khi không còn cách nào khác. Nhưng sức mạnh có được từ khả năng tự bảo vệ bản thân cho phép ta được sống tự do, cho ta sức mạnh chống lại những con rồng xấu tính khi nó đến.

Đôi khi, tôi thấy một vài hiệp sĩ Việt Nam dừng lại để bắt một tên cướp hoặc ngăn chặn một tội ác. Một thân một mình rất nguy hiểm cho họ nếu không có nhiều người tham gia giúp đỡ. Đa số chúng ta còn giữ lối tư duy: không phải vấn đề của tôi thì tôi không can thiệp. Nhưng đó chính là vấn đề của bạn. Đó chính là tiền đề của sự tham nhũng, bị động và suy thoái của một xã hội.

Hãy hình dung ở đâu cũng có những con rồng đe dọa mình và mọi người. Bạn không thể cứ tay không ra ngoài đối mặt với nó, cũng không thể chạy trốn khỏi nó. Bạn cần chuẩn bị.

JESSE PETERSON
 (Nguyên tác tiếng Việt)/VNEX



DIỆN MẠO THƠ VIỆT ĐẦU THẾ KỈ XXI

Giờ đây, khi nhìn lại, chúng ta thấy thế kỉ XX là một thế kỉ đầy những biến động to lớn của văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng. Biến động về hệ hình văn học với sự chuyển đổi từ mô hình văn học trung đại sang hiện đại. Biến động về đội ngũ tác giả. Sau thế hệ “những người muôn năm cũ” với những Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải là thế hệ Thơ mới, thế hệ nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, trong chiến tranh biên giới và rồi tiếp đến thế hệ nhà thơ sinh ra trong hòa bình, độc lập. Biến động về thể loại. Nhiều thể loại đã lui vào ở ẩn trong tháp ngà như Đường luật, song thất lục bát, nhường chỗ cho thơ tự do, trường ca… Trở lại với thực tại, ở cuối thập niên thứ hai của thế kỉ XXI, chắc hẳn sẽ có nhiều người tự hỏi, vậy diện mạo thơ Việt hiện tại ra sao? Đây là một câu hỏi lớn, rất lớn. Trong khuôn khổ của một bài viết, chắc chắn không thể giải đáp hết được. Dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày những nét khái lược nhất.
Từ trái sang, các nhà thơ: Trầm Hương, Phan Hoàng, Bang Hyun Suk, Văn Lê, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Vũ Quỳnh, Phùng Hiệu tại Hội thảo quốc tế “Triển vọng Giao lưu Văn học Việt - Hàn” tổ chức ở TP Hồ Chí Minh 12-2017

1. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI đánh dấu sự quay trở lại của cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi. Sau mấy thập kỉ phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu, sang thập niên 80 của thế kỉ trước, đặc biệt khi bắt đầu thời kì Đổi mới, hiện thực đất nước thời mở cửa với bao bộn bề, lo toan, đói nghèo và lạc hậu đã khiến cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi trở nên lạc điệu. Thơ trở về đời thường với cảm hứng thế sự, đi sâu vào thế giới nội tâm nhỏ bé của con người… Đến cuối thế kỉ XX, ít ai còn nói đến cảm hứng dân tộc, thậm chí có người bắt đầu “soạn” lời cáo chung cho khuynh hướng sử thi. Nhưng đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, cảm hứng dân tộc có xu hướng trở lại mạnh mẽ. Điều này có nguyên do từ những tác động của hiện thực đất nước. Việc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc bị đe dọa đã thổi bùng lên chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc trong trái tim, trí óc người dân Việt nói chung, các nhà thơ nói riêng. Và như loài phượng hoàng bất tử, vụt bay lên tái sinh từ tro tàn, cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi đã trở lại một cách ngoạn mục, nhất là trong các thi phẩm viết về biển, đảo quê hương.

Trong thơ viết về biển đảo, hai địa danh thường xuyên được nhắc đến nhất là Trường Sa và Hoàng Sa. Trường Sa - cái tên thôi cũng đủ thấy sự xa xôi, cách trở. Cứ tưởng Trường Sa chỉ có sóng và gió, cứ tưởng Trường Sa chỉ có đảo đá khô cằn. Nhưng không, Trường Sa trong thơ thật gần gũi, máu thịt, ở đó tiếng chuông chùa thân thuộc vang xa thật bình yên: Hình như tiếng chuông chùa Hoàng Phi thì phải/ Phật linh thiêng không quản nơi xa ngái/ Vượt biển độ trì cho dân đảo cầu an (Cổ tích thời @ - Võ Thị Kim Liên), và tiếng hát trẻ thơ ngoài Trường Sa mà như nghe ở làng quê bên sông Hồng, sông Hậu (Nghe trẻ hát ở Trường Sa - Ngô Minh). Còn nhắc đến Hoàng Sa, mỗi lần nhắc là một lần nhói buốt. Cái tên đó cứa vào lòng người Việt nỗi đau về một vùng chủ quyền bị lấy mất, chạm đến khát vọng khắc khoải một ngày đòi lại được mảnh đất của cha ông: Mộ gió đây/ những phút giây biển lặng/ gió là tay ôm ấp bến bờ xa/ chạm vào gió như chạm vào da thịt/ chạm vào/ nhói buốt/ Hoàng Sa… (Mộ gió - Trịnh Công Lộc). Bài thơ được gợi cảm hứng từ những ngôi mộ gió trên đảo Lý Sơn. Từ xưa đến nay, bao người con đất Việt đã không ngại hi sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thân xác họ chìm sâu dưới đáy đại dương nhưng khát vọng giữ gìn biển đảo quê hương của họ như đã hòa vào gió, vào sóng. Mọi ánh nhìn vẫn đang đau đáu về hướng đó với nỗi khắc khoải chưa bao giờ nguôi: Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa (Tổ quốc nhìn từ biển - Nguyễn Việt Chiến).

Khi chủ quyền biển đảo bị đe dọa, ngay lập tức lòng yêu nước, tinh thần xả thân vì lãnh thổ trọn vẹn của đất nước lại bừng trỗi dậy mạnh mẽ: Biển của mình thì mình đem máu xương gìn giữ/ Biển của mình thì mình phải ra khơi/ Buồm căng lồng ngực bạn chài ngân vang câu hát/ Đây biển Việt Nam/ Đây hồn Việt Nam/ Tổ quốc trào dâng cùng biển trời bát ngát (Vọng Hải Đài - Bùi Công Minh). Giọng thơ khi thủ thỉ, khi thúc giục như một lời hiệu triệu. Hình ảnh những người dân chài ra khơi bám biển, không chỉ vì mục đích mưu sinh mà còn để bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng thật mạnh mẽ hào hùng, như hình ảnh những người tráng sĩ hiên ngang ra trước sóng gió. Đó cũng là tư thế của cả dân tộc - một dân tộc có truyền thống bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Hãy lắng nghe lời tuyên thệ của người lính hải quân: vì Tổ quốc/ chúng tôi là cột mốc/ chúng tôi là trận địa tiền duyên/ chúng tôi là lá chắn/ chúng tôi là bệ phóng/ chúng tôi là chốt chặn xâm lăng (Chúng tôi ở Trường Sa - Nguyễn Hữu Quý). Nó gợi đến lời thề “Sát Thát” trong trận chiến chống Nguyên Mông, lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong kháng chiến chống Pháp, là âm vang hào khí anh dũng của dân tộc mấy nghìn năm chống ngoại xâm.

Trong thơ viết về biển đảo từ xưa đến nay, người lính hải quân luôn là biểu tượng đẹp đẽ của lòng dũng cảm, tinh thần xả thân vì Tổ quốc. Những vần thơ xúc động nhất là những vần thơ nói về sự hi sinh của các anh. Nguyễn Hữu Quý đã tái hiện kí ức về những đoàn tàu không số, tái hiện những hải trình khốc liệt chi viện cho miền Nam, tái hiện những chuyến đi không hẹn ngày trở về của người lính hải quân năm xưa bằng những câu thơ dữ dội: Trong mơ các anh về/ từ những con tàu đã ngủ quên dưới đáy biển/…/ những hành trình nương vào bão tố/ để che mắt quân thù/…/ lỗ chỗ vết đạn găm/ trục vớt lên những mùa đông/ lặng im cảm tử/ trục vớt lên những mùa xuân không hoa đào nở/ ngổn ngang trời, ngổn ngang biển mây bay (Hạ thủy những giấc mơ). Nguyễn Việt Chiến dựng lại phút giây bi tráng khi người lính lấy thân mình bảo vệ lá cờ trên đảo Gạc Ma: hi sinh ở đảo đá Gạc Ma/ Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn/ Để một lần Tổ quốc được sinh ra/ Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm (Biển là nơi Tổ quốc sinh ra). Ở một hướng tiếp cận khác, nhà thơ Nguyễn Trọng Văn lại viết về nỗi đau trong thời bình. Khi mọi người đang có cuộc sống bình yên nơi đất liền thì ngoài kia, biển khơi tiếng sóng ầm ào hát ru người chiến sĩ hải quân vào giấc ngủ ngàn năm: Quấn chặt lá cờ/ Vào sát ngực mình/ Bên phía trái tim/ (Vật duy nhất còn lại trên nhà giàn - 2A/DK1/6)/ Đại úy Vũ Quang Chương/ Gồng mình/ Hít hơi thở cuối/ Anh mỉm cười thấy đồng đội đã xuống tàu cứu hộ an toàn/ Anh mỉm cười…/ Một con sóng chồm lên/ Cờ Tổ quốc còn nguyên bên ngực/ Chỗ anh đứng/ Sóng liên hồi kì trận/ Sóng liên hồi/ Từng đợt lại chồm lên/ Anh mỉm cười/- Đâu cũng quê hương/ Biển thẳm sâu, ru anh vào giấc ngủ... (Tổ quốc - đường chân trời). Những người lính ấy, họ đón nhận cái chết một cách tự nguyện và thanh thản. Hình ảnh những người lính lấy thân mình che chắn cho lá cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma, hay hình ảnh người lính quấn lá cờ quanh mình trước khi phong ba ập xuống nhà giàn là biểu tượng của tình yêu nước bất tử. Hi sinh cho những gì thiêng liêng và cao cả, đó không chỉ là mất mát, đó còn là niềm tự hào.

Bên cạnh những vần thơ về biển đảo quê hương, cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi còn xuất hiện trong nhiều trường ca viết về đất nước dặm dài. Trường ca Bước gió truyền kì của Phan Hoàng là một câu chuyện truyền kì về công cuộc mở cõi và giữ nước của dân tộc, đưa người đọc vào một hành trình kì lạ, vừa thực vừa mơ để khám phá những vẻ đẹp của văn hóa, khí phách và ý chí của dân tộc với nhiều cung bậc cảm xúc thẩm mĩ khác nhau. Trải qua hàng ngàn năm, để mảnh đất hôm nay mang hình chữ S, để có chủ quyền trên hải đảo xa xôi là công sức mở cõi của hàng triệu người con đất Việt, hữu danh và vô danh: Ơi lớp lớp người người/ hiên ngang đôi cánh ước mơ chim Việt/…/ Bước gió vó ngựa uy phong Lê Thánh Tôn…/ Bước gió Nguyễn Hoàng/ bước gió Lương Văn Chánh/ bước gió Nguyễn Hữu Cảnh/ bước gió những đoàn quân vô danh/ bước gió những lưu dân vô danh/ bước gió những nghệ sĩ vô danh/ bước gió những mĩ nữ vô danh…/ nhập hồn xóm làng/ nhập hồn sông suối/ nhập hồn núi rừng/ nhập hồn biển đảo… Mỗi một tấc đất đều được đổi bằng máu: máu/ máu/ máu/ mở cõi/ máu/ máu/ máu/ giữ nước. Đã một thời gian dài, trong thơ Việt, người đọc chưa bắt gặp những câu thơ mang âm hưởng tráng ca như thế.


Trường ca Long mạch của nhà thơ Hoàng Trần Cương được cấu trúc thành 11 chương: Khấn thầm, Huyết thống, Nết đất, Hồn sông, Mạch chủ, Thác ghềnh, Quỷ nước, Sấp ngửa, Sông và em, Vía biển, Thế núi, với những hô ứng liên hoàn, thắt mở đầy mê dụ để chỉ khí và thế của đất đai sông núi. Long mạch trước hết là niềm tự hào về thế địa linh của Tổ quốc với núi với sông, đất liền và biển cả: Cứ như là rủ nhau/ Nguồn mạch đất đai nổi chìm đứt nối/ Đứng là núi/ Chảy là sông/ Mênh mông là biển/ Dài rộng đất liền/ Quây bờ xẻ bếnLong mạch cũng là nơi nảy sinh bao điều tốt đẹp, là xứ sở của những người lao động khéo léo và quả cảm: Năm tháng chảy/ Đan tơ dệt lụa/ Hãm thác ghềnh/ Gói bọc đất đai, xứ sở của tình yêu và lòng bao dung: Thành lứa/ Thành đôi/ Vun bồi đắp đổi/ Ngày một ngày hai trổ nụ vươn cành/ Nối li tán/ Ngấm ngầm tụ hội. Long mạch đâu chỉ là thế núi hình sông của đất nước mà còn là vóc dáng tinh thần, tâm hồn của dân nước. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, vóc dáng, tâm hồn ấy vẫn lưu truyền, hun đúc nên bản lĩnh của thế hệ hôm nay: Mang dòng chảy/ Chở ngọn nguồn/ Đầy bị/ Ngày đi/ Đêm đi/ Chúng mình đi/ Nước mắt/ Chắt ước vọng/ Nuôi núi sông.

Trường ca Chân đất của Thanh Thảo là những suy cảm của tác giả về quê hương, về Tổ quốc, về nhân dân trong thời cuộc mới. Từ biểu tượng lớn Chân đất tác giả mở ra nhiều hướng để luồng tâm tư trải rộng những vấn đề nhân tình, thế sự qua 9 đoạn thơ với các biểu tượng: Chân tre, Chân ruộng, Chân mưa, Chân núi, Chân cò, Chân tháp, Chân mây, Chân sóng, Chân lũy. Điểm nổi bật nhất trong bản trường ca là những suy ngẫm về nhân dân. Nhân dân nghèo đói nhưng nghĩa tình, nhân dân không gọi nhau “man” này “man” nọ/ nhân dân gọi nhau đồng bào. Từ ngàn xưa, nhân dân đã âm thầm dựng xây đất nước: hình như tổ tiên mình trồng một bụi tre/ trồng một lũy tre/ trồng một rừng tre/ bên dưới thành Châu Sa/ bên dưới Trường Lũy. Và ngày nay, nhân dân đang bền bỉ xây dựng nên Trường Lũy của tình người, của tinh thần bất khuất: cùng mọi người tôi vác đá xây lũy/ cùng mọi người tôi vác tự do vác tình anh em qua lũy/ cùng mọi người tôi ném những trái ngang khỏi lũy/…/ dù chân lũy tới chân trời/ xa lắc chơi vơi/ chúng tôi đi/ dè dặt/ chúng tôi đi/ từng bước. Chân đất là một bản giao hưởng ngôn từ bi tráng và kiêu hãnh về một dân tộc đã đứng lên từ nước mắt và máu để dựng lên nhân cách sống của mình suốt chiều dài lịch sử.

Sự trỗi dậy của cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi trong các vần thơ viết về biển đảo quê hương và non sông đất nước đầu thế kỉ XXI đã thể hiện trách nhiệm công dân của các nhà thơ trước những vấn đề trọng đại của dân tộc, qua đó chứng minh chủ nghĩa yêu nước vẫn luôn là một “đại tự sự” xuyên suốt lịch sử thơ ca Việt từ xưa đến nay.

2. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI phản ánh những vấn đề quan thiết của nhân loại trong thời đại toàn cầu hóa. Thế kỉ XXI được bắt đầu bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) diễn ra từ những năm 2000, còn gọi là cuộc cách mạng số chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Một thế giới số - bản sao của thế giới thực - đã và đang hình thành, thâm nhập vào đời sống của mỗi công dân đương đại. Nền văn minh hậu công nghiệp đem lại cho con người cuộc sống tiện nghi, nhưng mặt trái của nó là nhân loại mải mê với những phát minh, những cuộc chinh phục nên không bao giờ yên ổn: Nhân loại tỉnh thức/ Nhân loại cuồng say tạo dựng, săn lùng và tàn phá/ Nhân loại thức công nghiệp/ Nhân loại thức điện tử/ Nhân loại thức bay ra ngoài trái đất/ Nhân loại thức không bao giờ ngủ được nữa (Giấc ngủ màu xanh - Lương Tử Đức). Sự gấp gáp của nhịp thơ cũng là nhịp sống hối hả của thời đại hậu công nghiệp, đồng thời thể hiện sự hoảng hốt của con người trước một nhân loại không bao giờ ngủ - một ẩn dụ cho sự thiếu cân bằng trầm trọng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Sự trơ lì cảm xúc đã trở nên báo động, như một thảm họa tàn khốc chẳng kém thảm họa thiên nhiên: Người ta đang lí giải El Nino thiên nhiên/ Mà lãng quên một El Nino xoay vần nhân tình thế thái/ Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn/ Thậm chí có ít thời gian để cười và càng ít khóc (Đôi mắt lửa Puskin - Vi Thùy Linh). Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn là một mệnh đề không mới, nhưng khi Vi Thùy Linh viết Thậm chí có ít thời gian để cười và càng ít khóc thì người ta phải ngạc nhiên vì sự già dặn và tinh tế của một cô gái tuổi mới đôi mươi. Trong một bài phát biểu, thiên tài vật lí người Anh Stephen Hawking đã cảnh báo trí tuệ nhân tạo sẽ hủy diệt loài người. Nhưng có lẽ, loài người đã tự hủy diệt mình sớm hơn thế, từ cái ngày mà loài người phá hủy hệ cân bằng sinh thái, từ cái ngày loài người chối bỏ những xúc cảm buồn, vui, yêu, ghét vốn là đặc trưng cao quý của giống loài mình. Những dự đoán về tương lai bất ổn càng ngày càng xuất hiện nhiều trong thơ: Tôi nằm lo một cái gì như thể/ Một tai ương sắp dội xuống phàm trần (Nhớ tiếng mèo ngõ vắng - Ngô Xuân Hội); Giật mình muốn hỏi Thượng Đế/ Ô nhiễm, bão lụt... quá nhiều/ Chẳng hay ngài cho Trái Đất/ Nhiệm kì này còn bao nhiêu? (Trò chuyện với Thượng Đế - Trần Ninh Hồ).

Soi chiếu vào thực trạng đất nước trong thời đại hậu công nghiệp và toàn cầu hóa, các nhà thơ đặc biệt chú ý đến việc phơi bày những mặt trái của xã hội hiện đại. Như trên đã nói, cảm hứng hiện thực trở lại với thơ từ khi kết thúc chiến tranh nhưng chủ yếu đó là hiện thực đói nghèo, lạc hậu. Ngày nay, mặt trái của thời kì đô thị hóa, của thời đại kĩ trị còn khủng khiếp hơn thế: Đồ vật ngày lên ngôi, hư vinh cũng chòi lên/ căn phòng chật tiếng cãi cọ các thế hệ công nghệ/ ti vi siêu mỏng, điện tử thời đại số/ tình cảm hóa thân những cuộc chát và tin nhắn (Đồ vật - Trần Quang Quý). Giàu có về vật chất làm con người nghèo nàn đi về tâm hồn. Con người tách mình ra khỏi thiên nhiên, dửng dưng trước vẻ đẹp của thiên nhiên màu lá non tơ ngoài phòng lạnh (Nhật kí cuối thế kỉ - Tuyết Nga), thậm chí còn hủy hoại thiên nhiên: Đừng hát nữa mà đau/ em ơi Hà Nội phố/ Ôi thôi thôi/ Cây đã về với kiếp tro than/ Người ở lại cùng lời nức nở! (Văn điếu cây Hà Nội- Vương Trọng).

Chạy theo công nghệ, con người bỏ rơi giá trị văn hóa truyền thống: Trăng lang thang ngoài bến sông Hồng/ Tìm lời ru những người mẹ trẻ/ Nhưng lời ru đã chết sau màn hình đa hệ/ Trăng ôm vào lòng đứa trẻ mồ côi (Nỗi buồn đô thị - Nguyễn Trác). Tách ra khỏi những cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, trái tim trở nên khô cằn không thể đón nhận âm vang cuộc sống, trái tim hóa thành vách đá/ tiếng vọng sượt qua/ rơi/ lả tả(Vách đá - Lê Quốc Hán). Thói vụ lợi biến con người thành kẻ vô tình: Tôi quên lãng những bông dạ hương trước một loài hoa hướng dương/ Tôi lãng quên những cây đại thụ khi ngồi trên sập gụ tủ chè (Quên lãng - Nguyễn Tấn Việt) và là kẻ giết người: Một góc phố một hiệu kim hoàn bị phá cửa/ Và trong quán rượu một người say đâm chết một người say (Đoản ca buổi tối - Nguyễn Quang Thiều). Mỗi câu thơ trên là một tiếng nói cảnh tỉnh sự tha hóa, vô cảm của con người.

3. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI lặn sâu vào thế giới nội tâm, truy tìm cái tôi cá thể và cái tôi bản thể, khai thác miền tâm linh. Thơ cách mạng vì điều kiện hoàn cảnh không thể là tiếng nói của cái tôi cá thể, càng không thể là tiếng nói của cái tôi bản thể và đi vào những đề tài nhạy cảm như tâm linh, vô thức. Chỉ khi chiến tranh qua đi, đặc biệt là sau Đổi mới, những nhu cầu nói trên mới trở nên mãnh liệt. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI đã tiếp tục mạch thơ này vắt sang từ những thập niên cuối của thế kỉ XX.


Cái tôi cá thể hiện nay đang được khẳng định như một giá trị. Đó là nhu cầu ý thức về mình, xác định chỗ đứng của mình trước thế giới và trong các quan hệ xã hội, cá nhân. Trước hết cá thể đó thể hiện ngay trong cái tôi sáng tạo của mỗi nhà thơ. Trong xu hướng đổi mới chung, mỗi nhà thơ hiện nay nỗ lực tìm tòi cho mình một hướng đi riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của một cái tôi đa chiều kích, đầy kiêu hãnh và độc lập. “Rời khỏi bầy đàn” trở thành tuyên ngôn chung cho cả một thế hệ nhà thơ, xác lập một tâm thế độc mã trên hành trình sáng tạo: Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/ Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em trong miệng - Mai Văn Phấn); Tôi bứt khỏi tập thể/ Câu thơ bứt khỏi máu còn nguyên rễ (Giác quan ánh chớp - Nguyễn Hữu Hồng Minh). Nếu cái lạc lõng của các nhà Thơ mới là do bị đẩy ra khỏi bầy đàn thì cái lạc lõng của các nhà thơ đương đại là do họ chủ động lựa chọn, chấp nhận cô đơn, thậm chí quay lưng lại tập thể để xác lập một tiếng nói riêng. Cái tôi sáng tạo của thơ đương đại gai góc, nổi loạn một cách bản lĩnh. Bởi vậy đặc trưng của thơ cách tân đương đại là không dựa vào bất kì chuẩn mực nào, tự vươn tới những chân trời cao rộng của sáng tạo, bứt phá khỏi mọi khuôn mẫu giá trị cũ để tìm một không gian sáng tạo mới, như chú ngựa non vùng thức dậy chạy trên thảo nguyên bao la: Thức dậy đi hỡi chú ngựa non của lồng ngực trẻ/ Thức dậy và tung bờm cất vó/.../ Thức dậy, dẫm chân và lắc đầu kiêu hãnh/ Trước những yên cương rực rỡ sắc màu/ Thức dậy để uống sương mai/…/ Thức dậy đi ơi chú ngựa/ Đã ngủ sâu trong đáy tim nhiều năm tháng (Bài ca ngựa non - Trần Lê Sơn Ý).

Hiện tượng lấy tên mình đặt cho một bài thơ, một tập thơ không còn là hiếm (Trang Thanh - Trang Thanh, Vili in love - Vi Thùy Linh…), như một cách khẳng định cái tôi ngay từ tiêu đề tác phẩm. Con người ngày nay có khát vọng tạo dựng một chân dung riêng biệt của mình trong thơ. Đó có thể là chân dung ngoại hình: tôi nhìn/ tôi/ trán dô cằm nhọn má cao/ nhân trung sâu/ thọ đau kiếp nạn/ mím môi/ không sẻ cho người (Trang Thanh - Trang Thanh). Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là chân dung tinh thần. Cái tôi cá thể dám làm và dám chịu trách nhiệm về những việc đã làm, cho dù đối lập với tất cả: Tôi phóng sinh tất cả khỏi lề thói/ Lao vào đêm ca hát những điều tôi thích/ Trong sự bất cần của những mặt nạ lặng câm/ Trong sự ồn ĩ của những mặt nạ phản đối (Bay lặng im - Trang Thanh).

Trong thơ hôm nay chúng ta còn gặp những lời tự bạch của người chơi như một cách khẳng định cá tính. Người chơi ở đây được hiểu là người có lối sống tự do, phóng khoáng, thích rong chơi không vướng bận với đời. Người chơi không phải là xa lạ đối với thơ Việt Nam. Thời trung đại, trong khuôn phép ngặt nghèo của Khổng giáo vẫn đã xuất hiện những nhà nho tài tử với triết lí hành lạc mà Nguyễn Công Trứ, Phạm Thái, Tản Đà là những tên tuổi tiêu biểu. Trong Thơ mới có những chàng thi sĩ mộng mơ: Tôi chỉ là một khách tình si/ Ham vẻ đẹp của muôn hình muôn thể (Cây đàn muôn điệu - Thế Lữ). Người chơi vắng bóng trong thơ cách mạng vì nó lạc lõng trong điều kiện chiến tranh. Sau 1975, khi cuộc sống trở về bình thường, người chơi trở lại trong thơ. Nếu như trong thơ 1975 - 2000, chơi có thể là một thái độ phản ứng lại những phi lí của cuộc đời: Rong hồn vào cõi chơi vơi/ Quên mình khổ hạnh, quên đời nhiễu nhương (Rượu tha hương - Lương Định), hoặc là một cách khẳng định cá tính đối lập với cuộc sống khuôn mẫu, buồn tẻ thì trong thơ đầu thế kỉ XXI, hình tượng con người chơi mang một vẻ đẹp mới. Con người chơi hiện nay không ở tư thế đối lập với hoàn cảnh, môi trường sống mà ở tư thế vượt lên hoàn cảnh, đạt đến độ ung dung, tự tại: Có lẽ không gì vui sướng/ Bằng đi cho hết chiều thanh/ Có lẽ không gì tự tại/ Bằng nay ta sống riêng mình (Tự tại - Phạm Văn Đoan). Chơi đối với họ vừa để khẳng định cá tính riêng không giống ai, vừa để khám phá những vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống: Ta/ kẻ ăn sương đường phố/ Vẻ đẹp đêm/ Trăng chếnh choáng lên men/ Nhịp điệu màu nguyên thủy mê man/ Hồn hát cùng thân xác/ Muốn rủ cả bóng ma cậy nắp ván rong chơi/ Gõ phách bầu trời/ Tình tang cây cỏ bị bỏ rơi (Dạ ca - Trương Thị Kim Dung).

Không chỉ đi tìm mình trong quan hệ với thế giới, con người còn đào sâu vào cái tôi bản thể để phát hiện ra những mặt khác nhau của cái tôi. Với Cát Du, khát vọng đi tìm cái tôi bản thể lại khởi đi từ những câu hỏi mang tính bản thể luận của nhân loại như nhà thơ tự bạch: Ta từ đâu tới?/ Tới để làm gì?/ Ta sẽ về đâu?(Nàng). Cái tôi bản thể trong thơ Nguyễn Quang Thiều lại được khai thác ở một dạng khác. Trong Cây ánh sáng, nhà thơ băn khoăn truy tìm bản thể mình: Chàng là ai? Chàng sinh ra trên thế gian này với sứ mệnh gì? Trong hành trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đầy tính hiện sinh ấy, Nguyễn Quang Thiều hình dung thi sĩ như một hỗn thân với bao đối cực kiểu cái tôi đa ngã: con côn trùng, con lạc đà, con đại bàng, con sói, con đỉa khổng lồ, ngôi sao cô độc. Rồi cuối cùng, theo lối quy nạp, các mảnh ẩn dụ ấy được quy tập về trong cặp đối cực gốc là phần sáng và phần tối: Mi là ta bóng tối và ta là mi ánh sáng. Cả hai phần sáng tối ấy hợp lại làm nên cái tôi bản thể của thi sĩ với những đối lập: Một kẻ là chàng ánh sáng và một kẻ là chàng bóng tối/ Một kẻ ngập tràn ánh sáng và miệng chứa đầy ngôn ngữ minh tuệ/ Một kẻ ngồi trên chiếc ghế hành hình ngập bóng tối tự trừng phạt mình, chỉ trái tim không ngơi nghỉ dội vang. Xét cho cùng, có lẽ không chỉ riêng thi sĩ mới có cái tôi đa ngã, mà trong mỗi con người chúng ta đều có một cái tôi khác bị ẩn giấu, cho nên đôi khi không hiểu rõ chính mình.

Đi tìm cái tôi bản thể là một bước tiến của ý thức cá nhân, ở đó con người đã khám phá mình đến tận cùng và đưa thơ đến một chiều kích khác của tính nhân bản. Đi sâu vào thế giới nội tâm của con người, tất yếu đến một lúc nào đó thơ sẽ chạm đến thế giới tâm linh. Sang đầu thế kỉ XXI, đời sống tâm linh xuất hiện đậm đặc trong các tác phẩm của Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Mai Văn Phấn…

Thơ Mai Văn Phấn ngập tràn yếu tố tâm linh. Đó là một thế giới đầy bí ẩn được tạo nên chủ yếu bởi những linh giác, trực giác với cảm quan tôn giáo đậm nét. Đọc thơ Mai Văn Phấn, đôi khi ta bắt gặp một không khí đậm chất liêu trai. Nhà thơ đã mang đến cho người đọc trạng thái rùng rợn khi kể về một ông khách xuất hiện trong ngôi nhà của mình, trò chuyện với mình thực chất là một bóng ma: Pha xong ấm trà/ Quay ra/ Ông khách không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông ấy mất đã bảy năm. Chủ nhà tưởng mình nhầm lẫn, nhưng không phải, sau khi anh ta ra ngoài và về lại nhà thì: Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi/ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc lại cúi gập (Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ). Nhà thơ có một niềm tin mãnh liệt vào sự tồn tại của thế giới linh hồn - một thế giới tồn tại vô hình, song hành cùng thế giới người sống và người sống có thể giao cảm với linh hồn bằng linh giác: Theo ngọn gió mở cánh đồng buổi sớm, ùa vào những căn phòng lẫn bụi và ánh sáng, lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ/ Và như thế, cội nguồn trong gang tấc, lúc quay về là đi hết đời mình, hay chờ luân hồi trở lại kiếp sau/ Những linh hồn kia chưa kịp đầu thai, đang ngưng lại nơi không gian thờ phụng, bay lửng lơ rồi nấp vào bái vật giáo bất động… (Bức ảnh, trái cây và giấc mơ). Cảm quan Phật giáo cũng thể hiện rõ trong Những ngôi chùa trong đêm của Nguyễn Việt Chiến. Triết lí nhà Phật hòa quyện cùng những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc - sự nhẫn nại, bao dung và lạc quan: Tiếng hát đều đều và chậm rãi của người/ Như nước chảy trong đá/ Như trăng soi trong đá/ Như máu thức trong đá/ Tiếng hát mệt mỏi và tha thiết của người/ Đưa bàn tay lại gần một bàn tay/ Đưa ánh mắt lại gần một ánh mắt/ Đưa con người lại gần một con người. Giọng thơ trầm đều, da diết, lắng sâu triết lí. Đây không chỉ là thơ mà còn như một khúc kinh cầu.

Để thể hiện sự mơ hồ, huyễn hoặc của thế giới tâm linh, các tác giả thường xây dựng không gian giấc mơ. Mai Văn Phấn thể hiện niềm tin đặc biệt vào sự ban phát của giấc mơ như một vị cứu tinh: Như bao muông thú/ Tôi lớn bằng giấc mơ/ Của ánh bình minh/ Của cơn mưa/ Bầy sao sa/ Trái đất/…/ Bình minh vắt ngang ngực/ lúc tôi bắt đầu hành thiền (Tĩnh lặng). Không gian giấc mơ được nhà thơ phát huy một cách cao độ trong tưởng tượng, giả định. Đó là những câu chuyện phi logic, hoang tưởng từ Chỉ là giấc mơ, Kể lại giấc mơ đến Giấc mơ vô tận. Dương Kiều Minh thì xây dựng không gian chập chờn giữa thực và ảo, ở đó những hình ảnh, mảng màu được gọi về từ cõi tâm linh. Trong không gian giấc mơ huyền ảo ấy “anh” thấy mình nhảy nhót như con thú hoang: Trong giấc mơ có anh/ Bên em không hề biết/ Anh xoài mình khắp những tán cây/ Con dốc ven hồ/ Vạt hoa trinh nữ/ Con thú hoang nhảy nhót trong mơ (Em đừng thức giấc). Trong thơ Dương Kiều Minh ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, giữa mơ và thực rất mong manh, là sự hòa trộn hiện thực và kí ức. Kết cấu đồng hiện, liên tưởng đa tuyến là kết cấu chủ đạo. Trí tưởng tượng và những giấc mơ cũng tràn ngập trong thơ Nguyễn Quang Thiều (Trong giấc ngủ muộn, Nhịp điệu châu thổ mới, Âm nhạc...), trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên (Giấc mơ, Giữa khuya có một giấc mơ, Ngủ mơ)…

Miền tâm linh, vô thức trong thơ hiện nay là sự tiếp nối mạch thơ mở ra từ sau Đổi mới nhưng thể hiện một cách sâu sắc hơn. Có thể nói, khi đi vào thế giới tâm linh thơ càng có giá trị nhân bản.

Trên đây là những “nét lớn”, cơ bản nhất của diện mạo thơ Việt đầu thế kỉ XXI. Bên cạnh những nét lớn, việc đi sâu tìm hiểu những “nét nhỏ” nhằm cụ thể hóa, tường minh hóa diện mạo thơ Việt trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỉ XXI cũng là điều rất cần thiết vì đây là quãng thời gian đủ dài cho công việc tổng kết. Tuy nhiên đó sẽ là nội dung của nhiều bài viết khác

TS. TRẦN THỊ MINH TÂM
Theo VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều