Thứ Ba, 25 tháng 6, 2019

BÙI GIÁNG - NHÀ THƠ CỦA CÁC NHÀ THƠ

Bùi Giáng, cũng như các thi sĩ thiên tài, đều vượt quá mọi đóng khung. Tuy nhiên, nhà phê bình, vốn là một động vật thích phân loại, nên, một mặt để thỏa mãn mình, mặt khác để hiểu thi nhân, ít nhất là trên đại thể, thì có thể tiếp cận ông từ cạnh khía kiểu nhà thơ.
Nhà thơ Bùi Giáng

Bùi Giáng, tôi nghĩ là một thi sĩ - triết gia, một nhà thơ đồng thời là một nhà triết học. Thi sĩ - triết gia, khác với triết gia - thi sĩ, tồn tại trước hết với tư cách nhà thơ, sau đó mới đến nhà triết học. Kiểu nhà thơ này không phải đến Bùi Giáng mới có, mà từng tồn tại trong văn đàn thế giới như Goethe, Hoelderlin, Braudel, Tchutchev…, hay Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Tản Đà… ở Việt Nam.

Tiếp tục truyền thống thi sĩ - triết gia này, Bùi Giáng đã nâng tầm vóc của nó, ít nhất trong trường hợp Việt Nam, lên cao thêm một bước. Việt Nam vốn không phát triển lắm về triết học. Các tư tưởng triết lý, vì thế, phần lớn có nguồn gốc từ các nền văn hóa lớn bên ngoài. Việc tiếp nhận chúng thường theo nguyên tắc tương ứng chứ không phải đồng thời, như trường hợp Tản Đà đầu thế kỷ XX tiếp thu tư tưởng của các nhà triết học Ánh Sáng thế kỷ XVIII. Các thi sĩ - triết gia của Việt Nam, vì thế, xét trên cạnh khía thời đại, thường lỗi thời ít nhất một nhịp. Điều này hẳn ít nhiều ảnh hưởng đến tầm vóc và, do đó, tư thế đối thoại với thế giới.

Bùi Giáng, ngược lại, tiếp thu chủ nghĩa hiện sinh của J-P.Sartre, A.Camus, K.Jaspers… một cách trực tiếp và đồng thời, khi nó còn đang sống động và đang phát triển. Rồi từ triết học hiện sinh đi đến hiện tượng luận, sau đó hiện tượng luận hiện sinh của Heidegger. Bùi Giáng, chủ yếu, đi đến với triết học Heidegger bằng trải nghiệm riêng của mình. Từ cảm nghiệm vong thân đến với tự do, Bùi Giáng không hiểu triết học như một thầy giáo, mà sống triết học như một bậc thầy. Bởi thế, ông có đầy đủ tư cách triết gia, để phê phán Sartre trong Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, trao đổi thư từ học thuật với chính Heidegger và nhà thơ René Char. Quả thật, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có một nhà thơ Việt Nam sống cùng nhịp với các trào lưu tư tưởng lớn của thế giới đương đại.

Trước đây, trong thời tiền hiện đại/hiện đại, vẫn thấy những trường hợp thi sĩ và triết gia tuy có chỗ trùng, nhưng rốt cục, vẫn là hai con người riêng biệt. Như một sự phân thân. Còn ở Bùi Giáng thì cuộc đời, thơ ca và triết học là một, là một thứ tam diện nhất thể, đúng hơn tam vị nhất thể. Như con khỉ Mỹ Hầu Vương trở thành Tôn Ngộ Không sau khi ra khỏi lò bát quái của Thái Thượng Lão Quân, Bùi Giáng trở thành Bùi Giáng, một thi sĩ - triết gia, sau khi đã chưng cất được một hợp chất từ ba yếu tố cuộc đời - thi ca - triết học trong “nồi hầm” văn hóa thời đại có nhiệt độ cao và áp xuất lớn. Hơn nữa, ở thời hậu hiện đại, thi sỹ và/là triết gia cùng đưa ra những diễn ngôn mới, đúng hơn, diễn ngôn về diễn ngôn, không hề chịu một quy định trước nào, cũng không có tham vọng trở thành phổ quát, chỉ khát khao tỏ lộ cá tính riêng thuộc của mình. Hay, nói khác đi, cuộc đời của Bùi Giáng thi sĩ và tư tưởng gia, tuy là nhiều, nhưng đều dẫn đến một đích nhắm là tìm gặp cái Uyên Nguyên, cái Bản Nguyên trong thế giới vạn vật. Heidegger thường tụng ca thi gia và tư tưởng gia, những kẻ canh giữ ngàn đời cho ngôi nhà của tồn tại như/là/qua/bằng/bởi ngôn ngữ. Thế nên, Bùi Giáng, xuất nhập cả trong thân phận thi gia lẫn tư tưởng gia, chẳng qua cũng chỉ là những cách thế tuy khác nhau, nhưng đều dẫn trở về ngôi nhà của tồn tại.

Hợp chất của cái “nồi hầm” siêu tổng cộng các yếu tố văn hóa thời đại đó chính là cái mà Bùi Giáng gọi là tư tưởng hiện đại. Tư tưởng hiện đại, theo Bùi Giáng, trước hết là tư tưởng đương đại, mà trong thời đại của ông là hiện tượng học hiện sinh và, sau đó, là toàn bộ những điểm khả thủ của tư tưởng nhân loại không phân biệt đông tây kim cổ được nhìn từ tư tưởng đương đại. Bùi Giáng gọi động thái này là “trùng phục thu hồi”, một kiểu tiếp thu sáng tạo như ngày nay thường nói. Tư tưởng hiện đại, bởi thế, luôn là sự giao thoa giữa cái đương đại và cái đã qua, đưa cái đã qua trở thành đương đại. Nội dung của tư tưởng hiện đại của mỗi thời có thể mỗi khác, tùy theo sự thông diễn của người đương thời, nhưng cái gọi là tư tưởng hiện đại thì như một hằng số thời nào cũng có. Đó chính là sự “thiết lập Vĩnh Thể trên dòng Tồn Lưu” của Bùi Giáng.

Tư tưởng hiện đại của thời đại Bùi Giáng chính là hiện tượng học thông diễn mà thi nhân gọi là giải minh hay minh giải học. Sống, làm nghệ thuật cũng như làm học thuật, trước hết là phải thông (thông diễn, thông giao, tương thông, liên thông) đã, tức thâm nhập vào đối tượng, trở thành đối tượng, biến đối tượng thành một chủ thể, sau đó phải diễn (diễn giải, diễn dịch, diễn giảng, quảng diễn), tức trình bày cái thông của mình cho người khác. Thông diễn, như vậy, là một quá trình tham dự của một chủ thể vào một đối tượng để biến đối tượng đó thành một chủ thể mới, không chỉ với người khác mà cả với chính chủ thể trước. Thông diễn học, vì thế, là một khoa học chủ quan, hay nói khác vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó có khả năng biến một sự kiện (khách quan) thành một chân lý (chủ quan), bởi như Kierkegaard nói: chân lý là chủ quan. Với tư cách là trí tuệ cảm xúc, thông diễn học là phương thức nhận thức chủ yếu, phù hợp với cái nhìn thực tại mới của con người trong xã hội hậu công nghiệp, tin học và công nghệ cao.

Thơ Bùi Giáng thể hiện một cái nhìn thông diễn học rất rõ. Sự vật và con người trong thơ ông không bao giờ là tự thân, tự đầy đủ, mà luôn trong trạng thái đương - là, không hoàn kết, luôn ở thế tương giao, đối thoại với người đọc. Điều này đã được đề cập đến ở phần trước, khi nói về trò chơi ngôn ngữ, và còn đặc biệt rõ hơn trong các công trình nghiên cứu của Bùi Giáng, như Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, Con Đường Ngã Ba, Thi Ca Tư Tưởng, Đường Đi Trong Rừng… đầy những trích dẫn, vận dụng rất nhiều tri thức đông tây kim cổ từ các triết gia Hy Lạp cổ đại đến Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Đức Phật, các nhà văn, các nhân vật tiểu thuyết, thậm chí đến người thật như Kim Cương, Monroe, Phùng Khánh… Điều này cũng thể hiện rất rõ trong các tác phẩm biên dịch như Lời Cố Quận, Lễ Hội Tháng Ba của Heidegger, Mùi Hương Xuân Sắc dịch Heidegger, Nerval và Camus… Bùi Giáng sử dụng lối dịch - thông diễn. Kể cả khi dịch một tác phẩm văn chương, ông cũng dịch với một tinh thần đồng điệu, chứ không dịch câu chữ. Nhờ sự trái thói này, mà chúng ta có được những tuyệt phẩm dịch thuật như Hoàng Tử Bé và Cõi Người Ta. Tuy vậy, cách làm phá cách, không chịu tuân theo lề lối, đúng hơn là theo một thứ lề - lối - phi - lề - lối của tương lai, đã làm nhiều người không chịu nổi, nhất là những nhà nghiên cứu trường trại, hoặc những người có đầu óc chuồng trại.

Một trong những cách sống thể hiện sự nhất quán của thi cách và nhân cách Bùi Giáng đó là bệnh điên của thi nhân. Đành rằng xưa nay thiên tài và điên là chị em ruột. Nhưng cái điên của Van Gogh, của Dostoievski thì ai cũng nhận ra đó là bệnh. Chỉ có trường hợp Bùi Giáng thì mới có chuyện một điên mười ngờ. Bởi thế, tôi tạm gọi đó là điên - Bùi - Giáng. Người ta đã, và hẳn còn sẽ, tốn nhiều giấy mực để bàn về chuyện Bùi Giáng có điên thật hay không. Tạm gác sang bên vấn đề bất khả giải này, hay có giải được cũng có thể chẳng chứng tỏ dược nhiều điều, thì có thể thấy, Bùi Giáng trước hết là người ngộ chữ, thậm chí còn ngộ chữ có nòi. Khác với những kẻ mọt sách thường là nô lệ cho chữ có sẵn, người ngộ chữ tuy cũng đam mê chữ thái quá, nhưng lại thích đùa nghịch chữ, làm mới chữ. Sự thái quá là không bình thường, bị coi như một thứ bệnh, bệnh điên. Mà sáng tạo, nhất là sáng tạo văn chương nghệ thuật, thì bao giờ cũng thái quá, cũng không bình thường, cũng điên rồ. Điên - Bùi - Giáng, bởi thế, có thể xếp vào loại điên - nghệ - sĩ, một thứ điên mà không điên, không điên mà điên.

Bùi Giáng, trước hết, rất ý thức về cái điên của mình. Đây là một điều mà ở người điên thuần bệnh lý không bao giờ có. Kể cả với người lúc tỉnh lúc điên, vì khi ở trạng thái này thì anh ta lại quên hẳn trạng thái kia. Người điên, vì thế, không biết là mình điên, tức hoàn toàn bị vô thức điều khiển, và sẽ khăng khăng phủ nhận nếu có ai đó bảo mình điên. Bùi Giáng, ngược lại, làm rất nhiều thơ về sự điên của mình, như “Người Điên Uống Rượu”, “Ông Điên”, “Thơ Điên”, “Quá Khứ Của Anh”… Thậm chí Bùi Giáng còn sáng tạo ra cả thứ ngôn ngữ của người điên, mà, theo ông, ngôn ngữ què quặt của người tỉnh khó mà hiểu được nó, nhất là ngôn ngữ của người điên có nghề nghiệp:

Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Giở chừng như mộng giở chừng như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên

                     (“Người Điên”)

Không những xác định cái điên của mình, mà Bùi Giáng còn dấn thân quyết liệt vào nghề nghiệp điên. Bởi lẽ, thi nhân tìm thấy ở điên niềm hạnh phúc. “Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời”. Hạnh phúc là khi mình đồng nhất với mình. Điên là trạng thái trùng khít hoàn toàn giữa con người và bản thân hắn ta. Một sự trùng khít ở cấp độ bản năng, thực vật. Điên Bùi Giáng thì không hẳn là vậy. Ông vẫn nhận ra sự nghiêng lệch giữa mình và thế giới, và vì thế mà muốn co vào cái điên của mình như một vỏ bọc, để mình được là mình. Điên của Bùi Giáng, bởi vậy, chính là một thái độ sống, một cách tồn tại ở đời.

Như vậy, Bùi Giáng, ý thức hoặc vô thức, đón gặp sự điên của mình, để, một mặt vượt thoát khỏi mọi can thiệp của cái xã hội, vốn quyền uy và thực dụng, vào lối sống riêng của mình; mặt khác, bằng hành động điên rồ gửi sự minh triết đến cho mọi người, nhất là những con người bình thường. Hình ảnh Bùi Giáng ăn mặc lôi thôi lếch thếch, cổ đeo đầy ống bơ, giày dép, đứng ở ngã tư đường phố Sài Gòn, chỉ lối cho con người và xe cộ qua lại, gợi nhớ đến các nhà tiên tri cổ đại. Hoặc Bùi Giáng “nuôi” rất nhiều lợn đất, gà nhựa ở nhà và đi đâu ông cũng nhớ về cho chúng ăn. Và mỗi khi cho rằng loại gà lợn này đi chơi đâu xa, Bùi Giáng thường rải gạo dọc đường để cho chúng nhớ lối mà về nhà. Những cảnh tượng ấy, quả thực, cũng giống như một cuộc trưng bày nghệ thuật trình diễn hoặc sắp đặt giàu ý tưởng. Hay, đúng hơn, Bùi Giáng đang làm thơ. Một bài thơ bằng các vật liệu phi ngôn từ của loại thơ cụ thể.

Người điên cũng như người chứng ngộ đều cùng chung một cõi vô trí. Nhưng người điên thì ở bề dưới của trạng thái đó, còn kẻ chứng ngộ thì ở vùng trên. Di chuyển giữa hai đường biên đó, Bùi Giáng không bao giờ điên thật và cũng không bao giờ chứng ngộ, cảnh giới của thực tướng là vô tướng, chân ngã là vô ngã. Ông vẫn còn đặt một chân ở cuộc đời, vẫn đau khổ vì cuộc đời: “Anh đã định suốt thiên thu vạn kỷ/ Làm thằng điên rồ dại suốt thiên thâu/ Nhưng em ạ, dường như anh vô lý/ Lúc đoạn trường anh đứt ruột khổ đau”. Vì còn đau khổ nên ông vẫn cần ngôn ngữ, vẫn tin vào lời, dù lời của ông đã gần với không - lời, tư duy của ông đã gần với không - tư duy. Có lẽ, nhờ thế mà chúng ta có được một Bùi - Giáng - Tuyệt - Tự - Thi, một thứ thơ tuyệt vời ngôn ngữ (tự) và một nhà thơ không thể có người thứ hai nói dõi. Ông như một Bồ Tát không bước hẳn vào cõi vô ngôn, vô trí mà vẫn ở lại với Lời để cứu Lời.

Cuối cùng, như để lại một mật ngữ, trong Lời tựa cho cuốn Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, Bùi Giáng viết về F.Nietzsche như là để nối cái điên của mình vào cái “đại điên” của những vĩ nhân trong lịch sử: “Cái dịu dàng như hươu non đành chực bóp chết lòng mình để rống to như thú dữ. Nhưng lập tức lời nguyền rủa bốn phía vang lên. Và Nietzsche đã điên. Trước Nietzsche mấy chục năm, Hoederlin cũng đã điên. Cùng với bao kẻ khác đã điên. Để ngày nay… Để ngày nay chúng ta tụ hội về đây xôn xao nêu câu hỏi: Cớ sao mà điên? Nêu một cái rất ngây thơ tròn trĩnh.”

Như vậy, với việc đưa ngôn ngữ trở về với sự vật, rồi lại coi sự vật, trật tự sự vật, tức cuộc đời, tức thực tại chỉ là các trò chơi ngôn ngữ, tức thống nhất vào ngôn ngữ cả sự biểu đạt thực tại lẫn thực tại được biểu đạt, Bùi Giáng đã vượt qua chủ nghĩa hiện đại, mở một cánh cửa vào hậu hiện đại, để hôm nay, càng lúc càng đông nhà thơ trẻ, với những kích thước tài năng và tầm vóc tư tưởng khác nhau, chen chân qua khung cửa hẹp ấy. Nếu trước đây, Nguyễn Du mở ra thời kỳ trung đại cổ điển trong văn học Việt Nam, nâng nó lên ngang tầm khu vực Đông Á, còn Tản Đà vào những thập niên đầu thế kỷ XX đã mở đầu cho thời hiện đại, đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo thế giới, tuy có sự lệch thời gian, thì Bùi Giáng ở những mười năm cuối của cùng thế kỷ ấy đã đi đầu trong việc mở ra một thời đại mới cho văn học Việt Nam, văn học hậu hiện đại. Có điều lần này, ít nhất với trường hợp Bùi Giáng, sự phát triển của văn học Việt Nam so với thế giới không còn là sự phát triển tương ứng nữa mà là đồng thời, tức nhịp bước cùng thế giới. Và quan trọng là sau ông đã rậm rịch những chân bước khác. Bởi thế, theo cái cách mà Heidegger gọi Hoederlin, tôi cũng muốn vinh danh Bùi Giáng, cũng như Nguyễn Du và Tản Đà trước đây, những thi nhân làm thay đổi hệ hình tư duy nghệ thuật thời đại, không phải là “nhà thơ giữa các nhà thơ, mà là nhà thơ của các nhà thơ”.

Hà Nội, tháng 11-2011
ĐỖ LAI THÚY
Nguồn: Tia Sáng

Câu chuyện văn hoá khác:



Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

THƠ VŨ TRỌNG QUANG: NGÔN NGỮ THỜI SỐ HÓA

Nếu chỉ nhìn vào ngôn ngữ ký hiệu hóa thì có thể nói rằng VTQ đang thể nghiệm một cái gì đó, nhưng theo tôi, không có một sự thể nghiệm nào cả, chỉ là một nhà thơ với hệ thông của riêng mình và… làm thơ cho người đọc, khi thì “đọc”, lúc cần giải mã…
Nhà thơ Vũ Trọng Quang

Cũng không hiểu vì sao tôi lại chọn nhan đề cho bài viết này như trên, biết đâu chừng khi lạc vào thế giới thơ này của Vũ Trọng Quang (VTQ) tôi cũng trở nên điên đột xuất, điên có kỳ hạn rồi chăng? Chỉ biết nhãn tiền là chưa một lần nào tôi mất đến cả năm với gần chục lần để đọc một tập thơ - kể cả thơ Bùi Giáng - với một não trạng lúc vầy lúc khác, để có thể giải mã được dăm điều gì đó trong cuốn thơ này. Và giải mã ở đây khá vất vả vì lẽ giữa tác giả và người đọc là tôi có một khoảng cách khá xa. Và đó vừa là khoảng cách vừa là sự liên tục chẳng khác chi cuộc sống, giòng thời gian ngày - đêm chẳng là vừa đứt quãng vừa liên tục hay sao. Hôm qua - hôm nay & hôm sau chính là như vậy thôi, phải cách nhau ra để mà liên tục; muốn liên tục phải cách nhau ra. Còn não trạng khi đọc thơ VTQ cần là “điên… rất đều”- chữ của một nhà văn nữ được chỉnh sửa cho phù hợp khi bước vào thế giới thơ ngổn ngang của VTQ.

Giấc mơ hoa là cách nói cổ điển của một tình yêu, thường thì nó êm đềm, mơ màng nhưng đó là mơ hoa của hôm qua, còn hôm nay và ở đây giấc mơ bị quậy tưng lên bằng ngôn ngữ cần giải mã, kể cả cách thể hiện những chữ ấy trên giấy cũng trở thành một ký hiệu như bao nhiêu ký hiệu tràn ngập trong nửa sau của tập thơ (Hôm qua - hôm nay & hôm sau - thơ VTQ, NXB Đà Nẵng 2006) mà theo cách nghĩ của tôi, nó là thơ như bao nhiêu thơ khác nhưng được mã hóa, số hóa với cả @, khoảng cách và những ký hiệu… Anh hoa của trung niên thi sĩ có được mời về cũng đành chỉ nghe mà chào thua vì cái thời của tiên sinh, thơ chưa có một lối đi mới nào kiểu như ở chốn này. Trở về với bài Giấc mơ hoa (tr 127) mà tôi rất thích sự nhảy múa của ngôn ngữ, sẽ gặp:

 “qua gặp lại hoa trên thảo nguyên cỏ mượt mọc tới chân
trời
nghiêng mình bẻ cong bẻ dòng vắt dòng vắt giò
lên cổ…

nghe lục cục lòn hòn như thế và đấy chỉ là một khoảng cách cho sự đáo để “điên… rất đều”:

tay qua mân mê tham tới rốn
tay hoa tay đẩy tay đây
đừng anh đừng anh đừng anh đừng anh anh”

chỉ tham tới rốn là “điên…rất đều” và không làm tan giấc mơ hoa vì tình yêu trong ngần chỉ bị đứt một khỏang cách nhỏ giữa  “thiện và ác”.

Tôi còn nhận ra, khi trích thơ VTQ, cũng cần chú ý đến cách trình bày bởi đó là một phần thơ ông. Tại các trang 131,132,133 có các bài Eros, Ký hiệu liên tưởng đọc rất khoái mà tôi đoán là nó rất thơ, rất đa tình, khóai nhưng trích dẫn ra đây thì vì không biết nhiều vi tính đành… mù tịt. Bài thơ là những mũi tên sắp thành hình tháp, cái đáy khá rộng, rồi đảo thành tháp ngược thu hẹp lại chỉ còn một mũi cắm phập vào trái tim ai đó- một người bị trọng thương,là tác giả hay một người khác phái nào thì vẫn không khác, ở điểm là có một bi kịch mang tính thân phận con người trong tình yêu.Nhiều người làm thơ diễn tả bằng hệ thống ngôn ngữ, ở đây thì bằng những mũi tên xếp thành hình tháp lúc xuôi, lúc bị lật ngược gây cảm giác đau đớn mà những ai một lần yêu có thể trải nghiệm với bài thơ đầy ẩn dụ này. Và đấy chính là ngôn ngữ trong hệ thống VTQ…

Thường thì tôi không có thói quen “bình” thơ người khác vì hình như đó ít nhiều đều có chút không khiêm tốn và nhất là “bút phán quan” rất chán, cho nên chỉ đọc và ngấm ngầm giải mã (không phải bao giờ cũng thành công) cấu trúc ngôn ngữ, hình ảnh, ý tưởng và cảm xúc, bao nhiêu là thứ thụ hưởng cho hết thật khó lòng. Cũng không cần gì phải nói VTQ thể nghiệm một cái gì trong thơ, nhà thơ chỉ nói bằng hệ thống của riêng anh, không trình làng một “mô hình” nào cả, nó giống như mỗi người có một dấu vân tay của riêng người đó. Một hoang phế nửa chừng theo thời gian, trong khi những người khác tìm cách phục chế phần vật chất của Mỹ Sơn (tr.94) thì VTQ kết nối được cái xưa và nay:

“Con chim gì đó ơi
thả rơi tiếng hót lạ
có phải gọi bầy nhau từ kiếp trước
Kiếp trước lịch sử lớp lớp sóng
thành quách phủ rêu ngòai vùng phủ sóng
dưới phố em phủ váy thời trang gần tới Yoni gây sóng
Nào có thể phục chế những linh hồn
đang mở mắt

Thật kinh hãi khi đọc hai câu cuối nếu có quan tâm một chút đến lịch sử, quá khứ được thông quan qua cửa hệ thống của nhà thơ, không phải sự hoài cổ bình thường bởi quá khứ còn “đang mở mắt” giả như ngủ ra đó. Ở một nơi khác, Phản đề:

chiều phố rượu
con mèo con chó con chuột

là những cặp đối nghịch nhau nhưng thiếu chúng liệu còn sự bình thường đến yên ổn của cuộc sống? Và, ai dám bảo chim rừng tự do hơn chúng? Hoang dã là phản đề của chính nó.

tự do hơn chim rừng
hoang mai hướng dương vạn thọ
tự do hơn hoa rừng

Nếu chỉ nhìn vào ngôn ngữ ký hiệu hóa thì có thể nói rằng VTQ đang thể nghiệm một cái gì đó, nhưng theo tôi, không có một sự thể nghiệm nào cả, chỉ là một nhà thơ với hệ thông của riêng mình và… làm thơ cho người đọc, khi thì “đọc”, lúc cần giải mã. Thế thôi! Thói quen “vạch một chân trời” không cần trong một thời đại có rất nhiều chân trời như hiện nay.

CAO THOẠI CHÂU
Nguồn: Trích trong tạp bút Vớt lá trên sông,
NXB Hội Nhà văn 2010


Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

CẢM HỨNG THIỀN PHẬT TRONG THƠ QUÁCH TẤN

Quách Tấn là một phật tử trọn vẹn, đã thu tóm tất cả những bài thơ mộng của Phật giáo vào trong cuộc đời trầm lặng của mình. Quách Tấn đã đi ngược lại tất cả phong trào thời thượng…

Tóm tắt: Quách Tấn là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới, chuyên sáng tác theo thể thơ Đường luật nhưng lại thể hiện một bút pháp nghệ thuật mới, diễn đạt những cảm xúc mới. Nếu trong thơ ông trước 1945 không viết về Thiền về Phật thì sau năm 1954, cảm hứng này lại thể hiện đậm nét trong thơ của ông. Bài viết bước đầu sẽ tìm hiểu cảm hứng Thiền Phật trong thơ Quách Tấn.
Nhà thơ Quách Tấn

Quách Tấn (1910 - 1992), tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên, còn có bút hiệu Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão Giữ Vườn. Ông là nhà thơ thời tiền chiến, cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan lập nhóm bàn Thành tứ hữu (Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn) ở Bình Định.

Ông sinh ra tại thôn Trường Định, huyện Bình Khê (nay là xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định, từ năm 1935 đến cuối đời ông chọn Nha Trang làm quê hương thứ hai. Quách Tấn Tấn tập làm thơ từ lúc học lớp đệ nhất niên trường Quy nhơn.

Lúc ra trường ông đã thông thạo các thể thơ, nhưng chính thức bước vào làng văn thơ từ năm 1932. Năm 1933, ông đã có thơ đăng trên An Nam tạp chí, Phụ Nữ tân văn, Tiếng dân và Tiểu thuyết thứ bảy… Ông từng được nhà thơ Tản Đà khen khi bình bài Đến thăm vườn cũ cảm tác của ông.

Tản Đà viết: nói về bên tình thì rất lâm ly mà nói về bên tài cũng đến thế là hay. Ông là nhà thơ một đời thuỷ chung với thơ cách luật như lại được các nhà thơ mới thời tiến chiến mở cửa đón nhận, được xếp vào ngồi chiếu trên của thi đàn bấy giờ.

Nếu trong thơ của Quách Tấn xuất bản trước năm 1945 như tập Một tấm lòng (1939), Mùa cổ điển (1941) thì nhà thơ lại không viết về Thiền, về Phật mà cảm hứng Thiền Phật được nhà thơ thể hiện nhiều nhất trong những tập thơ sau này như: Đọng bóng chiều (1965), Mộng Ngân Sơn (1966), Giọt trăng (1973).

Cùng thời với Quách Tấn có nhà thơ J.Leiba (Lê Văn Bái) với bài Bến giác mang cảm hứng Thiền - Phật và ít nhiều có pha chất Lão - Trang. nhà thơ xem cuộc đời là hư ảo, là “phù thế”, nên nhà thơ hơi bi quan, muốn xa lánh cõi đời. Tác giả đã dùng nhiều từ ngữ nhà Phật để diễn đạt ý tưởng trên:

Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am Không.
Cửa Thiền một đóng duyên trần dứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.

Riêng Quách Tấn, nói như nhà nghiên cứu Trần Phong Giao thì “thơ Quách Tấn càng về sau đã “thấy”, đã “nhập” vào Thiền, đã “cảm dưỡng hào khí của Thiền tông Việt Nam” [Quách Giao (sưu tầm) (1994), Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học, Nxb Trẻ, TP. HCM, tr.287-296].

1. Nhìn thiên nhiên qua cảm quan Thiền đạo

Quách Tấn là một phật tử thuần thành, ông thường nghiền ngẫm, nghiên cứu kinh Phật, nên thơ của ông ít nhiều cũng mang cảm quan triết lý nhà Phật và mang cả cảm hứng đạo học. Điều này được thể hiện qua những vần thơ viết về thiên nhiên của ông. Thiên nhiên được nhìn qua cảm quan Thiền đạo.

Trong mối quan hệ qua lại giữa thi nhân và thiên nhiên, tính tương hỗ từ thể xác qua trí tuệ đến tâm linh đã phơi bày một cách tích cực và không mâu thuẫn. Quách Tấn không chỉ nhìn ngắm thiên nhiên với con mắt thẩm mỹ mà còn với cả con mắt triết lý và tâm linh. Ta có cảm tưởng Quách Tấn đã hòa quyện cùng thiên nhiên, khăng khít trong mối quan hệ giữa tiểu ngã và đại ngã để làm thành khối đồng nhất, mà thiên nhiên là tiền đề, là điều kiện để khởi động từng phút, từng giây, từng sát na cảm xúc của thi sĩ, hỗ trợ thi sĩ ý thức được sự có mặt của ngũ quan (ngũ căn) và những tính năng của nó, mà thuật ngữ của nhà Phật gọi là “nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, ý thức”. Thiên nhiên xung quanh ta là hiện thân của đất, nước, không khí, năng lượng mặt trời, của sự vận hành tháng năm, với thời gian vô tận. Sự hòa nhập của nó cũng là hòa nhập vào suối nguồn của sự sống.

Cụ thể hơn, với một vỏ sò khô, Quách Tấn cũng gởi vào nó hơi thở, hồn thơm của một sức sống thơ dạt dào. nhìn vỏ sò khô, một thực thể chết, Quách Tấn lại nghe tiếng reo vang vọng của biển khơi. có sự sống, cái chết nào lại chẳng liên quan đến môi trường sống với thế giới đồng hiện hữu? Hiện thể của vỏ sò hoặc con sò đâu thể thiếu vắng biển khơi. Tiểu ngã và đại ngã tương duyên với nhau:

Vỏ sò khô ấp ủ,
Niềm băng tuyết đêm sương.
Muôn xa bờ bến cũ,
Vang vọng sóng trùng dương.
(Ấp ủ)

Và mỗi khi tiểu ngã và đại ngã tương quan, tương duyên với nhau thì mỗi động tác đều gây sự chuyển động dây chuyền. một cái búng chân nhảy của con cào cào màu xanh cũng đủ khiến bầu trời buổi chiều thu rung chuyển:

Nước ngoạn trời long lanh,
Con cào cào áo xanh.
Bờ cao búng chân nhảy,
Mây chiều thu rung rinh.
(Búng chân)

Đây là nhận thức triết lý, đúng hơn là đạo lý của Quách Tấn. Nó bắt nguồn từ sự thấm nhuần đạo Phật. Trong thế giới tương quan tương duyên và cả tương tác nữa, thì đâu đâu cũng mang tính động thái và tính tiến trình. Tất cả đều tác động qua lại, đều vận chuyển, nghĩa là không diễn ra theo một chiều mang tính định mệnh, mang tính “Sáng thế”. Tính tương quan, tương duyên quyết định cho sự sinh diệt cũng như hình ảnh, màu sắc của thiên nhiên cũng quyết định tính vô biên, vô thường và vô ngã của nó. Thơ văn của Quách Tấn đã giúp người viết những dòng chữ này hiểu sâu thêm nhận thức ấy. Trong hoàn cảnh cuộc sống có sự đổi thay ào ạt từng phút từng giờ, hiếm có người nào ung dung, thong dong như Quách Tấn, bởi nhà thơ luôn giữ lòng tự tại trước thực tế thay đổi theo thời gian. có sự tĩnh tại đó là nhờ thi sĩ đã nghiệm ra, đã trực cảm được cái lẽ “Là mộng cũng là chân” để lượng hương xuân ngào ngạt mãi trong lòng:

Mười hai mùa lá rụng,
Đây mùa hương nở xuân.
Theo duyên lòng chẳng đổi,
Là mộng cũng là chân.
(Nở xuân)

Mộng huyễn và chân thật xét đến cùng, có chung một bản thể. nó là hai mặt của một thực tại, bởi “Tâm pháp nhất như”, “Vạn vật nhất thể”. nhà thơ đồng nhất mộng và chân  là nhờ nhận thức được chân lý ấy. chính vì nhà thơ tĩnh tâm trước thực tại, nên đã chấm dứt mọi bay nhảy, mọi tìm kiếm, đi và đến để như “Chim dừng cánh biệt ly” (mơ Đạo), để không còn hỏi “Cảnh hay lòng?” và để nhận thức được rằng “Lòng với cảnh không chia” (Quán trọ đêm thu) và:

Mây nước hằng tự tại,
Vàng đá chẳng vô tri.

Thiên nhiên trong thơ Quách Tấn mang đậm chất thanh tịnh và sung mãn nét đẹp tâm linh trong sự “Ân ánh cõi từ bi”, nhờ thế mà thi nhân dường như đã chứng nghiệm được “Hương gió thoảng liên trì” (Mơ Đạo) dù chỉ trong một sát na, một cái nháy mắt, một chút gió thoảng qua!

Tư tưởng Đạo Phật thấm nhuần trong con người Quách Tấn. Vì thế trước khi từ giã cõi đời, nhà thơ dặn dò con cháu nhớ khắc trên bia mộ:

Nghìn xưa không còn nữa,
Nghìn sau rồi cũng không.
Phảng phất bờ trăng rạng,
Hương Ưu đàm trổ bông.
(Thoáng hiện)

Tồn tại và hủy diệt, sắc và không, hữu và vô đều cùng bản thể, nhất như nghìn xưa không còn là thực tại. Quá khứ nghìn năm sau sẽ không còn; và tương lai nghìn năm sau dù chưa hiện hữu cũng chẳng tồn tại. Tất cả đều là Không. Giác ngộ và thấu hiểu được chữ Không trong tư tưởng triết học nhà Phật là cả những chuỗi thời gian chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, suy tư. Không ở đây chẳng phải là sự đối đãi, đối lập giữa “có” và “không”, “hữu” và “vô” mà là cái Không vượt lên trên. Đó là chân không diệu hữu.

Dường như Quách Tấn đã nghiệm ra được điều đó. Ông không giữ chặt cái đã qua, cũng không sống với cái chưa có thực, không để cho những gì của quá khứ và tương lai chen vào phút giây đang hít thở, thì lúc đó vầng trăng rạng cũng cho “thấy” cả hương ưu  đàm. Hoa ưu đàm là hoa Giác ngộ, theo kinh Phật, mấy nghìn năm mới nở hoa một lần. Dĩ nhiên hoa này không xuất hiện trong cuộc sống ồn ã vang dội trong loa phát thanh và rộn ràng xe cộ, cũng không xuất hiện ở nơi đâu đâu, khi con người tấp nập bay nhảy, tìm kiếm, đi và đến... người ta chỉ gặp nó khi lòng mình thật sự lặng lẽ, thanh tĩnh.

Cũng như thiền sư Vạn Hạnh đời Lý, Quách Tấn đã xem “Thân như bóng chớp có rồi không”. Ông thường nói đùa rằng đời tôi có tứ thú và tam vô. Tứ thú là: Có tiền in sách đẹp,/Gặp bạn sẵn thơ hay./Giấc tỉnh hồi chuông sớm,/Võng trưa giấc ngủ ngày. Còn tam vô là: Không biết hút thuốc, không chơi cờ bạc và không đi xe đạp.

2. Hình ảnh tiếng chuông chùa

Tiếng chuông chùa đối với thi nhân như một kỷ vật thiêng liêng từng chôn sâu trong tiềm thức của ông, nên mỗi lần trông thấy cảnh núi non chùa chiền thì nó bỗng dưng trỗi dậy:

Núi Nhạn chuông ngân trời bảng lảng,
Đầm Ô sen nở gió thơm tho.

Không những lắm lúc ngắm cảnh thiên nhiên, tiếng chuông chùa làm ông chú ý, mà mỗi khi chợt tỉnh giấc nồng, tiếng chuông cũng hiện đến:

Mây nước nhuốm phong trần,
Nơi đâu tình cố nhân.
Những đêm buồn tỉnh giấc,
Chùa cũ tiếng chuông ngân.

Nhờ nghe tiếng chuông chùa ngân vang mà khách hành hương trút hết mọi nỗi ưu phiền, như Chu Mạnh Trinh đã viết: “Lạ cho vừa bén mùi thiền,/ Mà trăm não với ngàn phiền sạch không”. Hay: “Thoảng bên tai một tiếng chày kình,/Khách tang hải giật mình trong giấc mộng” (Hương Sơn phong cảnh ca).

Không khác gì cảm nhận của họ Chu, Quách Tấn cũng mô tả trạng thái tâm hồn mình khi đến viếng một cảnh chùa quen thuộc: “Người đến viếng cảnh chùa, lòng không rửa mà trong, thân không cánh mà nhẹ, ngồi tựa bóng cây đón mát, tưởng chừng mình đã xa lánh hẳn cõi trần tục.” [Quách Tấn, Nước non Bình Định, Nam Cường xuất bản, SG, 1968; nxb Thanh niên tái bản 1999.]

Thoảng đâu đây như có tiếng gió ru hồn lữ khách:

Gió ru hồn mộng thiu thiu,
Chuông chùa rơi rụng bóng chiều đầy non.

Và thi sĩ tiếp: “Nếu không có tiếng chuông hay mộng thì mộng còn mãi chìm trong bóng mây rán, hoặc làm con cò vương hương bay lờ lững trong hồ sen yên tịnh.”

Cứ thế, thời gian trôi đi và bóng tịch dương dần dà đổ xuống với tiếng chuông chùa cổ thân yêu:

Mây tạnh non cao đọng nắng chiều,
Tiếng chuông chùa cũ vọng cô liêu.
Thêm nhiều lá rụng cây quằn quại,
Đã vắng người sang bến nhẩy triều.

Thế rồi, ngày lại ngày trong sự tất bật của cuộc sống đời thường, nhưng mỗi khi nhìn thấy cảnh chùa thì âm vang tiếng chuông lại ngân nga tựa hồ bất tận:

Chùa ẩn non mây trắng, Bóng in hồ liễu xanh.
Mai chiều chuông đã tạnh, Vòng sóng còn long lanh.
(Tiếng ngân)

Đây là hình ảnh thiên nhiên đầy tình tự, là khoảng trời xanh tinh khiết còn lại trong đôi mắt long lanh của một nhà thơ trong cảnh xế chiều của đời mình.

3. Một đạo tâm dào dạt

Có lần tôi đi theo ba tôi đến thăm nhà thơ, nghe ông tâm sự: “Gia đình tôi theo đạo Phật, và tôi chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiền trong Phật giáo”. Và trong khi đàm đạo, ông thường nhắc đến ngọn đồi Trại Thủy, nơi tọa lạc của Phật học viện nha trang, một trung tâm đào tạo Tăng tài trong giai đoạn cận hiện đại. Từ đó mới biết hồi ấy, Hòa thượng Thích Trí Thủ đàm nhiệm Giám viện Phật học viện lại là chỗ tương giao tâm đắc với thi sĩ, vì thế, một hôm lên thăm chùa, nhân ngẫu hứng thi sĩ đã cảm tác một bài ngũ ngôn, để tặng Hòa thượng:

Trăng lên đồi Trại Thủy,
Chuông khua ngời âm ba.
Bồi hồi mây khóa viện,
Sân Bồ đề sương sa.

Ngoài ra, ngôi chùa Kim Liên tại Diên Khánh cũng là nơi lưu lại dấu chân của thi nhân. một hôm đến viếng cảnh chùa, thấy Thượng tọa viện chủ tiếp đón khách tham quan niềm nỡ, ông liền làm bài thơ để lại lưu niệm:

Dặm hồng dìu dịu nắng,
Theo hứng viếng làng tu.
Ngụm nước đằm chơn vị,
Im lìm sen nở thu.

Người xưa từng nói: “Nhân giả nhạo sơn; trí giả nhạo thủy.” (người nhân ưa cảnh núi rừng; người trí ưa nơi sông nước). Phải chăng vì vậy mà các cảnh chùa tiêu biểu cho đạo từ bi nhân ái - thường được xây cất trên các đồi núi? Thậm chí có những ngôi danh lam quanh năm mây phủ xa xôi chập chờn trông có vẻ tiêu dao thoát tục:

Cây chen đá chất chập chùng,
Biển giăng dưới núi, chùa lồng trong mây.
Bụi đời không bợn mảy may,
Chút thân rộng tháng dài ngày thảnh thơi.

Phải chăng kiếp sống nhân sinh chập chờn như ảo mộng? Con người luôn luôn chơi vơi giữa dòng trường lưu bất tận, khiến đôi lúc nhà thơ chợt hứng cất tiếng gọi đò vang cả hư không:

Đời nửa khói mây chìm bóng mộng,
Gọi đò một tiếng lạnh hư không.

Ta nghe được dư âm của thiền sư Không Lộ đời Lý còn phảng phất đâu đây:

Hữu thì trực thướng cô phong đính,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
(Ngôn hoài)

(Có khi xông thẳng lên đầu núi,
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.)

[Thơ văn Lý - Trần, tập 1]

Không những chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của các thiền sư - điều mà thi sĩ đã khẳng định - ông còn thâm nhập cốt lõi của kinh Duy Ma Cật:

Ngày qua chầm chậm vách kim thinh,
Cảnh giới Duy Ma mình với mình.
Hoa rải tờ thơ hương lành lạnh,
Trăng cài nhánh mộng bóng xanh xanh.

Có lần ông thổ lộ cái ý vừa nêu: “Cây thiết mộc lan nở hoa lần này là lần thứ hai (tháng 12-1992). Lần trước nở tôi 79 tuổi (1989). Hai nhánh lan đã lên cao như hai cây sào, hoa nở trắng trên đọt, hương bay chập chờn theo gió, nghe lũ cháu reo mừng. Tôi tưởng chừng như hoa của thiên nữ từ trong vách Phương trượng của Duy Ma Cật bung ra rải xuống hạ giới vậy” [Quách Tấn (1999), Bóng ngày qua (Đời văn chương), nxb Hội nhà văn, Hn].

Điều này chứng tỏ càng về già nhà thơ càng đến gần cõi Đạo, như nhà văn Trần Phong Giao nhận xét: “Tới lúc về già, ta thấy khí vị Thiền lung linh bàng bạc trong thơ Quách Tấn, nhất là trong nhiều bài in trong hai tập Mộng Ngân Sơn và Giọt trăng”.

Một hôm vào lúc xế chiều, Quách Tấn lên chùa Hải Đức (ở Nha Trang) thăm một người bạn vong niên (tương truyền là thầy Nguyên Tánh). Mặc dù tuổi tác chênh lệch nhau, nhưng hai tâm hồn như cùng chung một giai điệu:

Áo giũ ngày sương gió, Lên chùa thăm cố nhân. Non nghiêng thềm bóng xế, Lịu địu bóng nhàn vân.

Phong cách ấy quả thực có khác với thế nhân trong những lúc thù tạc vãng lai. Người đời đến và đi trong âm thanh và tốc độ của thời đại cơ khí, ồn ào và vội vã… nhưng thời đại của nhà thơ là thời đại ẩn tình trầm lặng của một đám mây lơ lửng, lồng trong bóng núi nghiêng nghiêng. Người đời rồi cũng có lúc “Giũ áo phong sương trên gác trọ” để ngồi lại chiêm nghiệm chính mình, như thi sĩ đã làm:

Khép cửa phiền ba lại, Vườn quê nắng sưởi tình. Thanh bình lòng giếng ngọt, Chim hót ngọc âm thanh.

Để thấy rõ hơn chân dung của Quách Tấn, chúng ta có thể nghe ý kiến của Phạm Công Thiện, một người bạn tâm giao của thi sĩ đã viết trong bài “Trách nhiệm của tuổi trẻ Việt Nam với Quách Tấn”: “Quách Tấn là một phật tử trọn vẹn, đã thu tóm tất cả những bài thơ mộng của Phật giáo vào trong cuộc đời trầm lặng của mình. Quách Tấn đã đi ngược lại tất cả phong trào thời thượng… Ông xứng đáng là kẻ nối dòng của các vị thiền sư: Vạn Hạnh, Không Lộ, Ngộ Ấn, và tất cả những thiền sư thi sĩ đã nuôi dưỡng linh hồn của cả một dân tộc, linh hồn của Lý Thường Kiệt đánh Tống và Trần Hưng Đạo đánh Nguyên.” [Quách Giao (sưu tầm) (1994), Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học, NXB Trẻ, Tp.HCM.]

Phải chăng vì được nuôi dưỡng trong không khí tâm linh của các thiền sư thi sĩ quá khứ mà “Quách Tấn luôn luôn giữ phong độ của kẻ mang hào khí ngút ngàn? Mỗi hàng, mỗi câu đều thể hiện sáng sủa, uy nghiêm mà tràn ngập thi ca, khiến cho người đọc lòng không rửa mà trong, thân không cánh mà nhẹ. Tất cả con người Quách Tấn là thi ca, là tiếng báo hiệu của một sự tựu thành” như lời nhà văn Nguyễn Thái đã viết trong bài Quách Tấn: quê hương và thơ được tuyển in trong tập Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học do con trai nhà thơ là Quách Giao (sưu tầm), nxb Trẻ, TP. HCM, 1994.

Ths. NGUYỄN CÔNG THANH DUNG
Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3 năm 2014

Tài liệu tham khảo:

1.             Huy Cận - Hà Minh Đức chủ biên (1997), Nhìn lại một cuộc
cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào Thơ Mới), Nxb Giáo dục, tb lần thứ nhất, HN.
2.             Phan Cự Đệ (1982), Phong trào Thơ Mới, Nxb Khoa học Xã hội, HN.
3.             Lam Giang (1970), Hồn thơ nước Việt, Nxb Sống Mới, SG.
4.             Quách Giao (sưu tầm) (1994), Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học, Nxb Trẻ, TP. HCM.
5.             Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng (1969), Việt Nam thi nhân tiền chiến, Nxb Sống Mới, SG.
6.             Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1970), Các khuynh hướng thi ca tiền chiến, Nxb Sống Mới, SG.
7.             Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt  Nam (Hình thức và Thể loại), Nxb Khoa học Xã hội, HN.
8.             Lê Triều Phương, Phan Hồng Châu, Quách Tùng  Phong (2002), Hương thơ Quách Tấn, Nxb Hội Nhà văn, HN.
9.             Trần Hữu Tá, Nguyễn Thành Thi, Đoàn Lê Giang (chủ biên) (2013), Nhìn lại Thơ Mới và văn xuôi Tự Lực văn  đoàn, Nxb Thanh niên, TP.HCM.
10.           Quách Tấn (1939), Một tấm lòng, Nhà in Thuỵ Ký, Hàng Trống, HN.
11.           Quách Tấn (1941), Mùa cổ điển, Nhà in Thuỵ Ký,  Hàng Trống, HN.
12.           Quách Tấn (1960), Mùa cổ điển, Nxb Tân Việt, SG, tái bản lần thứ 1.
13.           Quách Tấn (1965), Đọng bóng chiều, in tại Paris (không ghi nơi xuất bản).
14.           Quách Tấn (1966), Mộng Ngân Sơn, Hoa Nắng, Paris.
15.           Quách Tấn (1973), Giọt trăng, Thi Vũ giới thiệu, Nxb Rừng Trúc, Paris.
16.           Quách Tấn (1998), Thi pháp thơ Đường, Nxb Trẻ, TP. HCM.
17.           Quách Tấn (1999), Trăng hoàng hôn, Nxb Trẻ, TP. HCM.
18.           Quách Tấn (1999), Bóng ngày qua (Đời văn chương), Nxb Hội Nhà văn, HN.
19.           Quách Tấn (2000), Bóng ngày qua (Bàn Thành tứ hữu), Nxb Văn nghệ, TP. HCM.
20.           Quách Tấn (2000), Trường Xuyên thi thoại, Trung tâm Ng- hiên cứu Quốc học và Nxb Văn nghệ Tp. HCM.
21.           Hoài Thanh - Hoài Chân (1998), Thi nhân Việt Nam, in lần đầu 1941, Nxb Văn học, tái bản lần thứ 14, HN.
22.           Nguyễn Vỹ (1970), Văn thi sĩ tiền chiến, Sống Mới, SG.


Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019

PHẠM PHƯƠNG LAN - XÁC TÍN LỜI RU

Ai cũng biết làm cả một tập thơ tình là rất khó, nếu không tinh, dễ bị lặp trạng huống, mô típ. Khâu tình là một nỗ lực của Phạm Phương Lan, hy vọng những mũi khâu đan của chị cho tấm thảm thơ, cho tấm thảm tình yêu… ngày càng đẹp lên.
Nhà thơ Phạm Phương Lan

Cái tựa sách Khâu tình của Phạm Phương Lan quả khiến cho người đọc có một chút tò mò.

Tình của nàng ra sao nhỉ, nó “rách” thế nào, và cái sự khâu tình là lạ, nghe cũng có vẻ đa đoan rồi. Nàng khâu được không đây? Bởi, tình yêu không phải lúc nào cũng cơm ngon canh ngọt như người ta mơ ước, nhất là với những người đẹp, lại có cá tính mạnh mẽ?

60 bài thơ trong Khâu tình, chủ yếu là thơ tình; một đôi bài viết về mẹ, tình mẹ; một vài bài viết về mùa, mùa thu, vận khí của trời đất trong “thời tiết yêu”, nhiều mơ ước… Và ở đây, Phương Lan sử dụng khá nhiều thơ ngũ ngôn truyền thống, theo lối “thung thăng” kể dẫn và vần điệu, giàu nữ tính, nhiều cảnh ngộ, tình huống, buồn vui giằng xé trong những đợi chờ, nhớ nhung, thất vọng và hy vọng như là thuộc tính của người phụ nữ đa đoan, yêu thương diết dóng.

Nhưng thực ra, tình yêu ở Khâu tình không đến mức chao chát, “ngầu” và “phơi tông” như tôi tưởng ban đầu mà nó “da diết lành”, nữ tính và hồn hậu hơn; như Em & ngày không anh chẳng hạn: “Ngày không anh và gió/ Nắng hờn đôi môi xinh/ Tóc loà xoà sợi nhỏ/ Vương mắt nào long lanh”. Hờn một chút xíu thôi, với thi ảnh đẹp “Nắng hờn đôi môi xinh” và sau đó tự bộc bạch nỗi niềm tâm sự của mình trong bẫng lẫng trống vắng, dễ thương làm sao: “Em tâm hồn cỏ dại/ Em gót chân phố đông/ Lạc loài như cơn gió/ Giữa ngày hè không anh/ Lạc loài như cỏ dại/ Giữa phồn hoa thị thành”.

Thế mà anh không đến, thế là em lạc loài, dù đã “Hây hẩy tóc em thơm mùi tắm gội/ Nức những ái ân” (Thơm mùi tắm gội). Lại đây, một ngày không anh nữa nhưng là “Ngày mai không anh”, nghĩa là cái chưa đến, cái giả định của tình yêu, Phạm Phương Lan đã biểu lộ cảm xúc và trạng huống hiện tại của tương lai. Lúc ấy nàng thơ đang: “Khát cháy ruột gan/ Bờ môi khô vắng nụ cười vang/ Vắng nụ hôn nồng hương say cuồng dại/ Mái tóc mây sóng xoài thẫn thờ khờ dại”. Trong cảm giác cô đơn, trống rỗng vắng tình: “Em đi về phía ấy hương say/ Khật khưỡng ngày không anh/ Không tình yêu/ Không mây chiều/ Không lời hẹn hò, lả lơi luyến ái/ Không một sợi buồn vắt ngang cơn mưa rồ dại/ Chỉ có áng chiều rơi trên hai vai”. Đi mãi, đi mãi trong cái chiều tương lai lạ lùng, khát vọng và cô hoang ấy, đến nỗi: “Chiều nay/ Bờ môi vỡ rạn/ Hạn hán nỗi buồn, trống rỗng mi cay”.
Tập thơ "Khâu tình" của Phạm Phương Lan

Đến cả nỗi buồn cũng hạn hán, nhưng không khô héo đến tuyệt vọng, bởi có niềm tin tự tại và tiếp tục hy vọng: “Máu chảy mềm tim/ Em ở trong mình/ Ngực tràn hơi ấm/ Như lá hoa đón chờ làn sương ẩm”. Cái làn sương ẩm của tâm hồn, của tính nữ làm dịu đi “hạn hán nỗi buồn”! Chính vì có niềm tin yêu trong tình yêu, rộng lớn hơn là tin yêu vào tình người, mặc dù tình người trong xã hội đương đại cũng đang bị thách thức bởi sự vô cảm, bởi cái ác… làm băng hoại đạo đức xã hội ghê gớm; nhưng người thơ tự “trấn an” mình, tự ru cái sự lận đận, có màu sắc đa đoan, nhiều nếm trải của mình: “Ru tình nào sợi mây/ Ru đời làn môi ấm/ Ru ta thôi lận đận/ Vùi vào giấc mơ ngày./…/ Mi thèm giấc ngủ say/ Tóc thèm hương yên ấm/ Ta thèm mùa sâu đậm/ Giọt yêu thương vơi đầy” (Giọt yêu thương vơi đầy).

Cả đây nữa, dù có nếm trải cay đắng thế nào thì xác tín của lời ru, tức sự tĩnh tại và niềm tin vào cái tình, cái đẹp… thêm một lần được Phạm Phương Lan khẳng định rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn, mà vẫn “ngào ngạt” hương vị cuộc đời: “Ru tình nhé một đời ngào ngạt/ Ru mình nhé dẫu lòng tan tác” (Trầm tích không lời). Thơ tình Phạm Phương Lan nhiều ru, nhiều say, nhiều mùa bảng lảng, nhiều thảng thốt của trái tim dịu dàng, ẩn giấu “trầm tích” nữ hơn là sự “dấn thân” bạo liệt. Nói thế, không phải Phạm Phương Lan thiếu mạnh mẽ, thiếu nhiệt năng bùng cháy của tình yêu, và đây là một hiển lộ như vậy: “Em muốn là con sóng/ Vùi giấc ngủ mệt nhoài/ Sau đêm tình bỏng cháy/ Ai cứ cười mặc ai” (Tình ơi tha thiết).

Ai cũng biết làm cả một tập thơ tình là rất khó, nếu không tinh, dễ bị lặp trạng huống, mô típ. Khâu tình là một nỗ lực của Phạm Phương Lan, hy vọng những mũi khâu đan của chị cho tấm thảm thơ, cho tấm thảm tình yêu… ngày càng đẹp lên.

TRẦN QUANG QUÝ
(Lời tựa tập thơ Khâu tình)



Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019

MỘT PHỨC CẢM CỦA HAI CHIỀU CẢM XÚC

Tôi vừa nhận được tập ký - phê bình “Lòng chưa cạn đêm sâu” trong buổi ra mắt tác phẩm này của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh tại Thư viện Đà Nẵng. Mới nhìn qua, với tôi thì bìa và trình bày bìa cũng như phụ bản đẹp, lạ, độc đáo.

Nếu không đọc thấu ý đoạn trích từ bài thơ “Ngõ hẹp” của Nguyễn Ngọc Hạnh ở đầu sách: “ngõ hẹp dần/ lối mòn cũng nhỏ dần/ mòn ánh trăng khuya/ cong vút lưỡi liềm/ rơi xuống/ chạm ngõ nhà em/ tôi đã mòn/ và đời thôi đã hẹp/ lối nhỏ dần nhỏ dần/ lấp khuất/ ngày thì xa mờ mịt/ chỉ lòng tôi chưa cạn đêm sâu” thì đúng là thật khó hiểu được ý của tác giả muốn gửi gắm trong cái tựa của tập sách.
Tác giả Nguyễn Ngọc Hạnh trong buổi ra mắt tập ký - phê bình “Lòng chưa cạn đêm sâu”.

Đúng là tên tập sách đẹp như một câu thơ như nhận xét của nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, Tổng biên tập Tạp chí Non Nước trong phần giao lưu với tác giả. Tôi rất thích và trân trọng “Lòng chưa cạn đêm sâu” ngay từ “cái nhìn” đầu tiên ấy.

Phần Một gồm 28 bài ký, tản văn của Nguyễn Ngọc Hạnh viết về quê nhà, về bạn bè, về đồng nghiệp… Tôi thì thích và quan tâm nhất là những bài viết về quê nhà, phần viết về bạn bè, đồng nghiệp, do chưa có thời gian tôi mới chỉ để ý đến những bài về nhạc sĩ Thái Nghĩa, quê ở Điện Bàn; về doanh nhân đặc biệt - làm thơ; người nói lái nhanh nhảu và đa tài Huỳnh Văn Chính; nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Trọng Tạo; nhạc sĩ, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha; về điêu khắc gia Phạm Văn Hạng… một phần vì họ quá nổi tiếng, một phần vì có ít nhiều quan hệ với tôi trong những năm tháng làm việc.

Qua đó tôi cũng tìm thấy nhiều thi vị qua góc nhìn, mô tả và nhận định của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Một cách nhìn chân tình, sâu lắng khi viết về các nhân vật thân quen trong tập sách này. Đọc “Lòng chưa cạn đêm sâu”, chúng ta dễ thấy hiện lên một Nguyễn Ngọc Hạnh là người quá đỗi thân thương. Mỗi một nhân vật trong tập sách đều nặng một chữ tình.

Cái tình của họ với cuộc đời này; và cái tình của Nguyễn Ngọc Hạnh đối với họ (Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Tư Thiện, Trần Khắc Tám, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Văn Long, nhạc sĩ Thái Nghĩa, Diệp Chí Huy, điêu khắc gia Phạm Văn Hạng...) tràn đầy chan chứa yêu thương.

Các bài viết về quê nhà của Nguyễn Ngọc Hạnh sao mà gần gũi, thân thương đến lạ lùng. Đọc mà cảm nhận như người viết cũng hiểu được tâm tình của mình về quê hương, như tuổi thơ với bao ký ức hằn sâu, như gắn với máu thịt của mình vậy.

Càng đọc tôi luôn càng tự hỏi “Sao mà Nguyễn Ngọc Hạnh có thể hiểu chúng ta đến thế nhỉ”, anh đã nói thay nhiều người xa quê bằng tâm trạng của chính mình. Thì ra, Nguyễn Ngọc Hạnh là người Đại Lộc, quê ngoại Gò Nổi Điện Bàn, có thời gian sống ở Vĩnh Điện, và bây giờ anh đang ở Đà Nẵng như tôi. Tôi thì quê làng Bất Nhị, Điện Phước, có thời gian học ở Vĩnh Điện, Điện Bàn, vùng đất này gắn bó máu thịt, đâu dễ gì quên.

Có phải vì thế mà trong các bài ký “Một ngày quê mẹ”, “Buôn gánh”... cứ phảng phất cái không gian đằm thắm, thân quen đến lạ thường. Với giọng văn giàu cảm xúc của một nhà thơ, Nguyễn Ngọc Hạnh đã cuốn hút tôi, đưa tôi trở về với cái làng quê thân thuộc ấy.
Bìa tập ký - phê bình “Lòng chưa cạn đêm sâu” của Nguyễn Ngọc Hạnh.

Tôi rất tâm đắc ý với nhận xét của nhà thơ Thái Thăng Long: “Nguyễn Ngọc Hạnh sinh ra là để viết về cái làng quê, nơi mình sinh ra”. “Cái làng ấy ra đi cùng tôi/ Mà tôi nào hay biết/ Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết/ Con sông quê bóng núi cứ chập chờn”. “Một ngày quê mẹ”, “Về quê”, “Không đâu bằng chốn quê nhà, “Buôn gánh” là cảm xúc rất thật, rất dạt dào, day dứt về làng xưa, là “Ký ức quê nhà”, là hoài niệm khôn nguôi về làng quê nội Đại Hồng với bánh tráng đặc sản, lòn bon ăn hoài mệt nghỉ; với quê mẹ Bảo An, dâu tằm dệt lụa, phù sa màu mỡ, phong cảnh hữu tình… như câu ca dao “Cây đa mô cao bằng cây da Bàn Lãnh/ Đất mô thanh cảnh bằng đất Bảo An”, với con sông Vu Gia, Thu Bồn huyền thoại…

Gần nửa tập sách còn lại là những bài viết về Nguyễn Ngọc Hạnh của những nhà phê bình, nhà văn, nhà thơ tên tuổi ở khắp mọi miền đất nước như Thanh Quế, Ngô Minh, Bùi Văn Tiếng, Du Tử Lê, Trần Dzạ Lữ, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Huỳnh Văn Hoa, Thanh Thảo, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Nhã Tiên, Trần Trung Sáng, Hồ Sĩ Bình...

Phải là một con người biết trang trải, rộng mở lòng mình; phải là một con người biết nghĩ, biết sống vì người khác; phải là một con người biết trọng, biết yêu cái đẹp đắm say, Nguyễn Ngọc Hạnh mới nhận được nhiều tình cảm của anh em bạn bè như thế. Thật đáng trân trọng, nói như nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha trong lời mở đầu: “Người viết về mình cũng hết lòng. Mình viết về người cũng hết lòng. Bởi vậy “Lòng chưa cạn đêm sâu” đã để lại một phức cảm của hai chiều cảm xúc khiến người đọc cảm thấy quý mến, gần gũi Nguyễn Ngọc Hạnh hơn khi cầm trên tay cuốn sách này.

Cũng cần nói thêm, để có được giao cảm đó trong bối cảnh thơ ca hiện nay thật không dễ dàng. Điều này càng thấy rõ hơn, tình yêu văn chương của Hạnh lúc nào cũng tràn trề, lúc nào cũng đắm lòng không do dự. Đó là năng lượng không bao giờ vơi cạn mà người dấn thân vào nghiệp này luôn luôn phải nuôi dưỡng, gìn giữ nó như chính quả tim nhỏ bé của mình. Gìn giữ được như thế, mới có thể dâng hiến bền lâu, dâng hiến thâm hậu cho đến khi sức tàn lực kiệt. Một dâng hiến trong veo không toan tính”.

GS.TS TRẦN VĂN NAM
Theo VNCA


Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

THI SĨ NGA SERGEI ESENIN VỚI BÀI THƠ ĐẦY ÁM ẢNH VỀ “TÌNH MẪU TỬ” CỦA MỘT CON CHÓ MẸ

Tôi từng đọc và thuộc nằm lòng từ nhiều năm trước một nhận xét lộng lẫy, rất giàu liên tưởng của văn hào Maksim Gorky về khả năng phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên Nga trong thơ Sergei Esenin (1895-1925): “Esenin không hẳn là một con người, mà là một thứ cơ quan của thiên nhiên được sáng tạo ra chỉ để làm thơ, để thể hiện nỗi buồn vô tận của ruộng đồng”.
Thi sĩ Nga Sergei Esenin và Isadora Duncan

Giờ đây, đọc lại Gorky (cuốn “Gorky bàn về văn học”, NXB Văn học, 1970), tôi thực sự bất ngờ khi nhận thấy, Gorky nảy ra ý tưởng trên chính là từ lần ông nghe (tại Berlin, năm 1922) chàng thi sĩ có vóc dáng thư sinh và gương mặt vào loại điển trai nhất trong số các thi sĩ Nga đọc bài thơ “Bài ca về con chó mẹ”.

Vâng, hôm ấy Esenin đọc thơ về… chó (chứ không phải về một vạt rừng bạch dương, một cánh đồng lúa mạch, một hồ nước thơ mộng nào đó - như ta thường nghĩ). Hãy nghe Gorky kể lại:

“Tôi yêu cầu anh đọc bài thơ nói về con chó mẹ bị người ta bắt mất bảy đứa con nhỏ đem trôi sông.

...

- Anh thích bài con chó thật à?

Tôi nói với anh rằng, theo ý tôi anh là người đầu tiên trong văn học Nga đã viết về loài vật một cách điêu luyện và với một tình yêu thương chân thành như vậy.

- Đúng, tôi rất yêu loài vật, con gì cũng thế - Esenin nói khẽ, giọng trầm ngâm.

Khi tôi hỏi xem anh có biết cuốn “Thiên đường của loài vật” của Claudel không, anh không đáp, chỉ đưa cả hai tay lên sờ sờ trên đầu rồi bắt đầu đọc “Bài ca về con chó”.  Và khi anh đọc hai câu cuối cùng:

Mấy giọt nước mắt xót xa của con chó
Nhỏ xuống tuyết như những ngôi sao vàng
thì mắt anh cũng rưng rưng”

(bản dịch của Hoàng Minh).

Trong tay tôi hiện có hai bản dịch trọn vẹn “Bài ca về con chó mẹ”. Một bản dịch qua tiếng Nga của nhà thơ Trần Đăng Khoa và một bản dịch qua tiếng Pháp của nhà thơ Tế Hanh. Qua tham khảo các chuyên gia văn học Nga, tôi được biết bản dịch của nhà thơ Trần Đăng Khoa sát nghĩa hơn. Vậy xin giới thiệu ở đây:

Sáng ra trong chuồng hoen gỉ
Chó mẹ vừa sinh bầy con
Bảy chú chó hung mũm mĩm
Trên đống bao tải đã sờn.

Suốt ngày chó mẹ âu yếm
Lưỡi mềm chải mượt lông con
Và dưới bụng mẹ ấm áp
Từng dòng tuyết nhỏ đang tan.

Buổi tối khi bầy gà nhiếp
Ngủ yên trên những chiếc sào
Ông chủ lạnh lùng, cau có
Bỏ bầy chó nhỏ vào bao.

Chó mẹ chạy nhào trong tuyết
Cuống cuồng tất tả đuổi theo
Để nước dưới bao hào rãnh
Vẫn còn run rẩy hồi lâu.

Rồi nó lê mình trở lại
Mồ hôi ướt đẫm bên sườn
Mặt trăng nằm trên mái rạ
Tựa hồ một chú chó con.

Nó ngẩng nhìn vào trời thẳm
Rồi sủa gọi lên bầu không
Vành trăng mỏng manh bình thản
Lặn xuống đồi hoang ven đồng.

Rồi cứ âm thầm như lúc
Bị ai ném đá giễu cười
Nước mắt nó sa trên tuyết
Rực vàng từng giọt sao rơi...

Những người nuôi chó thấy con chó suốt đời quẩn quanh, gắn bó chia sẻ buồn vui với mình, hồ như họ quên bẵng cội nguồn của chúng, quên mất rằng bất cứ con chó nào cũng được sinh ra bởi một con chó mẹ.

Thứ nữa, cũng bởi những chú chó con đa phần đều bị tách đàn từ rất sớm, nên cái gọi là “tình mẫu tử” đối với chúng hầu như bị khuất lấp, hiếm có cơ hội thể hiện; thậm chí gần như là bị triệt tiêu (thế nên mới có chuyện, có những chú chó xả thân “quyết chiến” với chính đồng loại của mình để bảo vệ chủ). Nhưng đấy là nhìn ở một bình diện.

Trên một bình diện khác, tình mẫu tử ở loài chó - nhất là giữa chó mẹ với chó con sau sinh - cũng thắm thiết, ân tình, sâu nặng lắm. Không phải tự dưng mà các cụ nhà ta lại đưa ra nhận xét “dữ như chó đẻ”, với ý trong giai đoạn chó nằm ổ, phải hết sức đề phòng, tránh xa, vì nó rất quyết liệt, đến mức hung tợn trong việc bảo vệ đàn con. Bài thơ “Bài ca về con chó mẹ” của Esenin chính là một sự nhắc nhở về việc chúng ta cần tôn trọng tình mẫu tử thiêng liêng của loài vật, cụ thể ở đây là một con chó mẹ.

Bài thơ như một thước phim cho thấy các trạng huống cảm xúc của một con chó mẹ kể từ khi đàn con ra đời đến khi bị ông chủ cho vào bao mang đi. Cách biểu hiện cảm xúc của nó khiến trái tim người đọc như tan chảy.

Trời ạ, nỗi niềm con vật lúc vui lúc buồn có khác chi con người! Khi nó âu yếm, thể hiện tình mẹ, hình ảnh “Lưỡi mềm chải mượt lông con” đã quá ư xúc động rồi; đến khi bầy chó con bị bắt đi, cảnh nó “tất tả đuổi theo” còn tội nghiệp, xót xa hơn nữa: “Chó mẹ chạy nhào trong tuyết/ Cuống cuồng tất tả đuổi theo/ Để nước dưới bao hào rãnh/ Vẫn còn run rẩy hồi lâu”. Thực sự phải là nhà thơ với bao yêu thương, trìu mến, đồng cảm… mới có những quan sát kỹ càng, tinh tế về một loài vật và có cách thể hiện lay động trái tim người đến vậy.

Trong lịch sử thi ca thế giới, vầng trăng từng được các thi nhân ví với nhiều vật dụng, loài vật. Ở phương Đông, vầng trăng từng được ví với chú thỏ (gọi là Thỏ Ngọc). Vậy thì việc Esenin ví vầng trăng như chú chó con cũng không có gì là khiên cưỡng. Thậm chí, nó còn đẩy hiệu quả cảm xúc lên cao, nhất là sau cuộc “tất tả đuổi theo” ông chủ (nhằm giữ lại đàn con) bất thành, chó mẹ lê mình trở về trong sự mệt mỏi, buồn bã, hình ảnh “Vầng trăng nằm trên mái rạ/ Tựa hồ một chú chó con” thật không khi nào hợp với tâm trạng của chó mẹ như lúc này.

Và, chính hình ảnh chú chó con xuất hiện trên mái rạ ấy càng khiến chó mẹ nhớ con da diết, đến độ không kìm được, nó cứ ngẩng mặt nhìn vào trời thẳm mà sủa, mà tru… Có lẽ, chó mẹ ngỡ tưởng bầy con của mình đang bị người đời bắt mang đi và giấu đưa lên “trên” ấy.

Bốn câu kết bài càng khiến người đọc xúc động. Mặc cho người đời bỡn cợt, xem thường nỗi đau của chó mẹ (như cách xử sự thường thấy của con người với tất cả loài vật trên trái đất), chó mẹ âm thầm thể hiện nỗi đau đớn, thương nhớ bầy con của mình. Sự đồng cảm cao độ giữa con người với loài vật đã khiến Esenin viết nên những câu thơ mà ai đọc cũng phải rưng nước mắt:“Nước mắt nó sa trên tuyết/ Rực vàng từng giọt sao rơi”.

Từ bài thơ của Esenin, bất chợt tôi liên hệ tới một chuyện từng xảy ra với đàn chó ở nhà bố mẹ tôi. Tuổi hưu, bố mẹ tôi nuôi chó với mục đích vui cửa vui nhà, cũng vừa để cho đẻ, bán lấy tiền cải thiện sinh hoạt. Nhìn cảnh đàn chó con sau khi đã bắt đầu ăn được cơm, được để ra một chuồng riêng đặt ngoài vỉa hè cho người đi đường chọn mua, trong khi cái chuồng của chó mẹ đặt ở trong nhà, nhưng cũng gần đấy (chó mẹ chó con có thể nhìn thấy nhau), tôi rất… bứt rứt.

Tôi không hiểu tâm trạng của con chó mẹ sẽ thế nào trước việc những con chó con mà nó từng chăm bẵm, cho bú mớm cứ từng ngày từng ngày bị người ta đến vần vò “nâng lên đặt xuống”, sau rồi lần lượt… đem đi hết! Bản thân tôi, nhìn đàn chó con, cảnh mấy anh chị em bấu víu, nô đùa nhau, rồi bỗng chốc trơ ra, chỉ còn một con… mà không khỏi chạnh lòng.

Tôi nói với bố mẹ tôi đừng để con chó mẹ trông thấy cảnh ấy. Mẹ tôi rất có kinh nghiệm trong chuyện này. Bà bảo: “Để tạm đây rồi cho nó lên sân thượng. Chứ ở đây, trông thấy con, nó kêu suốt, sao chịu nổi!”..

Con chó mẹ sau được đưa lên sân thượng thật.

Một lần, mẹ tôi làm cỗ giỗ bà ngoại. Nhà chật, lại sát đường, để việc ăn uống được tập trung, tránh ánh nhìn của người qua kẻ lại, mẹ tôi lấy dây xích cột hẳn chiếc chuồng nhốt bầy chó con cần bán vào một trụ cửa rồi khép chiếc cửa sắt lại. Tôi vừa ăn vừa cao hứng trò chuyện với đám anh em, con cháu lâu ngày mới gặp, thi thoảng cũng bị phân tâm bởi tiếng chó con kêu eo óc ngoài cửa.

Một lát, bất chợt tôi nghe có tiếng động mạnh, như có cái gì rơi từ trên cao. Bà chị dâu tôi xăm xắn mở hé cửa bước ra xem chuyện gì. Tiếp đó là mẹ tôi, rồi anh trai tôi. Tôi thấy mọi người lao xao nói với nhau điều gì đó. Khi trở vào, gương mặt ai nấy không giấu được sự căng thẳng. “Có chuyện gì? Cái gì vừa rơi vậy?” - Tôi hỏi. Anh trai tôi gạt đi: “Không, chuyện ngoài đường nhà người ta ấy mà”.

Rồi anh cười, nâng ly rượu cụng với tôi, nhắc: “Chú tập trung vào… “chuyên môn” đi. Kệ thiên hạ, quan tâm làm gì”. Nghe anh nói vậy, tôi lại tiếp tục rổn rảng câu chuyện đang trong đà được khơi mạch...

Phải mãi mấy ngày sau vợ tôi mới cho tôi biết sự thật. Tôi nghe mà chết lặng! Thì ra, hôm ấy, con chó mà bố mẹ tôi nuôi để đẻ bị tai nạn chết. Cái chết thật tức tưởi. Nó rơi từ sân thượng xuống đường, ngay trước chuồng bầy chó con. Còn vì sao nó ''bị'' thế, thì theo mọi người phán đoán, trên sân thượng nhà bố mẹ tôi, chỗ mi đua ra phía đường là hàng lan can được gắn bằng những ống sứ có khoảng cách tương đối rộng, con chó có thể chui đầu lọt.

Bình thường thì nó cũng chẳng mon men ra đấy làm gì. Nó rất khôn, biết sợ độ cao. Nhưng hôm ấy, hẳn là nghe tiếng chó con từ dưới hè đường vọng lên. Thương con, nhớ con, nó bò ra mép lan can, cố nghển đầu nhìn xuống, rồi cứ thế, nó ngó nghiêng, sán dần, sán dần về phía có tiếng kêu, cứ thế, cứ thế… bất ngờ nó lọt qua lỗ hoa, rơi từ độ cao hơn chục mét xuống đất, chết thảm ngay trước mặt lũ chó con khi ấy như thể những cục bông đang lổm ngổm trèo lên người nhau, miệng nheo nhéo kêu gì không rõ.

Sở dĩ ai đó phân tích, phán đoán vậy là vì trước khi con chó mẹ bị rớt, có người nghe thấy tiếng nó sủa liên hồi, văng vẳng trên cao. Hẳn vì nó muốn ''đánh tiếng'' hay thể hiện sự lo lắng với bầy con. Còn tại sao hôm ấy không ai nói với tôi sự thật? Là vì mọi người biết tôi rất yêu chó. Cả nhà đều sợ khi biết chuyện, tôi sẽ “lớn tiếng” làm bữa ăn mất vui. Đã lâu, cả đại gia đình tôi mới có một cuộc sum vầy đông đủ như thế.

PHẠM KHẢI
Nguồn: VNCA




Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2019

KHÓ CHỊU NHƯ… XEM ẢNH XẤU

Những ngày qua, một loạt các bức ảnh khỏa thân của một cô gái tại hồ sen đang tràn ngập không gian lẫn mặt báo. Và kèm với loạt ảnh ấy là những ý kiến trái chiều – mà chê nhiều hơn khen.

Thậm chí, có nhiều người còn nâng quan điểm rằng sen – loại hoa từng được đề xuất làm Quốc hoa của Việt Nam - là hình ảnh tượng trưng cho sự thanh tao và nền nã. Bởi thế, việc chụp khỏa thân với sen không thể chấp nhận, khi nó xúc phạm tới hình ảnh đấy.

Quan sát những bức ảnh bị dư luận chê, điểm chung là chúng xấu thật, xấu từ người mẫu, ý tưởng cho đến bố cục, ảnh sáng, cách chụp.

Ảnh khỏa thân với sen trước đây đã có nhiều người chụp, có bức đẹp, có bức xấu. Và thực tế những bức ảnh đẹp khá nhiều, chúng thường được khen ngợi, trân trọng, ít khi bị cộng đồng vùi dập như hiện nay. Đúng là “Cái đẹp cứu chuộc thế giới”, như F. Dostoevsky từng viết.
Cô gái khỏa thân ngâm mình bên bồ sen xôn xao mạng xã hội. Ảnh: Internet

Thật ra, dù là ảnh khỏa thân, ảnh sự kiện hay ảnh chân dung, người ta đều có thể chia một cách rất đơn giản thành ảnh đẹp và ảnh xấu. Và chắc chắn, từ khi có nhiếp ảnh, thì những bức ảnh khỏa thân xấu đã tồn tại rất nhiều.

Vậy mà trong những năm qua, rõ ràng chúng ta phải xem quá nhiều những bức ảnh khỏa thân xấu, thô kệch, thậm chí là nhếch nhác. Tại sao lại như thế?

Có lẽ điều này đến từ 2 lý do chính: Thứ nhất, do phương tiện chụp và phương tiện phổ biến ngày nay quá đa dạng, dễ dàng, nên ai cũng có thể chụp in và đưa lên mạng, nếu muốn. Thứ hai, khi tinh thần tự do sáng tạo đang nảy nở mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực – bao gồm cả nhiếp ảnh – nhiều người muốn thể hiện sự sáng tạo và bày tỏ của mình.

Và vô tình, dù xuất phát từ người mẫu hay nhiếp ảnh gia, cái tâm lý “biết thì thưa thì thốt, không biết dựa cột mà nghe” trước đây bị thu hẹp lại rất nhiều. Như thế, tự do bày tỏ sẽ kích thích sáng tạo nhưng cũng mang lại những hệ lụy phụ - mà vụ ảnh khỏa thân xấu như vừa rồi là một ví dụ.

***

Thật ra, với ảnh khỏa thân, cách nghĩ của chúng ta đang thay đổi theo chiều hướng cởi mở và tiến bộ - điển hình là ngày càng có nhiều sách và triển lãm khỏa thân được cấp phép.Nhưng ngược lại, những bức ảnh non kém, nhếch nhác lại vô tình mang về tiếng xấu cho thể loại nhiếp ảnh này. Và, những người mẫu xấu, những bức hình xấu vốn đã nhiều, nay lại được cộng đồng mạng “tiếp tay” lan truyền nên ta càng cảm thấy chúng xuất hiện nhiều hơn bao giờ hết.

Ảnh khỏa thân Việt Nam đã trải qua hơn nửa thế kỷ tìm kiếm tiếng nói bình đẳng với các thể loại khác, gần đây mới được bình thường hóa bằng các cuốn sách, các triển lãm công khai. Những lùm xùm từ những vụ việc như khỏa thân với sen - lưu ý là chỉ xét các ảnh xấu, phản cảm - rất dễ gây tác động ngược lại xu thế bình thường hóa đang diễn ra. Ai sẽ đáng lo lắng nhất? Có lẽ chính là những người đang có tâm huyết với ảnh khỏa thân, bởi dư luận bất lợi có thể ảnh hưởng không tốt đến sáng tạo.

Trào lưu chụp 'nude thiên nhiên': Luật không cấm nhưng dư luận sẽ lên án…

Rõ ràng chẳng thể nào cấm người mẫu xấu chụp hình, càng không thể cấm các tay máy chụp hình xấu. Bởi, chụp ảnh đẹp là đặc quyền của thiểu số tài năng, còn chụp hình xấu là… quyền phổ quát của số đông. Nếu chỉ mải soi xét những bức ảnh xấu và phản cảm thì cảm giác chung của chúng ta về ảnh khỏa thân tất nhiên là khó lòng tích cực.

Tuy nhiên, cuộc sống luôn có hai mặt. Biết đâu, từ những bức ảnh khỏa thân xấu xí chụp người mẫu ở hồ sen, người ta lại tò mò và tìm kiếm những tác phẩm đẹp và giàu tính nghệ thuật để so sánh.

Cái đẹp được ca ngợi, cái xấu bị chê cười – mọi sự việc trong cuộc sống cuối cùng cũng đi về cái đích ấy.

VÔ ƯU
Nguồn: TTVH



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều