Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

THƯƠNG NHỚ 'ÔNG GIÀ NAM BỘ' TRẦN KIM TRẮC

Sáng 4.1, khi gia đình làm lễ cúng 49 ngày cho nhà văn Trần Kim Trắc tại một ngôi chùa ở Q.3, TP.HCM thì thông tin ông mất mới được xác nhận làm bất ngờ giới văn chương và độc giả yêu mến ông. Cuộc ra đi của một nhà văn “ở ẩn thị thành'' cũng lặng lẽ đúng như tính cách...
Nhà văn Trần Kim Trắc

Sống chính là đang viết...

Cùng với những cây bút thương hiệu của văn chương phương Nam như: Sơn Nam, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng... nhà văn Trần Kim Trắc (hội viên Hội Nhà văn VN và Hội Nhà văn TP.HCM) được xem là một cây đại thụ của văn học Nam bộ.

Ông sinh năm 1929 tại Chợ Gạo (Tiền Giang) rồi lên sinh sống tại Sài Gòn. Ngoài tên thật, nhà văn còn có các bút danh là NT và Trần Kim. Truyện ngắn Cái lu của ông từng đoạt Giải thưởng Hội Văn nghệ VN (1945 - 1954). Mặc dù có một thời gian dài gián đoạn việc viết lách do phải đi làm trái nghề để mưu sinh: thợ sơn tràng (khai thác gỗ), phu bốc vác, làm ruộng, chế biến thực phẩm và cuối cùng là nuôi ong lấy mật... nhưng khi trở lại với văn chương thì chính những trải nghiệm của cuộc sống vất vả khiến ông có một bút lực tràn trề. Hàng loạt tác phẩm tiếp nối nhau ra đời: Cái bót (truyện ngắn, in chung 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết 1996), Học trò già, Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn 1998), Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn 1999), Lý lắc Nam bộ (tản văn 2015)... đã nói lên sức viết mạnh mẽ của nhà văn.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng uy tín về văn học nghệ thuật: Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Con người và cuộc sống hôm nay do Hội Nhà văn TP.HCM và Báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức năm 2012, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn VN năm 1995 với tập Ông Thiềm Thừ. Đặc biệt, truyện Ừ, đi, ừ được Sân khấu Hoàng Thái Thanh chuyển thể thành vở kịch Sài Gòn có một ngã tư diễn từ tết năm 2018 cho đến nay vẫn thu hút người xem.

Tổng biên tập - Giám đốc NXB Trẻ Nguyễn Minh Nhựt cho biết: “Chúng tôi luôn trân trọng những cây đa cây đề như Sơn Nam, Toan Ánh, Trang Thế Hy và Trần Kim Trắc. Vì vậy, mà tự NXB chủ động đến tận nhà riêng gặp, trình bày ý nguyện muốn mua các tác phẩm của ông trọn đời và được đồng ý ngay chứ ông cũng không tìm đến đâu. Cảm động là ông luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, khiêm tốn và vui vẻ. Ông nói tưởng sách in xong rồi thì thôi, giờ in lại nữa thì thích quá. Nhà văn chẳng quan tâm nhiều đến tiền bạc mà nghe sách đến được nhiều người đọc là mừng rồi. Ông già lớn tuổi nhưng viết về giới trẻ rất hay, nhất là chuyện tình cảm tình yêu thì vô cùng sâu sắc”.

Còn nhà thơ Trần Hoàng Nhân thì không thể nào quên những kỷ niệm với “Ông già Nam bộ”. “Trong khi mọi người gặp nhau hay nói chuyện huyên thuyên thì nhà văn ngồi im ru, nghe xong rồi tủm tỉm cười. Có lúc tôi buột miệng hỏi: “Cuộc đời này ông nghiệm ra điều gì?”. Ổng trả lời: “Tôi học được một câu trong Truyện Kiều là Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau và một câu trong Lục Vân Tiên: Nực cười hai chữ nhân tình éo le là đủ rồi”. Tôi nghĩ cuộc đời ông Trần Kim Trắc có nhiều cái để mình học hỏi: khiêm tốn, sâu sắc. Tôi nhớ nhà văn có câu nói rất hay “tôi đang sống tức là tôi đang viết”, chứ không phải “tôi đang viết tức là tôi đang sống” như quan niệm của một số nhà văn hiện nay đâu, nên dù có lúc hơn 30 năm ông ngưng viết nhưng khi cầm bút lại thì sáng tác rất hay là vì thế…”, Trần Hoàng Nhân chia sẻ.

Nhớ mãi ông già lý lắc nam bộ

Anh Võ Anh Tuấn - cháu ruột của nhà văn Trần Kim Trắc cho biết: “Ngày 10.11.2018, ông bị suy hô hấp nặng. Tới trưa 17.11.2018, bệnh tình trở nên nguy kịch, ông phải thở bằng máy cho đến 16 giờ 30 chiều thì ông đi. Vì quá neo người, chỉ có cậu ruột ở ngoài Bắc vào phụ, ngày hôm sau lại đúng đám cưới của tôi nữa nên gia đình tiến hành khâm liệm ông ngay tại bệnh viện. Hôm sau tôi đưa ông đi hỏa thiêu rồi gửi vào chùa theo đúng ý nguyện của ông là không muốn làm gì rình rang…”. Theo anh Võ Anh Tuấn, hiện tro cốt của nhà văn Trần Kim Trắc đang được gửi tại chùa Hưng Phước (Q.3, TP.HCM).

Nhiều văn nghệ sĩ bày tỏ nỗi thương tiếc và đau buồn trước sự ra đi đột ngột của nhà văn Trần Kim Trắc. Nhà thơ Lê Minh Quốc bày tỏ tình cảm thương nhớ “ông già” Lý lắc Nam bộ - như tên tập tản văn của Trần Kim Trắc, khi nhắc đến sự gần gũi chân thành của ông. “Tôi nhớ mỗi khi ra tác phẩm mới, nhà văn không nề hà mang sách đến tận cơ quan ký tặng khiến tôi thực sự cảm động. Là nhà văn lớn thuộc thế hệ đàn anh đi trước nhưng ông cư xử với thế hệ sau rất gần gũi và trân trọng, đó là điều thật đáng quý… Một nhà văn Nam bộ có đặc điểm độc đáo là kể chuyện thời kháng chiến rất hay và dí dỏm đã không còn hiện diện trên cõi đời này nữa. Nhớ ông quá...”, nhà thơ bùi ngùi.

LÊ CÔNG SƠN
Theo Thanh Niên



NGƯỜI HÙNG THẦM LẶNG

Mùa xuân năm 2015, tôi lên xã Khâu vai, huyện Mèo Vạc, Hà Giang cùng đoàn đánh giá tác động của các dự án hạ tầng do Chính phủ Ireland tài trợ cho các xã thuộc Chương trình 135.

Cách thành phố Hà Giang khoảng 165 km, nhưng phải mất 6 tiếng ô tô của chúng tôi mới tới thị trấn và phải mất gần 2 tiếng cho đoạn đường 40 km từ Mèo Vạc lên trung tâm xã Khâu Vai. Sau khi làm việc với ủy ban nhân dân xã, chúng tôi đi bộ khoảng 3 giờ đồng hồ để đến được một bản, nơi có hai bể chứa được dự án tài trợ. Ở đây, vào mùa khô, phụ nữ và trẻ em gái phải đi bộ nửa ngày để lấy được 20 lít nước về nấu ăn.

Cạnh nhà văn hóa là ngôi trường cấp một đơn sơ, nơi có một cô giáo 50 tuổi đang dạy học. Cô Tươi kể, bể nước có hai tác động tích cực là học sinh sẽ có nước rửa tay, chân trước khi bước vào lớp học trong 5 tháng có nước. Còn 7 tháng còn lại trong năm, mặt bể là sân chơi cho trẻ em vì nó bằng phẳng.

Nhà cô ở thành phố Hà Giang, chồng làm bộ đội, hai con đã lớn và lập gia đình. Suốt 15 năm qua, cô đi xe máy về thăm nhà vào chiều thứ 6 và đầu giờ chiều chủ nhật lên lại trường với học sinh. Mỗi chiều đi mất khoảng 7 tiếng đồng hồ. "Sao chị không nghỉ việc hoặc xin chuyển công tác về thành phố cho gần nhà, đỡ phải đi lại vất vả?", tôi hỏi. "Chỉ tại mình thương lũ trẻ ở đây, thấy chúng nó tội nghiệp và thiệt thòi quá", cô Tươi nghẹn ngào trả lời. Khi tôi còn bối rối chưa biết nói gì thì vẻ mặt và ánh mắt cô bất chợt đầy hứng khởi: "Trong suốt 15 năm qua, chưa có một học sinh nào của mình học hết cấp ba nhưng mà năm vừa rồi có một cậu người Mông vừa đỗ đại học. Mình mừng lắm và thấy rất hạnh phúc".

Nhưng sau khi cậu học trò Mông đỗ đại học, thì không có tiền ăn học. Cô Tươi đã bắt xe khách về Hà Nội, đi tìm việc và xin được cho cậu vào làm ở một quán bia hơi. Ngoài ra, cô cảm thấy mình không có "thành tích" gì đặc biệt trong 15 năm cắm bản.

Trước các vấn đề của hệ thống an sinh, người ta dễ dàng bật ra giải pháp "đầu tư". Trước những vấn đề của giáo dục, nhiều độc giả phía dưới các bài viết đưa ra lời kêu gọi "đầu tư cho giáo dục" bằng ngân sách. Nhưng câu chuyện của cái bể nước giữa cao nguyên đá nói lên rằng trong bối cảnh nước ta, nhiều khi một khoản tiền không thể là giải pháp cho mọi vấn đề. Giáo dục sẽ không thể thành công, nếu không có sức người và tình người.

Giáo dục phổ thông của trẻ em dân tộc ít người đã có những bước tiến vượt bậc, đóng góp quan trọng vào tiến trình hoàn thành "Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ" và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Khoảng cách về tỷ lệ đi học của học sinh dân tộc thiểu số so với học sinh người Kinh ở cấp tiểu học đã không còn và còn rất nhỏ ở cấp trung học cở sở. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi của trẻ em các dân tộc như Tày, Thái, Mường, Khmer, Xơ Đăng đều trên 90% vào năm 2015. Đặc biệt, tỷ lệ này của trẻ em dân tộc Mông đã tăng vượt bậc từ 74% năm 2009 lên 92% năm 2015.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhập học ở cấp trung học cơ sở của các dân tộc này cũng tăng rất nhanh trong giai đoạn 2009 đến 2015. Tỷ lệ nhập học của học sinh dân tộc ít người ở cấp ba tuy có thấp hơn nhiều so với  học sinh dân tộc Kinh nhưng cũng có những bước tiến bộ nhảy vọt và ngày càng thu hẹp khoảng cách như Mông - từ 5,8% lên 33%; Xơ Đăng – từ 7,6% lên 42%.

Câu chuyện của cô giáo Tươi và những gì chứng kiến ở Khâu Vai là một trong những lý do có thành công trên. Vài năm trước đó, cũng vào một lần đi công tác ở Hà Giang, tôi đã chứng kiến cảnh hơn 20 cô giáo cắm bản nhân dịp về tập huấn nghiệp vụ đang ăn, uống và hò hét trong trạng thái say khướt. Phải đến tận khi gặp cô Tươi, tôi mới hiểu, họ được quyền say như thế - như một ngày xa xỉ, bởi rất hiếm khi có dịp gặp được những đồng nghiệp cùng cảnh ngộ, những người biết rõ một ngày làm người dạy học của họ là thế nào.

Những thành tựu trên các báo cáo cuối năm không thể có được nếu thiếu đi sự hy sinh vô cùng to lớn của rất nhiều người hùng thầm lặng như cô Tươi ở Khâu Vai - những người lặng lẽ gieo mầm tri thức cho trẻ em dân tộc ít người trên những mảnh đất khô cằn dẫu biết trong hàng trăm hạt giống, có thể chỉ có một cậu người Mông đỗ đại học.

Đó cũng là những người tạo cảm hứng cho học sinh về một niềm vui mang tên sự hiểu biết. Họ nên được ghi nhận, trân trọng nhiều hơn bởi tất cả chúng ta.

PHÙNG ĐỨC TÙNG
Nguồn: VNEX


NGÔ THUÝ NGA & NỐT LẶNG ƯU TƯ CỦA NGƯỜI THƠ TRẺ

Vừa rồi Ngô Thuý Nga tặng tôi tập thơ vừa mới in xong. Đây là lần đầu tiên tôi đọc Ngô Thuý Nga qua Nốt lặng (NXB Hội Nhà văn TP.HCM 2015) của nhà thơ trẻ này vốn trước đây được biết đến là cây bút viết văn xuôi.
Nhà thơ Ngô Thuý Nga

Phải nói rằng Nốt lặng là tập thơ về những thân phận, tâm tư, cảnh đời có những điều gì đó của lãng mạn trêu đùa tình yêu cứ trôi qua đời con gái của mình hay của ai đó mà người viết bày tỏ sự tình. Ngôn ngữ của Ngô Thuý Nga trong tập thơ này nó lãng du và bồng bềnh cảm xúc:

Cũng chỉ là nốt lặng tuổi hai mươi
Cũng chỉ là những cào xé trong lòng người con gái
Mang những nỗi niềm đi hoang
Mang những rỗng rễnh cuộc đời về làm nơi nương tựa
Bởi đứng đâu cũng thấy mình thừa

                                    (Thơ tặng người dung)

Nhà thơ đã đốt cháy nỗi niềm trong sự tuột tay và chỉ có người dưng ấy mới được tặng cái phần quà của nỗi đau rồi cũng nhạt ở người con gái. Thân phận và nỗi niềm hoang hoải là nốt lặng buồn, đã cào xé trong tâm can đày đọa. Sao người dưng lại làm khổ nhau thế nhỉ?

Ngồi trên vũng nắng chớm đông
Gió xõa tóc lên chiều rũ rượi
Em đưa bàn tay hong mùa
Sờ lên trái tim chông chênh nỗi nhớ
                         
           (Quên cài cửa vô thường)
    
Thế mà câu thơ vẫn chông chênh nỗi nhớ, quả là điều kỳ lạ trong yêu đương. Ngô Thuý Nga đã sử dụng ngôn ngữ của người trẻ đương đại viết lên hoàn cảnh chiều rũ rượi, trong tâm tư nghĩ về phía ấy mà không ủy mỵ. Với tình yêu ngày nay và cách gieo lên những con chữ thực tiễn đời thường, mà người đọc và viết lớp đi trước chưa có được:

Có đôi lần anh vén váy em làm gối
Ngủ vùi sau cơn say hư ảo đời người
Đêm vẫn ngọt
Anh vẫn say
Em đi về rất vội

              (Phố núi ngọt)
Tập thơ Nốt lặng của Ngô Thuý Nga

Nếu có thì rất ít, mà họ vẫn đắn đo cho tròn trĩnh ngôn từ. Người trẻ bây giờ đã xa đi những ràng buộc của niêm luật thường tình, tìm đến cái mới lạ nhưng vẫn rất thơ:

Đàn bà có khi như cơn bão
Cuồng điên xé lòng mình đổi lấy an nhiên cho những điều không thật
Cấu rách bản năng để nắm tay người chơi trò cút bắt
Già mất một cuộc tình vừa bắt đầu những vết son

                                      (Ngược sáng)

Hình như thơ Ngô Thuý Nga trong Nốt lặng là những mất mát trong tâm hồn người con gái như lời ru buồn cứ chực chờ vỡ òa ở con tim bé nhỏ:

Ta lặng im bên nhau
Em trệu trạo nhai bóng đêm đổ ập bên song cửa
Đáy mắt anh rơi giữa khoảng trống hai chỗ ngồi chưa kịp ấm
Ta trầm ngâm
Nghe thinh không vỡ òa

Em cởi áo mình trả áo cho anh…

                       (Trả áo cho anh)
     
Nỗi buồn ấy còn thể hiện ở những bài thơ như Giấc mơ không màu: “Người đàn ông có dĩ vãng già nua /Có muôn ngàn mặt nạ khiến em nhìn vào đâu cũng thấy mình như vỡ”; rồi: Em lật tung ký ức tìm một cái ôm dài/ Chỉ nhìn thấy khoảng trống mênh mông còn sót lại (Nhặt mưa làm nước mắt); và:

Cắn đôi sợi tóc sót lại trên gối
Mới biết mình ảo vọng
Giữa nỗi buồn màu huyết dụ bẻ cong. 

                   (Nỗi buồn màu huyết dụ)
  
Không thể kể hết nỗi niềm trong Nốt lặng của nhà thơ được. Hình như nhà thơ đã và đang trải qua nỗi niềm trước sóng gió cuộc đời mà âm điệu, cấu tứ của những bài thơ cứ canh cánh một nét buồn rong ruổi.

Em hoang vỡ chỗ nằm thiếu bóng anh thao thức
Chiếc chăn bông chẳng ấm nỗi đêm dài

                                        (Cho anh)

Đọc Nốt lặng của Ngô Thuý Nga ta thấy một nỗi ưu tư của người thơ trẻ, như thấy cái vô tư buồn của yêu đương lứa đôi mà nhận cho riêng mình nốt lặng cuộc đời. Nốt lặng của Ngô Thuý Nga là cung trầm của đời sống yêu thương với bút pháp dìu dặt và những cái mới của ngôn ngữ, thi ảnh, làm nên một nét riêng của cô. Nốt lặng cũng nên dừng ở đây vì lẽ đời cần nhiều niềm vui và hạnh phúc và biết cất đi nỗi buồn. Có lẽ mai sau đọc Ngô Thuý Nga, tôi hy vọng niềm vui sẽ được nhân lên bởi những nốt son dịu vợi đang chờ phía trước.

NGUYỄN VŨ QUỲNH
Theo NVTPHCM



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

CHẤT LÍNH, HỒN LÍNH TRONG BẤT CHỢT MÙA XUÂN

Tôi và PGS.TS. triết học Lương Minh Cừ thường gặp nhau trong những cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, những buổi bảo vệ luận án tiến sĩ, có lẽ vì thế tôi vẫn nghĩ về anh như một nhà nghiên cứu, nhà giáo. Bất chợt một hôm thấy anh xuất hiện trên truyền hình với tư cách là một nhà thơ, được giải thưởng thơ (tập thơ Chân trời vùng sâu, Hội VHNT Thành phố Hồ Chí Minh, 1976-1977). Tôi háo hức tìm đọc thơ anh.
Nhà thơ Lương Minh Cừ

Bất chợ mùa xuân (NXB Hội Nhà văn 2007) là tập thơ thứ hai của Lương Minh Cừ. Đã hơn 30 năm “giã từ vũ khí”, bàn tay hàng ngày đã quen cầm bút, viết bảng nhưng thơ anh vẫn giữ nguyên chất lính, hồn lính, đúng như Giang Nam nhận xét ngay dòng đầu tiên của Lời giới thiệu: “Hơn một nửa số bài thơ trong tập Bất chợt mùa xuân là những bài nhà thơ Lương Minh Cừ viết về chiến tranh và trong chiến tranh, với tư cách là một người lính cầm súng”. Lương Minh Cừ tự nói về điều này:

“Đồn giặc đã nhòe trong đêm
Bàn tay cầm súng chưa quên bao giờ”

               (Lục bát Tháp Mười)

Chất lính, hồn lính còn được Lương Minh Cừ tô đậm qua hình ảnh của đôi nam nữ trong bộ quân phục dắt tay nhau tự hào và tự tin bước vào trường đại học sau chiến tranh:

“Giặc tan rồi vẫn màu quân phục
         vương hương bưởi, hương cau…
Anh dắt tay em vào trường đại học
Hoa phượng soi đỏ hồng từng khuôn mặt
Anh mãi là đồng đội bên em”

              (Hạnh phúc đầu tiên)

Người lính trong thơ Lương Minh Cừ tung hoành khắp các chiến trường ác liệt, sẵn sàng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (Tố Hữu) mà tâm hồn bay bổng như một thư sinh chưa rời ghế học đường.

Xung trận, “lê tuốt sáng ngời”, người lính chiến vẫn ung dung ngắm trời ngắm đất, ngắm hoa dại nở ven rừng:

“Hoàng hôn - lê tuốt sáng ngời
Xe vào chiến dịch, mây trời chuyển theo
Bụi tung, đỏ mũ tai bèo
Đất chen hoa tím… lưng đèo cờ bay”

      (Ra trận qua đèo Ngang)

Với Khoảng trời địa đạo, Lương Minh Cừ đã tạo cho người đọc một xúc cảm thẩm mĩ dồn nén để rồi vỡ òa với sự trộn lẫn giữa hiện thực và trừu tượng, bóng tối và ánh sáng, hạn hẹp và bao la, âm thanh và tĩnh lặng…

“Khoảng trời địa đạo là khoảng trời tượng hình
Bởi không có mây bay và gió thổi

Bởi ánh sáng mặt trời không thể nào chiếu tới
Đồng đội tìm nhau xuyên suốt khoảng không gian”

“Khoảng không gian thu nhỏ một ước mơ
Dẫu chật hẹp vẫn một vùng vòi vọi
Những nẻo chiến trường ta đi không mỏi
Hội tụ về đây thành sắc đỏ khoảng trời” 

                 (Khoảng trời địa đạo)

Cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của Lương Minh Cừ về địa đạo Củ Chi vừa hiện thực vừa khái quát một cách tinh tế, độc đáo, toát lên tinh thần lạc quan, một niềm tin vững chắc không hề nao núng của người lính tựa lưng vào lòng đất mẹ chống quân thù:

“Người với đất, tựa lưng nhau đánh giặc
Suốt bốn mùa vững chắc ung dung”

                  (Khoảng trời địa đạo)

Trên chiến trường, người chiến sĩ dũng cảm, vững vàng, xông pha bất kể hiểm nguy nhưng trên lĩnh vực tình cảm, tình yêu lại vẩn vơ, lãng đãng, thiếu tự tin:

“Cớ sao em chẳng mời tôi
Miếng trầu,
                em đã têm rồi, ngày xưa?
Tháng giêng
                rét ngọt bụi mưa,
Hoa xoan rơi tím
đường xưa…
xuân giờ”

để rồi trách móc, giận hờn, phân vân tự hỏi, những câu hỏi chỉ để hỏi:

“Vì sao, tôi hỏi vì sao
Mưa xuân,
lại rắc bụi vào hư không”

(Điều tôi chưa hiểu)

Còn một mạch ngầm xuyên suốt Bất chợt mùa xuân, thắm đượm từng câu chữ, đó là một tình yêu quê hương đất nước thiết tha sâu lắng, không có gì to tát, chỉ thoảng mùi hương bưởi, hương chanh; “sắc lúa”, “dát” vào màu trời xanh; tiếng chim ríu rít rung cành; cây gạo “xòe bông đỏ trời” ở ngôi làng nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả:

“Tháng giêng nắng ướt cành đào
Em đi dát sắc lúa vào trời xanh
Vườn xưa hương bưởi, hương chanh
Tiếng chim ríu rít, rung cành còn không
Suốt đời tôi nhớ làng Đông
Đầu làng cây gạo xòe bông đỏ trời”

         (Tôi sinh ra ờ làng Đông)

Nếu có thể phác họa đôi nét về Bất chợt mùa xuân để thâu tóm cái thần thái của nó thì cái sắc lính, hồn lính hòa trộn với tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc; một tình yêu trai tráng, lãng mạn, nồng nàn… và một giọng thơ, điệu thơ trong sáng, đằm mà thắm của Lương Minh Cừ tạo thành một sắc thái riêng cho Bất chợt mùa xuân. Có điều hơi tiếc là đôi bài còn dàn trải, chưa thật sự chắt lọc, cô đúc, tượng hình như Khoảng trời địa đạo. Âu cũng là lẽ thường tình. Không nên quá đòi hỏi đến mức mỗi câu mỗi chữ đều “hàng hàng châu ngọc, lời lời gấm thêu”. Đó là điều xưa nay hiếm.

NGUYỄN VĂN THỨC
_____________________________

Nhà thơ Lương Minh Cừ sinh năm 1952 tại Thái Bình, tốt nghiệp phổ thông đi bộ đội tham gia kháng chiến chống Mỹ ở Nam Bộ, về sau sang làm nghĩa vụ quốc tế ở nước bạn Campuchia trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Năm 1976, Lương Minh Cừ vào đại học, sau khi tốt nghiệp ông tiếp tục làm nghiên cứu sinh, bảo vệ luận án tiến sĩ về triết học. Ông từng là giảng viên các trường Đại học Kinh tế, Đại học Tài chính - Kế toán, Hiệu trưởng Đại học Tài chính - Marketing ở Thành phố Hồ Chí Minh và hiện là Hiệu trưởng Trường đại học dân lập Cửu Long ở Vĩnh Long từ tháng 2 năm 2017. Ông được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo tư và Nhà giáo ưu tú.

Ngoài công tác giáo dục, Lương Minh Cừ còn là nhà thơ sáng tác từ thời chiến tranh.
Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2016.

Tác phẩm đã xuất bản:

Chân trời vùng sâu (thơ), NXB Văn Nghệ 1976
Bất chợt mùa xuân (thơ), NXB Hội Nhà văn 2017
Nụ tầm xuân (thơ), NXB Hội Nhà văn 2015

Giải thưởng văn học:

- Giải thưởng cuộc thi thơ Hội Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh năm 1976 - 1977.

Nguồn: NVTPHCM


Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

CHIỀU MƯA ĐỌC “MỘT NGÀY KHÁC TA” CỦA ĐÀO AN DUYÊN

Một ngày mưa Pleiku. Mưa cả tháng rồi. Chiều lơ đễnh lôi một cuốn sách ra đọc để... giết mưa. Thế mà rồi bị ám ảnh, mà cứ trôi theo những câu thơ của Đào An Duyên trong tập thơ nhỏ tôi vô tình cầm trên tay lúc này: Một ngày khác ta.
Nhà thơ Đào An Duyên

Là bởi thế này, tôi quen cô bé này đã lâu, thấy cô ấy chập chững viết, có đọc và rồi... quên. Chả hiểu sao có hồi Gia Lai có rất nhiều cây bút trẻ xuất hiện, ồn ào có, lặng lẽ có, văn đàn tưng bừng như đây đang chuẩn bị là... trung tâm văn chương. Mà có thế thật, kỳ nào đại biểu được chọn đi dự hội nghị văn trẻ toàn quốc thì Gia Lai cũng chiếm số lượng đông nhất. Nhưng văn chương có những quy luật khắc nghiệt của nó, để những gì còn lại nó là những thứ tinh túy thứ thiệt, còn phù du, còn ảo ảnh, còn bong bóng xà phòng... thì sẽ tan đi dưới mặt trời thôi. Và trong cái náo nhiệt phù du một thưở ấy, Đào An Duyên lặng lẽ đứng bên, an phận một cô giáo dạy văn cấp 2, thi thoảng viết chút, như là một cách nhắc mình có biết... văn chương.

Thế rồi, chả hiểu sao, chỉ mấy năm nay, ào ạt viết. Năm 2016 in tập Ngày đã qua, tập thơ đầu tay và được ngay cái giải khuyến khích của liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, và năm nay ra tiếp Một ngày khác ta, tập thơ khiến ta có thể đọc một mạch không dứt.

Đây là tập thơ nghĩ nhiều. Làm thơ giờ, hoặc là rất hời hợt, hoa lá cành, tâm trạng, buồn vui vu vơ, hoặc là nghĩ như triết gia, cứ toàn lý tính chả thấy cảm xúc đâu. Chả ai cấm, nhất là thời buổi ai cũng mần thơ được, làm thơ trên điện thoại, post trực tiếp lên facebook rồi đủ vài chục bài, cũng in một tập, cũng ì xèo quảng cáo, chả thua gì ai. Đào An Duyên khác, giữ được mạch cảm xúc trữ tình trong trẻo, nhưng vẫn đậm suy tư, vẫn đau đáu với những vấn đề quanh mình, cũng chả hẳn là to tát lắm, nhưng những suy nghĩ trong thơ nó chứng tỏ người viết trưởng thành và có trách nhiệm xã hội, và vì thế mà có sự lan tỏa “Ta  giấu niềm đau vào cỏ/ Cỏ giấu nước mắt vào xanh/ Đi đến ngọn nguồn lau lách/ Đau xưa chưa chỗ giấu mình...” (Với cỏ). “Tháng giêng/ Em vẫn ngồi cạnh những chiều lam khói/ Dòng sông cong vào tháng giêng lưng ong/ Người như chiếc lá vừa nở vào mùa xuân non xanh rừng biếc/ Thương em tự cháy trẻ trai” (Ý nghĩ tháng giêng).
Tập thơ Một ngày khác ta” của Đào An Duyên
         
Cảm xúc cá nhân tất nhiên là hết sức quan trọng của người làm thơ, nhưng nếu không biết tiết chế và “phân bổ” thì nó chỉ đậm đặc cái tôi loanh quanh. Khai thác hết cái tôi được cũng là tốt, nhưng đa phần lại không được thế nên một số tác giả cứ bị cái cảm giác loanh quanh tù túng. Đào An Duyên vượt qua được điều này. Chị có mẹ chia sẻ. Người mẹ quê tần tảo “Con ngủ giấc thị thành mơ bông lúa uốn câu/ Mẹ thắt đáy lưng ong ngồi quạt cho cha mắt ngời hạnh phúc/ Tháng mười về. Dòng sông hiền hòa uốn lượn/ Con soi mình. Soi một giấc mơ xanh” (Mơ giấc trong xanh). Có người cha cựu chiến binh, có vùng quê in đậm tuổi thơ, và có hiện tại. Đây là Pleiku nơi chị đang sống, quen lắm, nhiều người viết lắm, nhưng vẫn riêng, qua chị: “Sương mù ngàn năm trước/ Hẹn dốc ngàn năm sau” (Chiều Pleiku). Cũng như thế, nhiều địa danh khác, nổi tiếng rồi, vào thơ chị vẫn thấy mới, bởi chị chịu khó tìm. Mà cũng không hẳn đã chịu khó, mà cái sự tinh tế, cái sự luôn suy ngẫm, luôn chắt bóp cảm xúc khiến nó... mới “Tựa mình vào dốc vắng/ Chiều gầy như hạc bay/ Chuyện xưa xa vời vợi/ Buồn mãi tận hôm nay” (Với Đà Lạt 3). Giờ nhiều người viết đến đâu là có thơ đấy, cách dễ nhất là... liệt kê địa danh. Thoát ra được điều ấy, tìm ra đặc trưng, bày ra được cảm xúc và phát hiện được hình ảnh mới, ấy mới gọi là thành công.
           
Thơ tình của Đào An Duyên cũng có dấu ấn. Nó không náo nhiệt, cũng không hừng hực. Không cô đơn lạnh lẽo cũng không ân hận trách móc. Nó là trách nhiệm, là chiêm nghiệm, là sự chừng mực nhìn người và nhìn mình, nhưng mà vẫn cứ là thổn thức, vẫn cứ khiến đọc xong ta thấy như... được yêu “Cộng mình vào khuya khoắt/ Thấy thừa ra thật nhiều/ Bàn tay dư dôi thật/ Mãi quờ vào quạnh hiu...” (Cộng). “Em đã đèo cao vực sâu/ Tự vừa vặn mình thác ghềnh đá núi/ Mềm như sông như suối/ Cứng như mầm cây vừa vặn nảy vui buồn/... Em như con bồ câu gù thật nhẹ sợ cả lá rơi/ Để vừa vặn tiếng mưa anh/ Nhưng sao tiếng gù em đau/ Trong tiếng mưa buốt xót” (Vừa vặn em). Cũng có nỗi đau, nhưng nỗi đau như một tiếng thở dài cố nén. Và vì thế mà nó buồn, nỗi buồn đầy chất thơ chứ không lồng lộn hoặc héo quắt “Đừng nhìn mãi cánh cửa ngày đã khép/ Lòng buốt đau. Tiếc một sợi dây gàu/ Em không thấu giếng lòng người thăm thẳm/ Chạm tay vào. Chỉ mùa cũ tươi nguyên./ Tháng mười về lòng như câu thơ bỏ quên/ Câu thơ anh viết ngày chúng mình hạnh phúc/ Câu thơ còn rưng rưng nét mực/ Mà chúng mình xa nhau như mùa ngâu” (Sót lại một chiều ngâu).
           
Đào An Duyên biết sử dụng một cách tài hoa chữ, hình ảnh và tiết chế được cảm xúc để nó nén lại chứ không tãi ra khiến người đọc nhàm. Không phải người viết trẻ nào cũng làm được điều ấy. Chị có nghề và ý thức được việc sử dụng nó để thể hiện trong từng bài thơ nhằm triển khai hết được ý tưởng cũng như cảm xúc của mình, để vừa chặt chẽ mà lại vẫn tung tẩy, không thừa không thiếu. Có những câu thơ rất gợi như ba câu kết của ba khổ thơ trong một bài: “Gầy như sợi tơ vừa non”, “Mùa đông từ đó, một mình”, “Trút hết lá gầy. Mùa đông” (Mùa đông), nó tạo nên một ám ảnh mùa đông rất đặc trưng, rất lan tỏa.

Còn nhiều điều để viết về tập thơ này và cô nhà thơ trẻ này, nhưng tôi nghĩ, cũng như nhiều người khác, đây mới chỉ là những bước đầu. Ngay ở Pleiku này thôi, giờ đây, cũng đã có một số tưng bừng một thưở xếp cánh đâu đó. Đọc câu chữ một thời cứ thấy vang vang giờ như giấy bản gặp mưa Tây Nguyên. Và vì thế mà tôi tin, những lặng lẽ, có phần khép nép, nhưng đầy năng lượng, đầy sáng tạo, đầy đam mê nhưng biết tiết chế của Đào An Duyên sẽ hứa hẹn một cây bút dài hơi của Tây Nguyên, đủ sức đi qua mưa qua nắng Tây Nguyên và cả sự khắc nghiệt sàng lọc của văn chương...

VĂN CÔNG HÙNG
Nguồn Văn nghệ số 34/2018





TỈNH TÁO ĐỂ CẢNH GIÁC VỚI DƯ LUẬN XÃ HỘI

Dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có vai trò rất quan trọng đối với công tác lãnh đạo, quản lý xã hội, góp phần bổ sung, điều chỉnh nhiều chủ trương, quyết sách của Đảng và Nhà nước. Đối với những dư luận tốt, nó sẽ là nguồn cổ vũ, động viên, đồng thời là nhân tố, điều kiện rất quan trọng để các hành vi tốt đẹp này sinh sôi, nảy nở, phát triển.

Dư luận xã hội còn có áp lực rất lớn đối với mọi cá nhân cũng như tổ chức xã hội. Có cá nhân, do lạm dụng quyền lực, tự cho mình đứng trên pháp luật. Sự thông tin kịp thời trên báo chí các vụ việc, biểu hiện tham nhũng, quan liêu, suy thoái đạo đức, lối sống sẽ không chỉ thôi thúc các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các vụ việc, biểu hiện đó, mà còn tạo sức ép của dư luận xã hội đối với các cá nhân có hành vi hoặc ý định tham nhũng, tiêu cực.

Thực tế cho thấy, nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực khó có thể được xử lý nếu không có sự thôi thúc của báo chí và dư luận xã hội.

Người Việt Nam hãy yêu Tổ quốc mình đúng cách, đừng để kẻ xấu lợi dụng.
Tuy nhiên, đất nước ta đang phải đối mặt với rất nhiều những hệ lụy mang lại từ quá trình mở cửa, hội nhập, gây ra nhiều bức xúc trong các tầng lớp nhân dân về các vấn đề: Tranh chấp đất đai, ô nhiễm môi trường, tham nhũng, thất nghiệp, tệ nạn xã hội…

"Dư luận xã hội đang bức xúc" là cụm từ mà chúng ta luôn thấy sử dụng nhiều trên các mặt báo và trên các trang mạng xã hội. Việc quá lạm dụng cụm từ này đã mang đến những hệ lụy và đã tạo ra tâm lý bất an cho xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước luôn dựa vào đó để công kích, chống phá Đảng và Nhà nước, với mục đích gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây bạo loạn lật đổ chế độ.

Các thế lực thực hiện "Diễn biến hòa bình" trên thực tế, từ lâu đã rất coi trọng cách thức đưa vào phần đầu của thông tin các thông tin có sự gần gũi với các quan điểm, suy nghĩ của công chúng, từ đó nâng dần lên, dẫn dắt dần đến các thông tin thiếu trung thực, bóp méo sự thật, lèo lái theo những ý đồ xấu.

Sự phát tán thông tin hỗn độn và sai lệch như thế làm cho nhiều người mất niềm tin vào cả nguồn thông tin, dẫn đến hậu quả là những thông tin tốt đẹp cũng có thể bị loại trừ, tẩy chay theo. Nhờ cách kết cấu thông tin như vậy, họ có thể xóa bỏ "hàng rào tâm lý cự tuyệt" của công chúng đối với thông tin, thông điệp chính của họ trong tài liệu, bài viết. Từ đây đã tạo ra một trong những nguyên nhân làm xuất hiện các điểm nóng, các vụ "phản ứng tập thể" của nhân dân.

Dư luận xã hội thường biểu hiện dưới hình thức những băn khoăn, thắc mắc, ý kiến phản đối, yêu cầu, đòi hỏi bức xúc của nhân dân. Sự nắm bắt dư luận xã hội một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện cho phép chúng ta đi sâu phân tích các nguyên nhân nhận thức và xã hội của mỗi luồng dư luận, trên cơ sở đó có các giải pháp phù hợp để loại bỏ nguy cơ điểm nóng bùng nổ.

Nếu thấy ý kiến, các đòi hỏi, nguyện vọng của công chúng thực sự xuất phát từ sự hiểu biết đúng đắn và lợi ích chính đáng của họ hoặc của quốc gia, dân tộc thì chính quyền phải tiếp thu các ý kiến đóng góp, kịp thời giải quyết, đáp ứng các đòi hỏi, nguyện vọng chính đáng đó.

Nếu kết quả phân tích dư luận xã hội cho thấy dư luận xã hội là sai trái, do công chúng thiếu thông tin hoặc đặt lợi ích cục bộ của mình lên trên lợi ích cộng đồng, quốc gia, dân tộc thì chính quyền phải kịp thời có các giải pháp thông tin, tuyên truyền, cung cấp thông tin đầy đủ để vô hiệu hóa và định hướng dư luận xã hội.

Thành công của công tác thông tin, tuyên truyền thể hiện ở chỗ tạo ra được dư luận xã hội chín chắn, có các thái độ, phán xét đánh giá đúng đắn về các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội... Nếu công tác thông tin, tuyên truyền nói một đằng, dư luận xã hội nói một nẻo thì đó là sự thất bại của công tác thông tin, tuyên truyền.

Thông tin càng gần gũi với sự đánh giá, hiểu biết của công chúng, càng dễ được công chúng tiếp nhận. Thông tin càng khác xa với đánh giá, quan điểm của công chúng, càng dễ bị công chúng phản bác, không tiếp nhận. Tiếng nói của người dân, của xã hội luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm ghi nhận, đây là nguồn thông tin có vai trò rất quan trọng đối với việc quyết định của các cơ quan lãnh đạo, quản lý xã hội.

Để có được những quyết định đúng đắn, các cơ quan lãnh đạo, quản lý cần nắm chắc được tâm trạng, suy nghĩ, nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Xã hội càng phát triển thì nhân tố "lòng dân" càng quan trọng.

Trong khi các cơ quan chức năng đang tiếp tục hoàn chỉnh luật pháp để quản lý chặt chẽ hơn, đẩy lùi các thông tin xuyên tạc bịa đặt, thông tin "xấu, độc", mỗi công dân không nên hùa theo những quan điểm mang tính trào lưu, cần phải tỉnh táo, cần biết "gạn đục khơi trong", nhận rõ tính hai mặt của dư luận xã hội, cảnh giác với những thông tin xấu độc, không  chia sẻ bừa bãi trên mạng xã hội một cách vô trách nhiệm, tránh tình trạng vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá, có các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hoá, thậm chí vi phạm pháp luật.

MINH TRIẾT
Nguồn: VNCA



Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

DẤU ẤN DÂN GIAN TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA PHAN THỊ THANH NHÀN

Là một trong những cây bút trưởng thành giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ là người có duyên thầm trong thơ mà còn có duyên kể chuyện, đặc biệt là những câu chuyện dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Bà đã ghi dấu trên chặng đường văn học thời kì Đổi mới với những tác phẩm như: Bỏ trốn, Đứa bé mất cha, Xóm đê ngày ấy, Tuổi trăng rằm, Học trò lớp 9.
Nhà văn Phan Thị Thanh Nhàn

Một trong những yếu tố tạo nên phong cách riêng của truyện thiếu nhi Phan Thị Thanh Nhàn là sự tiếp biến văn hóa dân gian trong sáng tác của bà. Những chất liệu dân gian được tác giả khai thác, chắt lọc, làm mới để đưa vào sáng tác của mình một cách khéo léo, tạo hiệu ứng tối đa, tác phẩm nhờ đó “sáng” lên lấp lánh, vừa gần gũi mà cũng vừa mới lạ, vừa cách tân hiện đại nhưng cũng vừa dân dã truyền thống.

1. Cuộc sống vốn vô cùng phong phú đa dạng và khả năng kì diệu của văn chương là phản ánh, tái tạo hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ. Song phạm vi đề tài được phản ánh sẽ giới hạn theo từng khả năng cũng như sự tâm đắc khi lựa chọn của mỗi nhà văn. Nói cách khác là mỗi đề tài trong tác phẩm đều ít nhiều mang dấu ấn phông nền văn hóa của tác giả. Lựa chọn viết cho thiếu nhi, Phan Thị Thanh Nhàn đã để lại dấu ấn trong lòng độc giả bởi những câu chuyện giản dị mà lôi cuốn qua từng biến động của cuộc đời nhân vật trên từng trang sách. Với năm tác phẩm dành cho thiếu nhi, chúng ta không khó để nhận ra hành trình sáng tạo của nhà văn chính là hành trình trở về với cội nguồn văn hóa, văn học dân gian. Hình ảnh những em bé mồ côi chịu thương chịu khó, chăm ngoan và hiếu thuận, những em bé thông minh, những người bà nhân hậu và giàu đức hi sinh… trong những câu chuyện cổ tích, truyện cười mãi là hình ảnh đẹp với bất kì ai và nó thực sự là nguồn cảm hứng, là sự ám ảnh không nguôi đối với những người cầm bút. Viết cho thiếu nhi, Phan Thị Thanh Nhàn cũng xây dựng cho tác phẩm của mình một hệ thống nhân vật trẻ em mang dáng dấp những số phận và tính cách của những nhân vật trẻ em trong cổ tích. Đó là Thi mồ côi mẹ, bố đi lấy vợ khác; là Nụ mất mẹ bởi bom đạn của chiến tranh; là Côi không biết bố mẹ ruột của mình là ai; là Thu, Vương, Hiên, Hoa, Thái, Luân… dù còn cha còn mẹ nhưng cũng chẳng khác gì mồ côi bởi sự tan vỡ của gia đình...; điểm chung của các em là luôn khao khát một mái ấm gia đình, được che chở và yêu thương. Đó còn là những em bé luôn chăm ngoan học giỏi, và dù cuộc đời với những biến cố đã xô đẩy các em vấp ngã thì cuối cùng các em vẫn vươn lên, hướng về những giá trị nhân văn để tự hoàn thiện tâm hồn mình. Những câu chuyện của Phan Thị Thanh Nhàn còn tạo nên sự thú vị cho bạn đọc bởi những tình tiết vui nhộn xoay quanh sự nghịch ngợm, lém lỉnh của các em - những cô bé cậu bé thông minh như trong cổ tích, trong truyện cười dân gian. Là sự dũng cảm của Gái trong Xóm đê ngày ấy khi một mình vật lộn với vợ chồng kẻ gian để lấy lại tài sản cho mẹ bạn. Là sự thông minh, mưu trí của nhóm bạn Nghĩa, Vương, Loan với hành trình tìm cách bảo vệ và giải cứu bạn trong Học trò lớp 9

Khi viết về đề tài thiếu nhi, khắc họa những nhân vật với những số phận, những biến cố, trắc trở, và tạo dựng cái kết cho từng tác phẩm, ngoài sự ảnh hưởng từ nền văn hóa, văn học dân gian, phải chăng còn là do những gì mà cuộc đời của bà đã từng nếm trải. Tác giả Phan Thị Thanh Nhàn từng tâm sự: “Tôi đã quan sát, ghi chép và cặm cụi ngồi viết lại những gì tôi cảm nhận, suy tư và xót thương số phận của những trẻ em không may mắn”. Ngoài ra, trong sáng tác của Phan Thị Thanh Nhàn, những phong tục, tập quán dân gian hiện lên sinh động, chân thực. Trong Xóm đê ngày ấy, tác giả đặc biệt tỉ mỉ tả cảnh hầu đồng tại nhà của bà đồng Toàn: “Trên chiếc chiếu hoa trải dưới chân điện thờ, bà đồng Toàn chân đi giày vải thêu hoa, tay cầm quạt lụa, nhún nhảy hết sang phải lại sang trái ra bộ đang chèo đò”. Hay phong tục tang ma cũng được nhắc đến trong Bỏ trốn khi mẹ và bà cái Thi mất: “Mùi hương nến ảm đạm. Trong nhà có bàn thờ, hình mẹ nó treo ở trên, xung quanh mờ mịt khói nhang cùng hoa quả”.

2. Phan Thị Thanh Nhàn khéo léo xây dựng những hình tượng nhân vật có những phẩm chất tốt đẹp là kết tinh những giá trị tâm hồn người Việt. Đó là bà ngoại của cái Thi trong Bỏ trốn, khiến chúng ta liên tưởng đến người bà trong truyện cổ tích Bà cháu, là hiện thân của sự bao dung, nhân hậu, giàu lòng vị tha. Bà chắt chiu, yêu thương và hết mực lo lắng cho đứa cháu côi cút. Đến lúc sắp lìa đời, nỗi bận tâm duy nhất của bà vẫn là đứa cháu bé bỏng gặp nhiều bất hạnh. Bà của Hiên trong Đứa bé mất cha cũng thế, ở tuổi xế chiều, trước sự tan vỡ gia đình của con trai, điều bà lo lắng chính là đứa cháu trai đang phải đối mặt với cú sốc quá lớn. Bà của Nụ trong Tuổi trăng rằm dù chỉ được nhắc đến với vài câu văn ít ỏi trong toàn bộ tác phẩm nhưng vẫn có thể làm nhói lòng người đọc bởi những dằn vặt về nỗi đau mất cháu đã nhiều năm. Dường như trong những trang viết của Phan Thị Thanh Nhàn, hình ảnh người bà là hiện thân của những người bà trong cổ tích bước ra để yêu thương những đứa cháu của mình cho đến hết cuộc đời.

Trong Học trò lớp 9, bố của Nghĩa là người cha hết mực thương con (“Con tôi không được bình thường. Nên tôi thương nó hơn thương chính mình”) và cũng rất yêu vợ (“Vợ tôi phải cái nói nhiều. Nhưng mà vẫn cứ… đáng yêu như thường”). Mẹ của Nghĩa là người đàn bà yêu chồng yêu con, dù nghèo nhưng giàu lòng tự trọng (“Bà dù nghèo nhưng quyết không tiêu tiền của người khác”). Bố mẹ Nghĩa như là một minh chứng cho những câu tục ngữ “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Đói cho sạch rách cho thơm”, như là kết tinh giá trị tốt đẹp của tâm hồn Việt. Chính những giá trị ấy quyện vào trang viết của Phan Thị Thanh Nhàn, một lần nữa tỏa sáng và có sức cảm hóa mạnh mẽ, vì thế mà khi đọc truyện của bà, người đọc, đặc biệt là bạn đọc nhỏ tuổi không có cảm giác mình bị “dạy dỗ” về bài học làm người, về đạo lí tốt đẹp của dân tộc một cách cứng nhắc, giáo điều. Người đọc như được hóa thân vào nhân vật để tự cảm, tự thấm những giá trị nhân văn ấy nhằm dần hoàn thiện nhân cách.

3. Khảo sát những trang viết của Phan Thị Thanh Nhàn dành cho thiếu nhi, kết quả đáng ngạc nhiên là những chất liệu dân gian với những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca, vè, câu đố… được tác giả lồng vào trong tác phẩm của mình một cách vừa vặn, phát huy hiệu ứng thẩm mĩ của nó, làm tăng giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Có những câu tục ngữ, những thành ngữ được sử dụng nguyên văn như “Con gái cái bòn”,  “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”, “Đói ăn vụng túng làm càn” (Bỏ trốn); “Con gà tốt mã vì lông”, “Nhường cơm sẻ áo”, “Nem công chả phượng” (Xóm đê ngày ấy). Có những câu ca dao, bài vè được lồng vào truyện như trong các tác phẩm Bỏ trốn, Xóm đê ngày ấy và Đứa bé mất cha. Câu đố và cách chơi chữ, vận dụng ca dao cũng xuất hiện trong tác phẩm của Phan Thị Thanh Nhàn khá nhiều: “Qua cửa sổ/ Đến cửa sắt/ Phơi chiếc tã/ Mãi không khô/ Là cái gì?” (Bỏ trốn); “Mặt Đường bẩn quá Đường ơi!” (Tuổi trăng rằm). Phan Thị Thanh Nhàn sử dụng chất liệu dân gian phù hợp với hoàn cảnh, tính cách của nhân vật. Ví như bà cái Thi bảo: “Đói ăn vụng túng làm càn”, câu nói đó phải là của một người bà giàu lòng bao dung và trải đời. Và những câu như “Con gái cái bòn”, “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng” cứ phải đặt vào miệng người chị dâu ích kỉ luôn khắc nghiệt với em chồng thì mới phát huy hết sức nặng của nó. Tương tự, những câu đố, câu vè, những câu thơ mang âm hưởng đồng dao và cách chơi chữ lại phù hợp với lứa tuổi hiếu động thích khám phá thế giới. Chính vì chất liệu dân gian được sử dụng với dung lượng vừa phải đan xen vào tình tiết cốt truyện một cách hợp lí, đúng hoàn cảnh, đúng đối tượng như thế nên đã phát huy giá trị của nó trong việc góp phần khắc họa tính cách tâm hồn nhân vật. Giọng điệu tác phẩm vì thế cũng gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày, không tạo cảm giác xa lạ, hàn lâm đối với lứa tuổi thiếu nhi. Những bài học nhân sinh từ tác phẩm nhờ thế mà thấm dần vào tâm hồn trẻ thơ một cách tự nhiên, không gượng ép.
*
*    *

Có thể nói, đưa chất liệu dân gian vào những trang viết dành cho thiếu nhi là cách để Phan Thị Thanh Nhàn góp phần đưa bạn đọc nhỏ tuổi trở về với cội nguồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Dấu ấn dân gian trong truyện thiếu nhi của bà tạo nên thế giới nghệ thuật mang điệu hồn dân tộc, làm nên bản sắc riêng cho mảng đề tài truyện viết cho thiếu nhi của bà. Năm tác phẩm dành cho thiếu nhi, con số chưa nhiều lắm nhưng cũng đủ để ghi dấu cho một phong cách với những trang văn chân thực, trong sáng, nhân văn và mang đậm phong vị dân gian của Phan Thị Thanh Nhàn.

MỘC MIÊN
Nguồn: VNQĐ

Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều