Thứ Năm, 13 tháng 6, 2019

LY HOÀNG LY NGƯỜI GỌI HỒN CHO ĐÊM

Tôi cứ bị ám ảnh hoài mỗi khi nghe câu hát "Người đàn bà dấu đêm vào trong tóc" trong bài Khúc mùa thu của nhạc sĩ Phú Quang phổ thơ Hồng Thanh Quang. Lời hát ấy gợi cho ta nhận ra nỗi cô đơn và đau khổ tột cùng của thân phận người phụ nữ mà đại thi hào Nguyễn Du đã xa xót thốt lên trong tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng của mình:
   
Đau đớn thay phận đàn bà
  
Nỗi ám ảnh nầy đã làm tôi giật mình khi nhận ra sự ám ảnh đêm trong thơ Ly Hoàng Ly mà nếu làm một phép thống kê đơn giản ta cũng nhận biết được điều ấy.
Nhà thơ Ly Hoàng Ly

Trong tập thơ Cỏ Trắng của Ly Hoàng Ly (xuất bản 1999), nếu tính những bài thơ  có sử dụng từ đêm thì có 14/38 bài chiếm tỉ lệ 36,8%. Đó là các bài: Tiếng đàn đêm, Đi tàu đêm, Hát đêm, Ngựa đêm Bắc Hà, Đêm mùa xuân tình duyên, Mưa hát, Sợ, Khắc hoạ, lời cuối đông, Gọi duyên, Chỉ là tình yêu, Hồng tro, Giấc mơ, Lời thì thầm cho anh.
    
Tỉ lệ ấy được tăng dần trong tập thơ Lô Lô (xuất bản 2005) với các bài thơ có sử dụng từ đêm là 27/38 bài chiếm tỷ lệ 71,05%. Đó là các bài: Chiều im im, Đêm chảy lên trời, Mỏng mòng mong, Đêm là của chúng mình, Sóng đêm, Ngoặc đơn trong đêm, Đêm và anh, Mở nút đêm, Lụt đêm, Đêm trong vườn, Đêm về đi để sáng, Khúc đêm, Nửa đêm, Trầm cảm, Discotheque, Tôi muốn, Mobile phone, Lô Lô, Gáy, Cắt, Tranh Trinh Lê, Người trong tranh, Người đàn bà và căn nhà cổ, Thuật ướp xác, Ăn xin hạnh phúc, Performance photo.
  
Thật vậy, chỉ nhìn vào những thông số nêu trên, ta có thể cảm nhận được hình tượng đêm xuất hiện trong thơ Ly như một tín hiệu thẫm mỹ. Đêm đã trở thành một thế giới nghệ thuật chứa đựng trong đó tâm cảm, mỹ cảm, những dự phóng của nhà thơ. Hay nói một cách siêu thực chính Ly là người gọi hồn cho đêm.
    
Đêm trong thơ Ly không còn là thời gian vật lý mà đã biến thành một dòng ý thức. Đó là một thực thể linh động luôn gắn với một quan niệm về nhân sinh, về cái đẹp. Chính điều này đã tạo nên nét riêng trong thi pháp thơ Ly.
   
Tôi chưa làm một thống kê đầy đủ để biết trong thơ đương đại Việt Nam có nhà thơ nữ nào sử dụng từ đêm trong thơ nhiều như Ly. Khảo sát qua một số tập thơ của các nhà thơ nữ đương thời với Ly như Quá Giang của Đoàn Ngọc Thu, Rỗng ngực của Phan Huyền Thư, Giữ VB của Phan Thị Vàng Anh và 3 tập thơ Khát, Linh và Đồng Tử của Vy Thuỳ Linh, tôi thấy chưa có nhà thơ nào dùng từ đêm trong thơ mình với tần số xuất hiện cao như trong thơ Ly. Chẳng hạn ở tập thơ Giữ VB của Phan Thị Vàng Anh có 5/ 21 bài thơ sử dụng từ đêm (tỷ lệ 23,8%). Đoàn Ngọc Thu trong Quá Giang có 9/38 bài có sử dụng từ đêm (tỷ lệ 23,7%). Phan Huyền Thư ở Rỗng Ngực có 9/24 bài có dùng từ đêm (tỷ lệ 37,5%)Còn Vy Thuỳ Linh ở ba tập thơ KhátLinhĐồng Tử có 52/156 bài thơ có sử dụng từ đêm (tỷ lệ 33,3%). Vì vậy, có thể khẳng định đêm trong thơ Ly đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật mang tính quan niệm. Đêm trong thơ Ly là đêm của tiếng gọi tâm linh, một tâm linh cựa quậy, sinh động trong hành trình đi tìm bản thể của chính mình. Đó là đêm của tiếng đàn "nhẹ khuấy không gian" tan chảy vào tâm hồn tạo thành một cộng hưởng sâu sắc làm cho thi nhân không còn cảm giác mình đang hiện tồn mà đã tan chảy trong vũ trụ đêm.

       Màn đêm dang tay
       Ôm tiếng đàn vào lòng
         ...
        Không hiểu
        ta đang bay trong tiếng đàn
        hay tiếng đàn đang lơ lửng
        trong ta...
                  (Tiếng đàn đêm)
     
Đêm không chỉ có tiếng đàn mà còn có tiếng hát. Nhưng không phải tiếng hát của Người mà tiếng hát của Mưa. "Mưa hát", mà lại hát trong đêm là một liên tưởng thú vị và bất ngờ. Tiếng hát của mưa  đã tạo hồn cho đêm, làm cho đêm thêm lung linh, huyền ảo.

                        Trời về đêm
                        Khi trời về đêm
                        Mưa đuổi nhau,
                        Mưa hát
                             (Mưa hát)
    
Nhưng không dừng lại ở đó, với cảm quan tinh tế của một nữ thi sĩ, tác giả không chỉ lắng nghe thanh âm của đêm qua tiếng "Mưa hát" mà còn cảm nhận được cái "Mùi đêm" lẫn vào mùi hoa Ngọc lan, lẫn vào trong mưa toả trong không gian đêm đầy quyến rũ.

                Mùi ngọc lan lẫn vào mùi đêm
                Lẫn vào trong mưa
                Lẫn vào trong tôi
                Đuổi nhau,
                Hát
                    (Mưa hát)
 
Và như vậy, đêm đã trở thành một sinh thể. Đêm không chỉ biết hát, đàn, mà có cả mùi, có cả "màu đêm" với:

          Những con ngựa đêm hí bạt gió
           vọng màu đêm Bắc Hà
 
Hình như lúc nầy ta không còn thấy sự cách biệt giữa con người và thiên nhiên. Ý niệm về một Thiên  Nhân hợp nhất trong triết học Đông phương được minh định ở đây rất rõ ràng và sâu sắc. Tôi lẫn vào trong MưaMưa lẫn trong Tôi. Cả Tôi và Mưa lẫn vào trong tiếng hát, trong mùi hoa Ngọc Lan và mùi của Đêm... Tất cả tạo thành một giao hưởng đêm đầy hư thực, bay lên cùng sao trời để:

      Nghe mưa hát suốt đêm
                         (Mưa hát)
    
Màu đêm trong thơ Ly không chỉ là màu của không gian đêm tỉnh lặng trong hạnh phúc, an lành mà đó còn là màu của một không gian rần rật vỡ đêm với những âm thanh sôi động vang vọng từ những cuộc đời đầy gian lao vất vả của cuộc mưu sinh mà hình ảnh đoàn ngựa thồ là chứng nhân của biết bao nỗi buồn trong những lo toan cơm áo...

         Đoàn ngựa thồ gõ vó đường núi âm âm
         Tiếng hát rần rật vỡ đêm
          Vỡ lòng...
           ...
           Ngựa ơi ta hiểu sao mắt mi buồn hơn màu đêm xứ Bắc
                                      (Ngựa đêm Bắc Hà)
    
Trong thơ Ly đêm đã trở thành thế giới của tâm thức. Nên đêm không chỉ là hiện thân của những nỗi đau trần thế mà còn là nơi trở về của bản thể. Sau những ồn ào của cuộc sống, đêm như một cái phểu thanh lọc tâm hồn, một thứ "Sóng đêm" phản tỉnh của tâm linh để con người nhận ra chính mình.

                        Những hỗn loạn của ban ngày
                                       Đêm không bắt được
                        Những nỗi lòng như sông uẩn khúc
                                       Chỉ chảy được về đêm
                                                    (Sóng đêm)
 
Nhưng kết tinh tiếng gọi hồn của đêm trong thơ Ly chính là đêm miên viễn của tình yêu đôi lứa. Đêm tình yêu trong thơ Ly như một "cây đàn muôn điệu" với nhiều cung bậc thanh âm khác nhau. Đó là đêm của sự gắn bó ái ân nồng nàn đến cuồng nhiệt của người phụ nữ với một ý thức rất cao về nữ quyền
            Đêm là của chúng mình
            Tình yêu thắp sáng đêm
            Đêm là của chúng mình
            Sao nở ngủ
            hở anh.
                (Đêm là của chúng mình)
  
"Đêm là của chúng mình / sao nỡ ngủ hở anh". Câu thơ như một tuyên ngôn hiện sinh cháy bỏng khao khát yêu đương của người phụ nữ. Điều ấy có thể "gây sốc" với những phụ nữ chịu ảnh hưởng sâu nặng của quan niệm đạo đức truyền thống nhuốm màu sắc nho gia. Nhưng lại phù hợp với những người phụ nữ hiện đại khi họ luôn ý thức rằng người phụ nữ vẫn có quyền được yêu và được thụ hưởng tất cả những giá trị của tình yêu, kể cả những giá trị về phương diện nhục cảm mà đã có thời được xem như một điều cấm kỵ trong cuộc sống lẫn trong văn học. Điều mà Vi Thuỳ Linh đã xác quyết trong thơ:

                 Khu vườn ắng lại chỉ còn Anh và em
                 Khởi đầu phận sự thiêng liêng
                 Những cặp chân khoá chặt nhau khước từ chân lý
                                         (Anh sẽ ru em ngủ- Đồng Tử)
  
Đó cũng là cảm thức trong thơ Đoàn Ngọc Thu:

           Thôi,
            Em sẽ làm tình cùng trăng, cùng gió và cả mặt trời
            Đêm cong mình lên và trăng mềm phủ sáng
                                              (Yêu II - Quá Giang )
   
Vì vậy đêm trong thơ Ly là đêm của một không thời gian tâm lý, là đêm của hiện hữu chất chứa trong đó sự thăng hoa của tình yêu với những khát vọng thành thực.

             Chiều
             im im và sạch sẽ
             Ngồi trong phòng tắm
             im im chờ đêm lên
                   (Chiều im im)
  
Mong chờ đêm lên không chỉ hiện hữu trong thực tại mà còn chảy tràn vào trong cả giấc mơ, trong tâm thức của người con gái tạo nên những rung cảm mãnh liệt.
               Đêm về
               Những sợi trong suốt ngân lên
               Tôi rung mình bay bổng
                                    (Giấc mơ)
   
Vì đêm vừa thực lại vừa ảo, vừa hiện hữu lại vừa hư vô. Và có khi đêm đã vượt thoát khỏi sự dẫn dụ của con người để "chảy lên trời" làm "buốt óc tôi" làm "tóc rơi nghẹt sông", "Máu tuột khỏi tim" "Đáy sông khô cạn". Bài thơ Đêm chảy lên trời thể hiện sự liên tưởng phong phú, giàu cá tính sáng tạo với những hình ảnh gợi cảm, gợi hứng, gợi tình... Đó là đêm của những cuồng vọng yêu đương ngây ngất đầy bản năng nhưng không tầm thường mà trái lại rất nhân văn thể hiện một vẻ đẹp thánh thiện.

         Tôi khát nước
          Ngửa mặt lên trời hút đêm vào miệng
          lênh láng trời đen
          Nhảy xuống lòng sông
          Nằm chờ đêm ngập
          Mặt trời nằm ốp la trên đất
          Thiên thần mút lòng đỏ bằng đầu cánh mỏng
                             Thản nhiên nhìn
                                            đêm chảy
                                                    chảy lên
                                                          tôi...
                                                            (Đêm chảy lên trời)
  
Nhưng đâu phải lúc nào con người cũng mạnh mẽ và dồn nén khát dục như thế!? Bởi dục vọng của con người thì vô hạn mà năng lượng chắp cánh cho những dục vọng ấy lại vô cùng hữu hạn. Cho nên, nhiều khi con người cảm thấy bất lực trước những khát thèm trong đời sống. Đó chính là bi kịch của phận người. Ly đã nhìn thấy rõ tấn bi kịch nầy và thể hiện điều ấy thật tinh tế với một sự đồng cảm sâu sắc. Đây chính là căn tính tạo nên giá trị nhân bản trong thơ Ly:
      
                       Mở mãi, muốn mở mãi
                        Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm.
                        Mở mãi, muốn mở mãi
                        Bầu ngực này căng đêm
                        Soi vào gương
                        bất lực và khóc
                        Trong vô vàn những giọt nước mắt
                        Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng.
                                                              (Mở nút đêm)
           
Cho dẫu là thiên tài chăng nữa, đã là con người, chúng ta luôn đứng trước những giới hạn. Vì vậy, sự bất lực của con người trước những khát / tham / dục vọng của chính mình cũng là điều tất yếu. Chúng ta cần nhận ra sự giới hạn này để biết chế ngự và biết làm chủ bản ngã / năng của mình. Người con gái trong thơ Ly tuy chứa đầy dục vọng đến cuồng nhiệt, nhiều khi muốn đốt cháy mình trong những đam mê nhục cảm. Nhưng họ không bao giờ tự buông thả mình dù là trong đêm, vì đêm thường đồng loã với "tội lỗi". Ngược lại, ta vẫn thấy một sự phát sáng từ trong tâm hồn của họ rực rỡ trong "màu đêm", "mùi đêm", "bóng đêm". Phía ấy cũng là một phần thanh âm tiếng gọi hồn của đêm trong thơ Ly với những âm vang đồng vọng thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nguời phụ nữ. Đó là nỗi lo sợ hồn nhiên, đầy nữ tính của người con gái khi đối diện với người mình yêu trong đêm lặng lẽ. Bởi vì:

                        Em sợ phải khờ dại
                        Sợ tan trong mắt anh
                                         (Sợ)
   
Rõ ràng đêm ở đây chính là tâm trạng của người con gái vừa sợ đánh mất mình trong tình yêu nhưng cũng sợ mất tình yêu trong anh. Tâm trạng này tuy mâu thuẫn nhưng lại rất thành thực. Tình yêu bao giờ cũng là hiện thân của sự tận hiến nhưng không bao giờ đồng loã với sự buông thả. Vẻ đẹp của tình yêu bao giờ cũng đồng hành với những khát vọng kiếm tìm. Cái ranh giới mong manh ấy đòi hỏi ở con người một sự đốn ngộ, một nghị lực để vượt thoát trước những cám dỗ của bản năng. Bởi lẽ nếu không tỉnh táo thì sẽ rơi vào bi kịch và lúc đó:

          Soi vào gương thấy đêm hốc hác
           biết mình đã bị bẫy vào đêm
                                       (Lô Lô)
  Bởi vì:

            Đêm trước mặt là thực
            Đêm ngoài kia là ảo ảnh.
                         (Lô Lô)
    
Đêm ngoài kia là ảo ảnh hay đời ngoài kia cũng chỉ là ảo ảnh. Nhận thức được điều này nên đêm trong thơ Ly không chỉ có những yêu đương cháy bỏng, những khát vọng cuồng si mà đêm còn là tiếng gọi thẳm sâu trong tâm thức trước những nỗi cô đơn chất ngất của phận người mà khi đọc lên lời thơ đã làm ta nhói buốt tận tâm hồn.

             Đêm giật mình thức giấc
             Không thấy anh bên cạnh
             Không hiểu sao lòng bàn tay đầy nước
             Đêm rót lên mình những giọt lạnh
                         (Nửa đêm)
 
Bởi lẽ, trong tình yêu bao giờ người con gái cũng gánh chịu những thiệt thòi, những mất mát, hy sinh nhiều khi như là sự lựa chọn của định mệnh:

        Em không biết đến tình yêu nồng nàn
        Rượu tình yêu có say những đêm không anh
                          Người phụ nữ tự trói mình
                           Bằng sự dửng dưng của anh
                                           (Trầm cảm)

Và đêm bây giờ chỉ là sự hoài niệm trong trống vắng, đơn côi với những nhớ thương, tiếc nuối mà người con gái chỉ biết thì thầm gởi cho đêm như một tiếng gọi hồn:

               Anh đã đi rồi hồng ơi sao màu tro
               Hồn tro ủ  lửa cho đêm,
               Hay cho anh?
               Vằng trăng kia lạnh lắm!
                ......
                Từng đêm
                 Hồn tro âm âm
                                  Âm âm
                                       Âm âm
                                           (Hồng Tro)
    
Đêm luôn gắn với những hoài niệm, những khát vọng, trong kí ức thi nhân như một vô thức trong sáng tạo nên đã trở thành một căn tố trong thi pháp của thơ Ly. Vì vậy, đêm trong thơ Ly không còn là đêm của không thời gian vũ trụ mà đã trở thành một mã văn hoá, mã thẩm mỹ trong thế giới nghệ thuật thơ của Ly. Nó là sự kết tình những vui buồn, hờn giận, yêu thương, được mất, những hạnh phúc, khổ đau mà Ly đã trải nghiệm trong đời. Đó cũng là tâm thức bao trùm lên hành trình sáng tạo nghệ thuật của Ly. Giải mã được hình tượng đêm trong thơ Ly chúng ta sẽ chạm đến mã văn hoá, mã thẩm mỹ trong thơ Ly, từ đó mới mong giải mã được thế giới nghệ thuật thơ của Ly.
   
Bùi Giáng cho rằng: "cõi thơ là cõi bồng phiêu" đi vào cõi thơ là đi vào một thế giới mà ở đó mọi hiện thực đều chông chênh, huyễn hoặc. Hiện thực trong thơ bao giờ cũng là hiện thực tâm trạng. Nó không chỉ có hiện thực bên ngoài mà còn là hiện thực bên trong, là ảo ảnh của hiện thực. Hiện thực ấy hiện hữu trong thơ Ly như những mảnh vỡ của tâm hồn thi sĩ mà ở đó đêm đã trở thành một ẩn dụ của tâm linh.

Cắt đêm ra từng mảnh nhỏ
Rồi khâu đêm lại  bằng tóc
Cho đến khi đầu trọc
Cắt ta ra từng mảnh nhỏ,
Rồi khâu ta bằng hết đêm này đến đêm khác
Cho đến khi trắng hếu đêm
                          (Cắt)
 
Có một Thiền sư đã từng nói đại ý: Sáng hôm nay trước ngàn đạo quân tôi không biết sợ nhưng đêm nay tôi sợ chính mình. Thật vậy, khi đối diện với đêm là lúc con người đối diện với chính mình. Vì vậy đêm trong thơ Ly chính là một mảnh hiện thực của tâm linh, nhưng không phải là một thứ tâm linh mang tính siêu hình mà đó là thứ tâm linh thể hiện một chiều kích khác của hiện thực đời sống. Đó là một cõi hiện thực đầy ảo diệu mà thơ cần khám phá.
 
Lâu nay, có người cạn nghĩ cho rằng thơ là tấm gương phản ánh hiện thực nhưng đó chỉ là hiện thực trần trụi ở đời, mà người ta quên rằng thơ lại có một hiện thực khác đó là hiện thực của tâm linh, hiện thực của cõi mơ, của vô thức. Và đó cũng là thế giới của thơ. Vì "Thơ cũng huyền diệu như trời" (Charles Henriford). Thơ đi từ cõi thực đến cõi mộng và ngược lại từ cõi mộng thơ lại về với cuộc đời thực. Hành trình của thơ cũng là hành trình của huyền thoại và cổ tích. Và đêm trong thơ Ly là một bản giao hưởng vang lên những tiếng gọi hồn như một sự ám ảnh của tâm linh không chỉ trong vô thức mà cả trong tiềm thức và ý thức của thi nhân.

                        Không muốn đêm cũng thấy đêm
                        Không muốn đêm cũng có đêm
                        Trên đầu là đêm
                        Dưới chân cũng là đêm
                                                  (Khúc đêm)
                     .......
                        Quay lưng lại là đêm (5 lần)
                        Chỉ thấy đêm khi tâm thấy đêm (3 lần )
                        Phía trước mặt là đêm (4 lần)
 
Có khi nào ta rơi vào cảm giác đầy ma mị ấy ta sẽ cảm nhận sâu sắc về tiếng gọi hồn trong đêm của thơ Ly đồng vọng trong ta như thế nào?! Và khi ấy, biết đâu trong một sát na nào đó của hiện hữu ta bắt gặp bản thể của mình mà ngày thường ta đã đánh mất nó, chối bỏ nó, chạy trốn nó trong cuộc sống trần thế vốn quá nhiều bụi bặm và bất an này. Và trong cõi thẳm sâu của tâm linh có khi ta lại nghe vang vọng tiếng gọi hồn của chính ta từ trong cõi u mê. Và khi đó, cũng như Ly ta bỗng "giật mình" để rồi:

                        Nhắm mắt
                        Trùm kín chăn
                        Nghe đêm cuộn quanh mình
                                     (Khúc đêm)

            Khi thức dậy
            Thượng đế nhìn con Kiến
            Phiến Cẩm thạch thấy Người
            Con Kiến thấy đêm
                (Danh ngôn - Rỗng NgựcPhan Huyền Thư)

TRẦN HOÀI ANH
Nguồn: NVTPHCM

Câu chuyện văn hoá khác:




Thứ Hai, 10 tháng 6, 2019

NHÀ THƠ NGUYÊN SA VÀ SỰ THAY ĐỔI CẢM NHẬN THI CA VIỆT NAM

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại.

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung 
Bày vội vã vào trong hồn mở cửa

…..

Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng”

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại, thơ Nguyên Sa đã góp phần làm bản hòa tấu đa âm của thi ca Việt Nam thêm những rung động lạ lẫm cuốn hút người đọc mà Thơ Mới tỏ ra không còn đủ sức hấp dẫn như lúc khởi đầu.
Nhà thơ Nguyên Sa

Thơ Nguyên Sa nhanh chóng tràn vào từng lớp học, nơi trái tim học trò đập những nhịp điệu đầu tiên của tình yêu. Nguyên Sa yêu và chia sẻ cách yêu của mình qua kinh nghiệm một chàng trai có những thời khắc tuyệt vời tại Pháp, thủ đô của tình yêu trai gái, thủ đô của những giòng thơ trác tuyệt từng một thời là bệ phóng cho hàng trăm thi tài thế giới.

Nguyên Sa đem cái hồn phách của Châu Âu tái sinh sau khi thế chiến thứ II chấm dứt về Sài Gòn và nhanh chóng chiếm trọn sự cổ vũ nồng nhiệt của sinh viên học sinh. Ông đem ánh đèn vàng Paris nơi có những nhà ga là nguồn cảm hứng vô tận cho những cuộc chia tay. Ông mang theo hơi hám của sông Seine của nhà thờ Notre Dame về lại Sài Gòn nơi mà nhiều thế hệ thanh niên chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp.

Về tới Sài Gòn ông lại hỏi thăm Paris. “Paris có gì lạ không em?” Hỏi nhưng ông biết Paris vẫn thế, vẫn những quán café nho nhỏ xinh xinh trên đường phố Montmartre thuộc quận 18 của Paris. Vẫn giòng sông Seine cuốn hút gợi tình. Câu hỏi của Nguyên Sa về Paris đã làm thanh niên học sinh Sài Gòn thổn thức như chính họ đã từng ở Paris nay về lại quê hương mà lòng không tránh được nhớ nhung một thuở.

Thanh niên Sài Gòn nhớ cái mà họ chưa từng trải nghiệm qua thơ Nguyên Sa. Bắt đầu từ đây ông bước vào lãnh thổ khép kín của nhiều người. Ông cùng với họ thở hơi thở thi ca bằng những ngôn từ mới, rất mới, cho tới bây giờ sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn mới tinh. Paris có gì lạ không em?

Paris có gì lạ không em ?

“Paris có gì lạ không em ?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em ?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một giòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em ?
….

Anh sẽ chép thơ trên thời gian
Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen
Vì em hay một vừng trăng sáng
Đã đắm trong lòng cặp mắt em?”

Paris không những là kinh đô của ánh sáng mà nó còn là thủ phủ của tình yêu. Có lẽ yếu tố tình yêu của Paris dính liền với lứa tuổi học trò Việt Nam thời đó. Thời của những trang lưu bút, những cánh hoa ép vào trong vở học, những hò hẹn ngây thơ và đầy tiếng ve, xác phượng là khoảng thời gian đẹp nhất trong một đời người. Trong lứa tuổi ấy tình yêu bắt đầu với những giai điệu mong manh và huyền ảo nhất.

Nguyên Sa nói đó là sự cần thiết, là điều không thể thiếu của con người. Xác quyết ấy của Nguyên Sa nhanh chóng được giới trẻ gật đầu thừa nhận, và vì thế, thơ ông từ đó có mặt trong lưu bút, trong sân trường thời trẻ dại và ngay cả sau này khi họ đã thành gia thất.

Cần thiết

“Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya


Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mờ ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc...”



Thơ Nguyên Sa không những trau chuốt về ngôn ngữ nó còn lấn sâu tới một vùng khác đầy hấp dẫn nhưng cũng rất nguy hiểm đối với thể loại văn học dễ làm nhưng khó hay và nhất là khó nổi tiếng: thơ tự do.

Trước đây hơn nửa thế kỷ, một câu thơ đẹp sẽ bị quay lưng khi nó thể hiện hình ảnh, ý tưởng có vẻ “nhạy cảm” đối với người yêu thơ. Trong mỗi cá nhân có thể không giống nhau cách chia sẻ một bài thơ hay nhưng rất giống nhau khi nhìn thấy một câu thơ kỳ khôi, vượt lên trên cảm nhận bình thường của thi ca.

Cảm giác đó vẫn còn đầy đối với người đọc thơ đương đại vậy mà Nguyên Sa làm cho người đọc thơ ông cách đây hơn nửa thế kỷ phải mỉm cười, dù cách so sánh của ông lập dị đến nỗi không ai có thể nghĩ tới. Trong một bài thơ có tên người yêu và cũng là vợ ông sau này, ông viết:

Nga

“Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Ðể anh giận sao chả là nước biển!...”
…..

Hình ảnh đôi mắt cá ươn thật sự gây thích thú cho sinh viên học sinh Việt Nam ngay cả cái mùi không dễ chịu của nó cũng làm họ ngây ngất. Ẩn dụ của Nguyên Sa làm học trò tròn mắt và người lớn mỉm cười. Từ đôi mắt cá ươn, đỏ lên sự nhớ nhung, cho tới cách mà hai con chó ốm quấn quýt nhau đã nâng Nguyên Sa lên bệ của thần tượng trong lòng họ:

“Em nhớ không, anh đã van em đừng buồn
Anh đã van em đừng để những nụ cười chắp nối
Mắt anh sẽ mờ vì những vết kim khâu
Và anh buồn, rồi lấy ai mà dỗ nhau
Lấy ai mà dỗ hai con chó ốm!...
…….

Em đã khóc, anh đã khóc và chúng mình đã khóc
Bước chân lê trên những hè phố không quen
Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim
Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới, lễ xin
Và em nhớ không, chúng mình đã hỏi nhau:
Tại sao phải làm lễ tơ hồng
Tại sao phải nhờ người ta buộc chỉ vào chân
Khi tay em đã vòng ra đằng sau lưng anh
Khi tay anh đã vòng ra đằng sau lưng em
Người ta làm thế nào cắt được
Bốn bàn tay chim khuyên!...”

“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, áo nàng xanh tôi mến là sân trường” Có lẽ là hai câu thơ làm thành tên tuổi Nguyên Sa. Cảm xúc ngây ngô của chàng thanh niên trong lứa tuổi 16 nói với em, một cô học trò 13 tuổi. Những lời lẽ nếu xuất hiện hôm nay có lẽ cuộc đời sẽ giảm bớt biết bao nhiêu bụi bặm của thời đại.

Em Mười ba tuổi của thời Nguyên Sa rất nguyên sơ và thánh thiện. Chàng thư sinh Nguyên Sa không hề dám tơ tưởng vóc hình em mà chỉ dám chạm đến nhè nhẹ một màu áo, một sân cỏ nơi em bước qua. Đẹp và lãng mạn đến thế là cùng.

Tuổi 13

“Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
Tôi phải van lơn ngoan nhé, đừng ngờ...
Tôi phải dỗ như là... tôi đã nhớn
……
Và đôi mắt nhìn tôi ngập ngừng chim sẻ
Đôi mắt nhìn trời nhè nhẹ mây nghiêng
Tôi biết nói gì? Cả trăm phút đều thiêng
Hay muốn nói nhưng lòng mình ngường ngượng

Chân díu bước và mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám... quay đi
Cả những giờ bên lớp học, trường thi
Tà áo khuất thì thầm: "chưa phải lúc..."

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím...”

Trở về Việt Nam trong hoàn cảnh miền Nam đang hít thở bầu không khí chính trị mới, Nguyên Sa đóng góp vào nền văn học Việt Nam trên nhiều lãnh vực. Ngoài thơ, ông còn là một nhà báo, một cây viết phê bình văn học, một nhà lý luận và còn là một nhà giáo dục.

Là Hiệu trưởng trường Văn Học, dạy môn Triết tại trường Chu Văn An cũng như đại học Văn Khoa và nhiều trường trung học nổi tiếng khác tại Sài Gòn như Văn Lang, Hưng Đạo, Thủ Khoa, Thượng Hiền, Nguyễn Bá Tòng… ông có cơ hội tiếp cận với học sinh, sinh viên và để lại trong lòng nhiều lớp người ký ức đẹp đẽ khi theo học thầy Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa.

Nguyên Sa, Hạt cát nguyên sơ ấy đã theo chân học trò và người yêu thơ ông góp vào hành trang của họ những luận lý Tây phương cũng như cảm nhận cái đẹp với ý thức hoàn toàn vượt ra khỏi sự cũ kỷ nhàm chán của một nền Hán học vẫn đậm đặc trong xã hội. Thầy Trần Bích Lan không giảng bài mà ông thầm thì với học trò của ông những vần thơ tuyệt đẹp để từ đó nhiều người nhận ra rằng thơ có khả năng mở sáng trí tuệ chứ không chỉ là giai điệu hay những nỗi buồn, niềm vui bình thường của con người.

Giống như hầu hết văn thi sĩ miền Nam, thơ Nguyên Sa trong những năm chiến tranh có thay đổi tuy không lớn và máu lửa như nhiều nhà thơ khác. Trong những bài thơ mang tính thời cuộc ấy vẫn thoang thoảng cá tính Nguyên Sa, một thiên sứ tình yêu, một cung bậc mới trong cảm nhận văn học.

Nguyên Sa đốt lên ngọn lửa trong “Bài hát Cửu Long” nhưng không phải là lửa chống quân thù mà là lửa soi đường cho thanh niên, lửa tin yêu của những chàng trai cô gái hội tụ bên nhau trước vận mệnh mới của dân tộc.

Bài hát Cửu Long

“Có gì đâu em: có một đoàn người
Có một đoàn người góp sức góp vai
Cùng rủ nhau về góp một thành hai
Những bước chân góp đi làm đến!
Họ không dại khờ: góp trăng làm nến!
Chỉ những miệng cười góp lạ thành quen

Góp những giọng hò làm trống ngũ liên
Góp những bàn tay dựng thành đại hội
Cánh tay chắp cánh tay cho dài thêm nửa với
Gạo quanh nồi góp lại bữa cơm chung
Họ cùng đi cùng góp tháng, góp năm...
Để sáng ngày mai làm sông làm biển

Có gì đâu, có một đoàn người
Bên bờ Cửu Long gõ nhịp
Cả giòng sông gõ nhịp vịn bờ sông
Họ rủ nhau về sương gió vui chung
Dù có phút nước mắt chạy quanh
Hay miệng cười hớn hở
Vẫn bát gạo Hậu Giang, vẫn nụ cười huynh đệ
Mắt nghẹn ngào sáng tỏ nắng phương Nam
Màu nắng vàng không màu nhiệm hào quang
Nhưng dù má bừng lửa cháy
Trán đổ mồ hôi
Họ cùng không đóng cửa mừng vui
Những bàn tay ngượng ngập díu môi cười
Không phải khóc
Một đời người tầm gửi”

…..

Thủy chung Nguyên Sa vẫn yêu tận tình con người, yêu như trai gái yêu nhau, như những cặp tình nhân bất tử. Có lần ông giật mình khi nhìn lại chung quanh và chính bản thân để rồi thở dài cho đời người sao quá nhiều cay đắng, đặc biệt những con người trong thế hệ bị bộ máy chiến tranh bào mòn, nghiến nát:

Bây giờ

“Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt
Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư
Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát
Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa

Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực
Phải vác theo trăm tuổi đường dài
Nên có gửi cho ai vài giọng nói
Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi

Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc
Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao
Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét
Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào”

Nhà thơ của chúng ta cuối cùng rồi cũng không ra khỏi chiếc vòng tròn tự vấn. Trong bài thơ Sám hối, cái tựa trước tiên gây cảm giác tê tái và lạnh căm, nhưng qua bài thơ này Nguyên Sa phủ trùm lên nó thứ ánh sáng tái sinh của sự tận hiến. Chàng trai xưng tội với một người đàn bà, biểu tượng lòng thành mà một đời chàng trân trọng.

Chàng không sám hối điều chàng đã làm cho nàng. Những điều mà chàng thốt ra thật khó hình dung, diễn đạt lại vì thế cái cảm giác ăn năn, tự trách vẫn bồng bềnh trong bài thơ khiến chúng ta không thể hiểu tại sao.

Bài thơ này có lẽ mang tính triết học đậm đặc nhất trong toàn bộ cuộc đời làm thơ của ông. Sám hối, trở về với nguyên ủy sự sống. Vòng quay bất tận của tái sinh hay sự trở về gục đầu vào lòng người nữ vẫn luôn là đớn đau bất tận của nhân loại.

Sám hối

“Khi nắng mở cửa một bầu trời nạm bạc,
anh sẽ trở về trên con đường không có mùi cỏ ải
mà chỉ có nắng vàng hanh.

Anh sẽ trở lại bên em - mà cúi đầu - mà quỳ gối -
mà nghe rụng trong lòng ánh sáng hành tinh.

Anh sẽ quỳ gối bên em nhưng không dám nói chuyện trần gian.

Anh không dám kể lể dài dòng như một người giang hồ
nói với người giang hồ về những chuyện quê hương.

Anh chỉ dám dâng em chút ít đớn đau với nỗi niềm sám hối.

Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối.
……
Anh không dám nhắc đến cuộc đời xa cũ.
E sợ rằng lời lẽ chua cay sẽ biến thành bốn con ngựa già
kéo linh hồn anh chạy về bốn phía chân trời
trong những ngày giá lạnh.

Anh cũng không dám khóc. Nước mắt em ơi, đã đóng đinh
vào lòng bàn tay anh và linh hồn dớm máu...

Anh chỉ ngồi nhìn sao khuya rung động.
Nghe bờ môi tát cạn nhưng hơi thở yếu dần.”

Nhắc đến Nguyên Sa người yêu thơ ông vẫn tưởng nhà thơ đang rong chơi đâu đó vì ngôn ngữ vẫn sát với khung cảnh thường nhật hôm nay. Mặc dù nhà thơ đã từ trần vào ngày 8 tháng Tư năm 1998, cách đây đã mười sáu năm, nhưng thơ ông vẫn được nhiều người nhắc tới như xưa, đặc biệt trong hoàn cảnh tình yêu tuổi học trò ngày một biến mất để thay vào đó là những trò chơi tình cảm nhục dục của thanh niên trong thời đại mới.

Mỗi tiếng thở dài tiếc nuối quá khứ là một câu thơ của Nguyên Sa. Mỗi câu thơ của ông có khả năng làm mới tâm hồn để biết rằng trong bất cứ thời đại nào nhịp đập tình yêu vẫn là suối nguồn sự sống.

MẶC LÂM
Theo RFA


Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2019

VÕ CHÍ NHẤT CÓ “KHIẾU ĂN MÀY”

Giá trị tư tưởng của “Khiếu ăn mày” chính là thông điệp yêu thương và nghĩa vụ, nếu người đọc biết yêu và có chút ít thẩm định văn học, sẽ dễ dàng thừa nhận. Về nghệ thuật văn chương, đã hình thành một cốt cách. Ở mỗi truyện, người đọc không chỉ theo dõi và cùng chia sẻ với những tình huống, những biến động bên ngoài hiện thực mà còn được dẫn dắt bởi những suy tư, những trăn trở, những tự vấn của mỗi kiểu nhân vật…
Nhà văn trẻ Võ Chí Nhất

Hai người ăn mày, một trẻ một già, một đàn ông con trai, một bà già lọm khọm, chọn nơi “đắc địa” làm “trận địa” hành nghề: cửa ngân hàng! Người thanh niên trẻ, ăn mặc còn tươm tất, biết tính toàn, phân tích từng khách hàng, vào ra nhà băng “định kỳ đáo hạn”, để làm thân, để mà xin tiền. Bên kia, bà già lấy “trang phục truyền thống” làm vũ khí: bẩn thỉu, rách rưới, quần áo “hàng tỷ năm không giặt”, biểu hiện sự nghèo khó khốn cùng của mình… ra hành nghề! Hiệu quả là “truyền thống” hơn hẳn “sự tính toán khoa học” ít ra là gấp 4 lần (bà cụ xin được từ một ông khách 200 ngàn, còn anh kia chỉ được 50 ngàn). Đến nỗi, anh trẻ ghen tức, xông vào giật túi tiền của “mụ già” vừa xin được. Hậu quả là anh ta bị bắt, và “mụ già” nhận ra anh thanh niên kia là con mình. Mụ phấn khích như cầu thủ vừa ghi bàn ở phút 89, rồi lảnh lót nói: “Tao nghĩ mày nên từ bỏ cái nghề này đi, mày không có khiếu ăn mày đâu con ạ!”.

Tóm lược truyện ngắn “Khiếu ăn mày” mà tác giả Võ Chí Nhất lấy làm tên chung cho tập truyện ngắn gồm 14 truyện của mình.

Tác giả Võ Chí Nhất còn trẻ, 25 tuổi tính đến hôm nay, là rất trẻ so với các hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng nếu người đọc đừng quá bận tâm chú ý đến tuổi tác và nghề nghiệp chính của anh, thì chúng ta sẽ đọc được những tác phẩm văn chương của một nhà văn, mà với độ chững chạc nghề văn, với sự tinh tế của cây bút dường như không còn “quá mới” qua tác phẩm của mình. Võ Chí Nhất làm nghề công an, một sĩ quan ngoại thành Củ Chi. Những người biết kỹ về anh, thường gán cho anh cái mác hình sự hoặc trinh thám. Tôi không nghĩ thế.
Tập truyện ngắn Khiếu ăn mày của Võ Chí Nhất

14 truyện ngắn (mỗi chuyện không dài, dường như chỉ vừa tầm một kỳ đăng báo) là một mảng cuộc sống khá phong phú, từ vùng ngoại ô nghèo khó (Đứa bé, Người đi trong bóng tối), đến đời sống thị dân muôn vẻ (Khiếu ăn mày, Anh em song sinh, Phiêu lưu trên thực đơn, Vợ ơi, dậy lấy chồng…). Truyện Điều ước đêm giáng sinh còn lấy bối cảnh nước ngoài, bằng một mô-tip quen thuộc…

Những truyện ngắn của Võ Chí Nhất thường tạo ra một tình huống, thậm chí chỉ một câu nói gây bấn, mà lại ẩn chứa một thông điệp giản dị mà nhân văn. Chẳng hạn như với truyện Đảo Ngọc lấp lánh, là một truyện ngắn dài nhất của tập này, in đậm chiến tích của anh công an kiêm nhà báo. Câu chuyện tưởng rồi sẽ dài dòng và dông dài, chỉ đến khi anh công an kiêm nhà báo công an bắt được kẻ ăn trộm, hắn chống cự:

“- Thì ra là cớm! Tao căm ghét bọn bay…

- Nếu không có màu áo xanh của tụi tao giữ bình yên cho xã hội này thì bọn bay có thể yên ổn mà đi ăn trộm của người ta à?”.

Hài hước! Nhưng nó vẫn chứa đựng một suy nghĩ, một tư duy dẫn dắt hành động của một nghề nghiệp, một hành động có trách nhiệm xã hội, như một thứ “phúc lợi” ưu việt.

Giá trị tư tưởng của “Khiếu ăn mày” chính là thông điệp yêu thương và nghĩa vụ, nếu người đọc biết yêu và có chút ít thẩm định văn học, sẽ dễ dàng thừa nhận.

Về nghệ thuật văn chương, đã hình thành một cốt cách. Ở mỗi truyện, người đọc không chỉ theo dõi và cùng chia sẻ với những tình huống, những biến động bên ngoài hiện thực mà còn được dẫn dắt bởi những suy tư, những trăn trở, những tự vấn của mỗi kiểu nhân vật. Xen lẫn với những trầm tư bi thiết, những hằn học oán thán, lại có những tình huống, lời thoại hài hước, gây bật cười. Mà tất cả đều được xử lý logic, không bị “phô”! (Anh em song sinh…)

Như tôi đã viết trên đây, Võ Chí Nhất đang là một sĩ quan công an. Công việc là vốn sống quan trọng nhất của một người viết văn. Tuy thế, người biết ít nhiều về tác giả này, thường hay ngả về phía coi đây là cây bút hình sự, mạo hiểm, thậm chí “chém giết, cướp, hiếp”. Có khi ngay trong tập sách này.

Chỉ làm phép số học thuần túy thôi, thấy rằng chỉ có 2/14 truyện có nhân vật là công an (Đảo Ngọc lấp lánh, Phi vụ hoàn hảo). Chắc chắn tỷ lệ này, chưa chắc ngành Công an đã thấy đủ điều kiện xếp cuốn này vào loại sác viết về ngành mình. Trong khi đó những truyện lấy đề tài về hội họa (Cái giá cho dự nổi tiếng, Tác phẩm cuối cùng) và âm nhạc (Người thợ chỉnh Violon).

Thôi, nhưng mà không nên quá tỉ mẩn, chẻ hoe, cố chấp, văn chương miễn là hay. Chỉ có điều, cái hay do văn chương đem lại không giống với sự hấp dẫn thô tháp, dễ dãi.

HOÀNG ĐÌNH QUANG
Nguồn: VCPN





Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

VĂN HỌC VÀ VĂN HỌC HIỆN THỜI QUA MỘT GÓC NHÌN

Như con người, thể trạng văn học cũng chập chờn lúc thăng, khi giáng, lúc khỏe, khi yếu. Thời điểm này, sự tĩnh lặng của văn học gây cảm giác lấp lửng, nửa như nó muốn xa lánh đời sống, lại nửa như nó bị đời sống xa lánh. Như vậy văn học đang đối diện với những vấn đề của mình. Nhìn nhận dưới đây chỉ là ở một, hai khía cạnh nhận thức chủ quan trong tư cách một người viết, cùng với giấc mơ trong tư cách một độc giả.
Chùa Long Tường ở thôn Phú Thọ, xã Hoà Mỹ, huyện Tây Hoà, 
tỉnh Phú Yên nơi xảy ra nhiều trận chiến trong kháng chiến chống Mỹ

1. Một thực tế đang xảy ra theo đúng quy luật, là đội ngũ những nhà văn trực tiếp tham gia chiến tranh hiện nay đã vơi đi một cách nhanh chóng. Kèm đó cũng xuất hiện một đội ngũ nhà văn mới viết về đề tài này, dĩ nhiên là theo cách khác. Chiến tranh trong các tác phẩm văn học trước đây phần đông do người trong cuộc viết vì thế chủ yếu dừng ở mức kể chuyện chiến tranh, và sự thiên lệch là không tránh khỏi, thậm chí nó còn trở thành thế mạnh cuốn hút. Ngay cả hiện nay, sự trở lại của những tác phẩm văn học phi hư cấu, được đón nhận nồng nhiệt cũng là hiện tượng xuất phát từ thói quen thưởng thức những tác phẩm chất phác đầy xúc cảm thiên lệch. Mặc lòng, tác phẩm phi hư cấu vẫn chỉ dừng lại ở tính chất tư liệu dù nó có thể làm thỏa tính tò mò về những sự kiện đã từng chói lói giờ đang khuất chìm.

Thế hệ các nhà văn hậu chiến tiếp cận chiến tranh theo cách khác. Đó là những câu chuyện gián tiếp, những hậu quả của cuộc chiến, những số phận nghiêng lệch vì chiến tranh, những tâm hồn lảo đảo bởi tác động của hủy diệt và điều đáng sợ hơn là những rạn nứt về các phía. Cái nhìn của thế hệ sinh sau chiến tranh khi viết về chiến tranh, nói một cách công bằng, có độ bình tĩnh hơn, khách quan hơn, thậm chí dồi dào tính cảm thông hơn, mặc dù tính chân thực có thể bị hạn chế. Với họ, thể hiện qua tác phẩm, chiến tranh là cuộc sát hạch nhân tính, là cái cớ để nhìn cho thấu các trạng thái hoàn cảnh số phận cũng như tình cảm mỗi cá nhân.

Tuy vậy, cần phải thấy rõ một thực trạng, đó là việc cùng với sự giãn cách trong cảm quan với đề tài nhạy cảm này, xuất hiện yếu tố mà chúng ta gọi là tinh thần giải thiêng. Người chiến thắng không còn được miêu tả như trang anh hùng toàn thiện, toàn mĩ nữa, mà được nhìn theo chiều góc khác, gần gụi hơn với những chứng này, tật nọ, cũng yêu ghét như mọi cá nhân bình thường khác. Điều ấy không những không hạ thấp đối tượng, trái lại còn làm gia tăng tính thuyết phục cho phẩm chất anh hùng và nó tạo ra độ sâu sắc nhất định không chỉ cho bản thân tác phẩm.

Xu hướng giải thiêng có mặt tích cực, nó kéo lịch sử xích gần lại với mỗi cá nhân ở thì hiện tại, khiến cho người phàm có thể ngó mặt thánh thần, nó đưa ra những đánh giá khác, kiến giải khác, góp thêm giá trị cho đối tượng nó đề cập. Giải thiêng phải được chấp nhận với chừng mực nhất định, nhưng nếu đẩy quá lên, giải thiêng để tiến tới hạ nhục, bóp méo, làm lệch lạc bản chất của đối tượng thì lại cần được cảnh báo sớm, thậm chí cần có sự phê phán nghiêm khắc.

2. Văn học, với những gì thể hiện hôm nay, cho thấy đang thiếu một sự ráo riết truy nguyên về đời sống, về tình thế của con người ngay trong thì hiện tại và cả so sánh với lịch sử. Điều này có nhiều nguyên nhân mà chúng ta còn phải tìm cách lí giải, nhưng nguyên nhân trực tiếp, gần nhất chính là do hiện thực của một bộ phận nhà văn, đặc biệt những nhà văn trẻ tuổi đời, đột nhiên bị mất đi, họ chỉ tiếp cận với hiện thực gián tiếp, hiện thực ảo qua mạng cũng như sách vở. Đã vơi dần những hành vi sống đúng nghĩa, là đi và ngã và đứng dậy, và sày vảy. Chính vì thế mà nhiều nhà văn trở nên lúng túng.

Nghệ thuật, nảy mầm trên đời sống thực tại, dứt khoát chỉ trên đời sống thực tại với toàn bộ cảm nhận trực tiếp, trọn vẹn của nhà văn. Và chúng ta cần mở rộng khái niệm đời sống với sự chấp nhận rằng thảy những gì tồn tại trên thế gian này, những gì có trong con người đều là đời sống, ngay cả những giấc mơ và những cơn ảo mộng diệu vợi nhất. Văn học, nếu muốn tồn tại trong độc giả thì cần tiến gần lại đời sống, cần những tiếng nói trực diện, sắc sảo phản ánh, nhận diện, mổ xẻ về các khía cạnh, các vấn đề nóng bỏng của xã hội như đạo đức, văn hóa, lí tưởng và cái đích nó đạt đến dứt khoát phải là cơ hội giải phóng con người khỏi bóng tối của chính nó.

Xét cho cùng, nghệ thuật là cách mà con người vượt qua thực tại của mình để tiến tới một thực tại khác có tính cải thiện cao hơn, dễ chịu hơn, lí tưởng hơn. Nói như thế để thấy rằng văn học không phải dùng thanh toán quá khứ, càng không phải để đạp đổ thực tại. Quá khứ không thể bị vứt toẹt đi khi hiện tại làm người ta phẫn nộ. Và thực tại không thể bị bóp méo, bị kết án, bị chà đạp một cách mù quáng theo góc nhìn nhận phiến diện, thiếu biện chứng. Tiếc thay vẫn có những nhầm lẫn giữa phê phán với đập phá, giữa phản ánh với bóp méo, vẫn có những kích động do nhầm lẫn quyền sáng tạo và lịch sử bỗng nhiên bị tô vẽ đến mức trở nên xệch xoạc.

Ở đây bắt buộc phải đòi hỏi sự công tâm của nghệ sĩ, sự công tâm được đặt lên bàn cân mà trục giữa của nó phải là sứ mệnh của nhà văn gắn với trách nhiệm một công dân, một nhà nhân văn chủ nghĩa. Nếu văn học thiếu trách nhiệm, nó sẽ đi xa khỏi người đọc, xa khỏi đời sống và như thế nó đánh mất uy quyền cùng giá trị thâm sâu của nó. Văn học có nguy cơ trở thành món đồ trang sức, trở thành công cụ cho một bộ phận, một giai tầng nào đó, trong khi về bản chất thì nó không thuộc về bất kỳ tầng lớp nào.

Văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung, là cánh chim bay trên mọi biên giới, nó là bài học về sự vỗ cánh, là tiếng hót báo hiệu tự do còn đang tồn tại và bắt buộc phải tồn tại nếu chừng nào con người còn tự nhận mình là con người. Nhưng trên thực tế hiện nay đã có hiện tượng tự đánh mất tự do ở vài ba khuynh hướng sáng tác. Một số nhà văn, do ngộ nhận quá trớn về quyền tự do sáng tạo đã dẫn tới việc nhăm nhe phủ định những quy định căn bản về nhân tính, phủ định văn hóa truyền thống, coi thường, xúc xiểm thành quả lịch sử của các thế hệ đi trước. Hệ lụy là văn học bị trói buộc vào sự cố chấp, sân hận, khiến cho tác phẩm chỉ còn là những văn bản tranh đấu thô thiển.

3. Tính tự cao tự đại của nhà văn đến lúc cần phải khuất đi để văn học tồn tại một cách có ích. Sự vĩnh cửu, xét cho tận cùng, chỉ còn lại trong những tình thế xã hội cụ thể mặc dù tính dự báo của văn học là tối quan trọng, nhưng tính vĩnh cửu hiếm khi còn lại trong những tưởng tượng xa lạ viển vông. Mọi tìm kiếm, cuối cùng đều là để chạm tới bản chất cốt lõi của hiện thực. Điều ấy cổ xưa và vững chãi như đá. Nhưng ở nơi bon chen nhốn nháo, đá thường bị lãng quên, bị thay thế bằng bê tông màu mè. Tuy nhiên, với sự mẫn cảm của mình, hiện thực đang lặng lẽ giành lại vị trí mà nó thấy cần phải có.

Mộng ảo một thời là sức đẩy cho văn chương bay bổng giờ đây đã đảo cánh trở thành phẩm chất của khoa học công nghệ. Thời điểm này, ngôn ngữ chắc chắn đã không theo kịp sự ảo diệu của công nghệ thông tin, bởi chỉ bằng một cú vuốt thoảng trên màn hình cảm ứng, công nghệ thông tin đã giúp người ta chạm tới những điều mà ngôn ngữ phải mất một khối lượng đồ sộ mới đạt được. Khoa học công nghệ tạo ra những thế giới mới, ở đó mọi mơ mộng đã được cụ thể hóa, ở đó con người có thể sờ vào giấc mơ của chính mình.

Hơn bao giờ hết, vị trí của văn học trở nên mong manh bởi có rất nhiều lí do để đời sống chối từ nó, đặc biệt là thời điểm hiện nay, thời điểm mà tâm hồn con người đang bị phân tán theo tốc độ phát triển khủng khiếp của công nghệ thông tin. Nhưng trong nguy cơ cũng xuất hiện cơ hội. Sự thắng thế của công nghệ thông tin có thể là cơ hội cho các nhà văn, những kẻ được coi là giác quan tinh nhạy của tạo hóa, với một chút cay đắng, ngậm ngùi, rời bỏ bãi bờ phù du để thụ hưởng lại vị chua cay của đời sống trên mặt đất vốn dĩ nó đã từng nếm trải.

Xã hội này, tình thế dân tộc giai đoạn này cần tới làn sóng hiện thực phê phán một lần nữa, như nó đã từng xuất hiện những năm nửa đầu thế kỷ trước. Đương nhiên hiện thực phê phán mà chúng ta cần là hiện thực phê phán đã qua bàn tay tài năng của những tâm hồn tràn đầy tính bao dung, dựng xây, nó không phải là thứ hiện thực sống sít, thô lậu mà nhiều nhà văn đã bê nguyên xi vào tác phẩm của họ với một tâm thế không mấy thiện tín, không mấy sáng sủa.

Văn học là rượu chưng cất từ đời sống. Chất men quyết định cho phẩm hàm của rượu nhưng rượu có thể bị hỏng, thậm chí gây độc khi để tạp chất lẫn vào. Hận thù và ích kỷ là tạp chất đáng sợ trong nghệ thuật. Đây là một trong những thử thách lớn nhất của nghệ sĩ. Văn học tuyệt không phải sự báo oán, càng không phải liều thuốc gây mê cho qua cơn đau. Chính xác, nó là cái giếng ăn thông trời với đất để con người ta có cơ hội nhìn thấy mình sóng sánh trong diện mạo khác, cả trên vợi cao lẫn dưới thẳm sâu, mà vẫn không bị thất lạc bản nguyên. Tính phi phàm của nghệ thuật văn chương nằm ở đây, chính ở đây cũng hàm ẩn những hiểm nguy bởi nó có thể dễ dàng dẫn dụ, xui khiến con người ta, cả độc giả lẫn tác giả, lạc lối và biến mất vĩnh viễn về một phía.

Đành rằng đời sống cứ chuyển trôi không thể ngăn cản, đành rằng khi con người đứng trên mặt đất này thì nó đã có vị trí vững chãi bởi sự hậu thuẫn của tạo hóa. Thế nhưng văn học lại có thể tác động tới đời sống con người, tới tồn tại của con người, bằng cách nhẫn nại nuôi dưỡng giấc mơ cho mỗi cá nhân. Từ thực tại đầy rẫy mâu thuẫn, đầy rẫy bất công, đầy rẫy phẫn nộ, rớm máu và quằn quại, văn học dựng xây những bầu trời để nhân tính rợp bay, khai mở những con đường để độc giả đặt bước chân tưởng tượng của mình lên đó và ngoảnh lại mỉm cười bao dung với đời sống bụi bặm. Nói cách khác, văn học phải cho con người có dịp sống đời sống thứ hai, đời sống mà nhờ đó họ mới biết định lượng tâm hồn họ còn lại ngần nào, còn trong ở mức nào, còn tươi thắm, dào dạt ở mức nào.

NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
Nguồn: VNQĐ


Thứ Ba, 4 tháng 6, 2019

“ĐỘNG HOA VÀNG” CỦA PHẠM THIÊN THƯ

Những ai say đắm bài thơ Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư chắc sẽ bất ngờ khi biết nhiều ý tứ về “động hoa vàng” được ông lấy cảm hứng từ căn gác gỗ ở khu cù lao Phan Xích Long.

“Rằng xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ say...”.

Có thể nói một cách nào đó, khu cù lao Phan Xích Long chính là “động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư. Ở nơi đây, ông đã trải qua những năm tháng sáng tác rực rỡ nhất trong cuộc đời mình.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư lúc còn trẻ chụp trước căn nhà có cây hoa vàng 
trong khu cù lao Phan Xích Long, P.2, Q.Phú Nhuận mà ông gắn bó nhiều năm
 - Ảnh: TỰ TRUNG chụp lại từ album riêng

Khu cù lao còn là nơi cư ngụ của nhiều văn nghệ sĩ như Trụ Vũ, Thụy Long, cũng là nơi lui tới bàn chuyện con chữ thế sự của Phạm Duy, Sơn Nam...

Ngẫm về chốn cũ

Chúng tôi tìm gặp nhà thơ Phạm Thiên Thư khi ông đã chuyển về sống cùng người vợ thứ ba trong căn nhà nhỏ trên đường Hồng Lĩnh, thuộc khu cư xá Bắc Hải (Q.10).

Tầng dưới của ngôi nhà ông mở quán cà phê đặt tên Hoa Vàng, luôn vang tiếng dương cầm réo rắt. Phía trước quán, ông để vài cái ghế, và đó cũng là chỗ ngồi thường xuyên của ông.

Gặp Phạm Thiên Thư bây giờ, thật đúng như hình dung của chúng tôi về một nhà thơ - tu sĩ khi tuổi đã về già. Mặc bộ đồ giản dị, ông ngồi dưới giàn dây leo râm mát với một cuốn sách cũ, cặm cụi ghi ghi chép chép. Trước mặt ông đặt một tảng đá, cắm những bông cúc vàng.

Có lẽ cuộc đời người thi sĩ hằn sâu, ấn tượng với cảnh hoa vàng, nên mỗi địa điểm cư ngụ ông đều để hoa vàng như một biểu tượng của ký ức. Trong số đó có căn nhà trong hẻm Trần Kế Xương, P.2, Q.Phú Nhuận mà ông gắn bó nhiều năm.

Có thể nói hình ảnh hoa vàng xuất hiện dày đặc trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó trở thành một biểu tượng xuyên suốt, một nỗi hoài niệm.

Ông kể: “Năm 1942 khi cả gia đình còn ở xã Chi Ngãi, huyện Chí Linh (Hải Dương), bố tôi mua hẳn ngọn đồi Phượng Hoàng. Hoa cúc dại vàng mênh mông, bát ngát chạy dài che khuất đường chân trời”.

Năm 14 tuổi, ông theo mẹ di cư vào miền Nam, ngụ tại khu Tân Định. Sau khi học xong tú tài, khác với nhiều người Phạm Thiên Thư chọn cửa Phật làm chốn dừng chân. Ông theo học Trường Phật học Vạn Hạnh, gửi hồn trong lời kinh tiếng kệ.

Năm 1968, gia đình nhà thơ mua 400m2 đất ở khu cù lao. Rồi ông sáng tác thi phẩm Động hoa vàng với 100 đoạn thơ.

Mỗi đoản khúc là một tiếng hót của loài dị điểu, sẵn sàng yêu và chết, và để tiếng hót của mình rơi rụng trên sông.

Trong thời gian sống cùng bà Tuệ Mai (con gái Á Nam Trần Tuấn Khải), ông bà thường đọc thơ cùng nhau ở nơi này. Lúc đó Phạm Thiên Thư đã nổi tiếng với tác phẩm Đoạn trường vô thanh. Ông từng tu hành 7-8 năm ở chùa Vạn Thọ, gần kênh Nhiêu Lộc.

Động hoa vàng trong ký ức

Chính vì tuổi cao, lại trải một qua cơn bệnh cách đây chưa lâu, nhà thơ Phạm Thiên Thư không còn nhớ được nhiều. Nhưng khi nghe nhắc về “động hoa vàng” ở căn nhà cũ nơi cù lao thơ mộng, nhà thơ gọi tên người bạn thân thiết: tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã.

Theo lời kể của tiến sĩ Nguyễn Nhã, ông và Phạm Thiên Thư biết nhau từ những năm tháng tuổi đôi mươi, khi bắt đầu chung nhóm nghiên cứu về văn hóa.

Có lần cha của tiến sĩ qua cầu bị té xuống kênh, chính Phạm Thiên Thư vì nhà trổ cửa nhìn ra sông trông thấy nên hô hào người dân kéo lên bờ. Tiến sĩ kể nhà ông và nhà Phạm Thiên Thư ở gần nhau.

Khi nghe nhắc về cây hoa vàng, tiến sĩ Nhã xác nhận đúng là trước đây ở đầu ngõ nhà của nhà thơ có cây hoa vàng rực, khung cảnh nên thơ vô cùng.

Năm 1968, nơi này gọi là đường Hàng Keo. Nhà Phạm Thiên Thư có hình chữ L, ở cuối xóm. Ông làm một cái gác nhỏ, nhìn ra hướng sông.

Ông nói đó là động hoa vàng, có chuẩn bị hoa cỏ, đèn dầu, thuốc lá cho bạn bè thân hữu mỗi khi ghé chơi (Phạm Duy, Trụ Vũ, Bùi Giáng, Sơn Nam, Nguyễn Nhã...).

“Căn gác gỗ của Phạm Thiên Thư rất thơ mộng, cửa sổ trổ ra bancông, nhìn về hướng mặt trăng. Căn gác trang trí mây tre cũng là sự hữu ý của Phạm Thiên Thư vì nhà thơ rất đề cao tính truyền thống, yêu thích hình ảnh cây tre khi gió mạnh thì cúi rạp người nhưng khi cần chiến đấu thì có thể chặt thành từng đoạn cắm dưới lòng sông” - tiến sĩ Nhã kể.

Thi thoảng, tiến sĩ Nguyễn Nhã cũng ghé đến quán cà phê Hoa Vàng hiện nay để thăm người bạn già Phạm Thiên Thư. Trong mắt ông, Phạm Thiên Thư là người giản dị, yêu sâu đậm đất nước qua những vần thơ giàu tính truyền thống, hòa nhã với bạn bè thân hữu.

Duyên kỳ ngộ Phạm Thiên Thư - Phạm Duy

Trong những năm sống ở khu cù lao, Phạm Thiên Thư và nhạc sĩ Phạm Duy có mối liên hệ mật thiết. Cách đây hơn 40 năm, Phạm Duy đã lui tới căn gác của Phạm Thiên Thư để phổ nhạc một số bài thơ của ông.

Năm 1971, Phạm Duy đã phổ nhạc 10 bài đạo ca của Phạm Thiên Thư mà chính nhà thơ đã nhận xét rằng cách phổ nhạc rất hay.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã cho biết thi thoảng khi ghé nhà Phạm Thiên Thư, ông cũng gặp nhạc sĩ Phạm Duy. Nhạc sĩ và nhà thơ bàn về nhạc, về thơ say sưa, tâm đầu ý hợp.

Tính đến nay, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ khá nhiều bài thơ của Phạm Thiên Thư, có thể kể đến Động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu... Thậm chí giữa Phạm Thiên Thư và người nhạc sĩ hơn ông 20 tuổi đã có mối tri kỷ từ những ngày đầu mới gặp.

Khi Phạm Thiên Thư còn tu tập trong chùa, nhạc sĩ Phạm Duy có ghé vào thăm. Họ cũng đã nhiều lần chia sẻ những dự định, những trăn trở về đường sáng tác, về nỗi cô đơn trong cuộc đời.

Khu vực cù lao còn là nơi cư ngụ của nhà thơ Trụ Vũ - tác giả bài thơ Quasimodo nổi tiếng. Quê ở Huế, ông vào Sài Gòn từ năm 1949, đến năm 1961 sống ở khu Phan Xích Long này.

Theo lời nhà thơ, khung cảnh, vị trí của Phú Nhuận khiến nhiều nhà thơ tìm đến cư ngụ vì thuận tiện để đi lên khu vực trung tâm, giá cả sinh hoạt lại rẻ.

Ngày xưa Phan Xích Long có xóm Mã Đen, nhiều mồ mả. Xóm này thuộc ấp Đông Ba, quanh xóm tre trúc mọc đầy.

Người nghèo, cả người tị nạn cũng rúc vào khu này sinh sống. Còn vùng cù lao (giờ là khu vực đường Hoa Sứ, Hoa Lan...) ngày trước cỏ lau mọc trải dài tới khu vực bờ kè.

Ông kể ngày xưa muốn tìm không gian yên tĩnh, ông thường ra đó. Ông còn kể rằng khi giao thiệp với nhà thơ Hoàng Cầm, có một lần nhà thơ Hoàng Cầm vào Sài Gòn chơi, Trụ Vũ nhờ người em kết nghĩa tên Diệu Tiên dẫn về nhà ông.

Nhưng họ bị lạc nguyên một ngày mới tìm ra nhà Trụ Vũ! Căn nhà của ông còn là nơi lui tới của Phạm Thiên Thư thời trẻ, của Sơn Nam, Thụy Long... và nhiều văn nghệ sĩ, giới trí thức Sài Gòn.

YẾN TRINH - TIẾN LONG
Nguồn: Tuổi Trẻ

Câu chuyện văn hoá khác:



Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

BI HÀI CÙNG THƠ

Xưa nay, thơ ca vẫn có chỗ đứng khá quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã chỉ ra rằng, việc thưởng thức một tác phẩm thi ca cũng như phim ảnh, âm nhạc, hội họa đều có tác dụng nhất định cho sức khỏe, cả thể chất lẫn tinh thần.
Trao giải thơ tình facebook

Đã có thời, danh xưng nhà thơ có giá trị đến mức khi nghe nhắc đến nó, ai cũng phải tỏ thái độ trân trọng, ngưỡng mộ. Tên tuổi, tiểu sử, tác phẩm của các nhà thơ lớn thời đó được ghi nhớ và học thuộc hơn tên tuổi, bản nhạc ăn khách của các ngôi sao âm nhạc nổi tiếng thời nay. Khi đó, các nhà thơ không phải lo gì ngoài chuyện sáng tác. Thơ làm ra trước tiên được in báo, sau đó nếu đủ tập sẽ được nhà nước bỏ tiền ra in sách, rồi nhà nước lại bỏ tiền ra mua và giao cho hệ thống thư viện. Cả nước có hàng chục ngàn thư viện nên các cuốn sách cũ, trong đó có thơ, thường có số lượng phát hành lên tới hàng vạn, thậm chí cả trăm ngàn bản là chuyện bình thường.

Trong thời kỳ đổi mới, đời sống phát triển hơn, thi ca cũng như văn chương vẫn chưa bị các loại hình văn hóa nghe nhìn lấn át nên dù thơ nhiều, các nhà thơ cũng nhiều, nhưng các tập thơ của các nhà thơ nổi tiếng: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử… vẫn được tái bản và bán rất chạy.

Nhưng nay thì đã khác. Với các nhà thơ nghèo, lại vốn coi nhẹ chuyện tiền bạc, thì việc tập thơ của mình được xuất bản, đến được tay bạn đọc đã là niềm hạnh phúc lớn lao, bao người mơ chẳng được. Nắm được tâm lý đó, những năm gần đây, các nhà xuất bản đã nghĩ ra một hình thức gọi là “liên kết xuất bản”, tức là nhà xuất bản chỉ cấp giấy phép, nhà thơ phải bỏ tiền túi ra in, in xong, nhà thơ tự mang đi bán, và từ đây chuyện bi hài mới bắt đầu.

Thông thường, cái gì nhiều sẽ không hiếm, và không hiếm dễ trở nên không quý. Theo một thống kê gần đây, mỗi năm trung bình cả nước có khoảng 3.000 tập thơ được cấp phép xuất bản. Chỉ tính trung bình mỗi tập thơ in từ 500 - 1.000 cuốn thì cả nước đã có hàng triệu cuốn thơ ra đời. Đó là chưa kể hàng ngàn cuốn thơ được đánh máy, photo, đóng tập, tự xuất bản, cộng thêm hàng trăm bài thơ xuất hiện trên các báo mỗi ngày và nhiều hơn nữa là số thơ xuất hiện trên mạng xã hội. “Nguồn cung” dồi dào như vậy nên thơ khó bán cũng là điều đương nhiên.

Để giảm chi phí và đỡ lo việc sách tồn đầy nhà, các nhà thơ chỉ in vài trăm bản mỗi tập, mang gửi ở nhà sách một ít, gửi tới các lễ hội sách, ngày thơ một ít. Tuy nhiên, ở cái thời mà thơ tặng còn khó thì cách này chẳng mấy ăn thua, chưa kể nhiều lễ hội sách và nhà sách không nhận bán thơ. Vì vậy, nếu không muốn phiền bạn bè, người thân phải bỏ tiền túi ra mua thơ ủng hộ, tác giả vẫn có một cách bán thơ khác hiệu quả hơn, đó là mang thơ đến các DN, cơ quan, trường học có quen biết nhờ mua. Có những nhà thơ bán hết năm, bảy trăm cuốn theo cách này. Tuy nhiên, không phải ai cũng có mối quan hệ để bán được thơ kiểu đó. Nhiều tập thơ được cơ quan, DN xuất tiền mua ủng hộ xong phải bỏ vào kho. Thậm chí, nếu các cơ quan, DN có phát cho các cán bộ, công nhân viên thì cũng chẳng mấy người đọc. Vì vậy, nhiều tập thơ bị bỏ xó hoặc mang ra tiệm ve chai mà vẫn còn thơm mùi giấy mới. Nhiều nhà thơ không chịu được tình trạng đứa con tinh thần của mình bị rẻ rúng đành chịu lỗ để đưa thơ đến được với mọi người bằng hình thức tặng. Thế nhưng, chuyện tặng thơ cũng rất bi hài, đến nỗi có người từng viết: “Gặp nhau tay bắt mặt mừng/Tặng gì thì tặng xin đừng tặng thơ”. Và thực tế, có những buổi giao lưu, nhà thơ đem thơ đi tặng khách, cuối buổi lại lặng lẽ gom về vì người được tặng cố tình… bỏ quên.

Thơ mất giá như vậy một phần vì độc giả đã bị hấp dẫn bởi các loại hình giải trí nghe, nhìn khác, nhưng lý do chính như một nhà thơ đã nói: “Thừa thơ quá mà thiếu thơ hay quá”. Vì vậy, những nhà thơ thực sự nghiêm túc cũng không muốn đầu tư công sức cho thơ nữa. Họ chuyển sang viết văn, viết báo, hoặc có làm thơ thì cũng đắn đo lắm mới in thành tập. Ngược lại, các nhà thơ không chuyên nhưng có điều kiện lại mặc sức tung hoành. Có người ngày nào cũng làm vài bài thơ và năm nào cũng ra một vài tập thơ như một thú chơi tao nhã, khiến cho sự khủng hoảng thừa thơ càng ngày càng thêm nặng.

Tuy nhiên nếu nói theo kiểu một nhà thơ là “Tìm sự vui trong nỗi buồn, tìm cái buồn đẹp trong cái vui chưa đẹp” thì việc đam mê thơ ca vẫn là điều đáng mừng, bởi vì ai có yêu thơ thì mới làm thơ. Mà thơ vẫn được so sánh với cái đẹp. Người nào còn yêu thơ là còn biết yêu cái đẹp và khi biết yêu cái đẹp, người ta đương nhiên cũng sẽ biết cách sống đẹp.

AN AN
Báo BRVT


Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều