Thứ Hai, 11 tháng 3, 2019

HOÀNG THANH HƯƠNG - NGUYÊN SƠ TÌNH YÊU BAZAN

Tập thơ Mùa gió hát của Hoàng Thanh Hương (NXB Văn hóa Dân tộc 2013) là cuộc dấn thân của tác giả và hành trình cuộc sống với những trải nghiệm nơi vùng đất bazan đầy nắng gió với những đêm xoang bất tận, những ché rượu cần say nối cơn say…

Thơ là những “tinh hoa phát tiết” từ những xúc cảm, từ những dư ba của cuộc sống vọng lại trong tâm hồn người nghệ sĩ. Nó là sự nguyên mộng không giống ai, không dễ bắt chước với vẻ đẹp dịu dàng, tinh khiết từ những con chữ không tính toan gì ngoài sự cống hiến cái đẹp cho xã hội. Vì vậy, thơ là sự tuôn trào tự do theo cảm xúc, theo nhịp rung cảm thổn thức của người sáng tạo. Và, “Mùa gió hát” là sự rung cảm, sự thăng hoa và cả sự mộng mơ say đắm, sự đau xót cho những điều đã và đang dần mất đi trên mảnh đất ba zan mà nhà thơ Hoàng Thanh Hương gói lại trong hành trình sống và hành trình thơ của mình.
Nhà thơ Hoàng Thanh Hương

Thơ của chị không quá đánh đố người đọc mà nó là sự gần gũi, sự hòa nhập giữa con người với thiên nhiên và cuộc sống! Người đọc dễ dàng đi vào thế giới văn hóa của những đêm lễ hội: “trăng ngủ trên tẩu cha đêm pơ thi/ người già kể khan/ lúc bổng như tiếng mùa sinh sôi/ lúc trầm như lòng sông mùa cạn” (Ia Pa mùa gió). Thơ Hoàng Thanh Hương tuôn trào tự do theo dòng cảm xúc không tuân thủ cấu trúc ngữ pháp truyền thống, nó phát ra như từ ý thức mà lại là vô thức vì vậy thơ chị ghi lại được những điểm bất chợt từ cảm hứng và những chắt lọc tinh từ cuộc sống.

Hoàng Thanh Hương dìu người đọc vào những miền sâu trong tiềm thức tâm hồn, với những rung động nhẹ đến độ “gió lay sẽ đứt” trong một chiều ở khu nhà mồ: “Chiều quạnh quẽ ta ngồi trò chuyện/ Nghe hồn đi và giấc ngủ yên lành/ Đón cho cạn tình ta luyến tiếc/ Rượu ba năm thương đủ ba năm”(Viết ở khu nhà mồ). Nhà thơ trải lòng mình với thiên nhiên với cuộc sống trong ngôi nhà tâm hồn vĩnh cửu của mình. “Đêm với lửa với chiêng ta uống/ Hồn cạn đi rồi vĩnh viễn tạ từ/ Say và hát/ Và say và cạn/ Quanh nhà mồ tro cuốn tả tơi” (Viết ở khu nhà mồ). Đó là cõi vô biên mà gần gũi chan hòa với thiên nhiên nhờ vậy con người kết nối với tâm linh, với nét văn hóa đậm đà bản sắc của người bản địa đang dần mai một bởi cuộc sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa.

Mùa gió hát” là tiếng nói từ tâm hồn thổn thức của nhà thơ trẻ Hoàng Thanh Hương với vùng đất bazan. Và, “thứ đất dính người phải biết” ấy cứ bết bệt vào chị tạo nên sự bối rối, day dứt và cả sự thôi thúc nhà thơ cống hiến, trải lòng mình với nó. “Bazan/ nơi tôi không sinh ra nhưng lớn lên phổng phao quyến rũ/…./ tôi hi vọng thời gian, lòng người và những trái tim biết hát/ để rừng lại xanh, suối lại trong, sông hồ lại ắp đầy sóng sánh/ em gội tóc chiều sông ngực soi mặt sóng/ Những đường cong mềm làm mát mùa khô” (Bazan). Bazan đã thành một hình tượng lặp đi lặp lại trong “Mùa gió hát” trở thành một hình tượng cho thơ và cho tâm hồn của chị, nó như là sự hóa giải giữa những trạng thái hỗ trợ và đối nghịch nhau tạo nên sự hòa hợp khác lạ của ngôn ngữ cảm xúc tạo nên ám tượng nền nã đó mà cũng xa xót đến thắt lòng. Bazan trong chị đang biến đổi theo sự mất dần của những giá trị tâm hồn, những giá trị văn hóa, tâm linh đẹp đẽ đang dần bị xâm lấn, ngự trị trước cơn lốc xoáy hiện đại của xã hội. “một ngày mưa em về/ giày cao gót lên cầu thang chới với/ tóc thôi thơm mùi trời/ lũ em thập thò ngạch cửa/ lắc đầu nụ cười em vẫy gọi/ mẹ cha trố mắt nhìn… (phố đâu phải chốn dành cho những đứa con của làng một đời chân đất)” (Viết giữa mùa khô).

Tập thơ là cuộc dấn thân của tác giả và hành trình cuộc sống với những trải nghiệm nơi vùng đất bazan đầy nắng gió với những đêm xoang bất tận, những ché rượu cần say nối cơn say. Với sự đa ngôn của cảm xúc, sự phong phú của tâm hồn và sự đa cảm đến đa mang tác giả Hoàng Thanh Hương đã làm nên một bazan với những chiều sâu rất lạ trong hiện sinh phồn thực. Và cả những ký họa về cuộc sống, về quê hương dấu yêu bằng sự nhẹ nhàng, gợi mở rộng lớn của không – thời gian qua lớp lớp ngôn từ. Đó là sự gần gụi thân thương lại vừa êm đềm, xa vắng trong miền tâm tưởng đến nao lòng về quê hương: “Nằm lặng thinh nghe gió động sau vườn/ Lá lật phật đùa di da tiếng dế/ Mơ hồ bóng ai ngồi hầu lễ/ Tiếng chuông chùa xa xăm bên sông…” (Quê mình).  Hay “Ngoài phố còi xe inh ỏi/ Tiếng mua bán mời chào/ Tiếng bước chân tứ phía/ Qủa lắc đồng hồ binh boong” (Âm thanh). Mảng màu cuộc sống, tình yêu được đan xen trong tập thơ một cách khéo léo tạo nên bức tranh đẹp với nhiều mảng màu đan xen như những họa tiết quyến rũ trên tấm thổ cẩm bazan cuốn hút người đọc và người thưởng lãm.

Mùa gió hát” như một cuốn nhật ký của một tâm hồn đa cảm, là sự tao ngộ của ngôn từ, là biên độ của những cung đường đã qua, đã đến và cả sắp đi tiếp. Là sự gặp gỡ giữa những hoan ca, những thất vọng và hy vọng và cả sự đau đáu nao lòng đẫm ý thức tính nữ... Tất cả tạo nên một nốt ngân thương như hồn đang vơi… như câu hỏi tự vấn lòng của tác giả: “Em - Pleiku duyên định tự bao giờ?”.

HÀ CÔNG TRƯỜNG
Nguồn: NVTPHCM



Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2019

VĂN NGUYÊN LƯƠNG KHỞI TỪ SÓNG CHỮ SÔNG QUÊ

Là con của một gia đình nông dân nghèo miền Trung, Văn Nguyên Lương vượt khó học hành và trên con đường gập ghềnh trắc trở mưu sinh anh lấy thơ làm điểm tựa giải tỏa nỗi lòng: “Nhóm ngọn lửa vui bằng củi ưu phiền/ Luôn nở nụ cười trong cơn bão tố” (Nốt trầm). Tập thơ Sóng chữ sông quê của anh do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2017 là nỗ lực sáng tạo đáng ghi nhận.
Nhà thơ trẻ Văn Nguyên Lương

Hành nghề giáo dục khoa học tự nhiên nhưng Văn Nguyên Lương lại rất yêu văn chương và có năng khiếu sáng tác thơ. Đó cũng là lẽ thường tình của một người con sinh ra ở vùng đất giàu truyền thống thi ca Quảng Ngãi. Ký ức tuổi thơ, nỗi nhớ quê nhà, kỷ niệm tình đầu cùng nỗi truân chuyên khắc khoải trên hành trình phiêu bạt, sự đồng cảm với những số phận bất hạnh là nguồn cảm hứng cho những tứ thơ đầu tiên của Văn Nguyên Lương, đồng thời cũng phát lộ một con đường thơ mới, tâm huyết, có ý thức sáng tạo với những tín hiệu đáng chờ đợi.

Dần dần bước qua những vần thơ nên vần nên điệu, với vốn văn hóa căn bản của một người chịu khó học và đọc, Văn Nguyên Lương tự tin tạo dựng một không gian thơ riêng mình trên cơ sở tiếp nối có chọn lọc tinh thần thi ca của những người đi trước. Trong bài thơ Nơi tôi sinh ra, anh giới thiệu về mình:

“Tôi mở mắt đón ánh sáng cuộc đời
Phía ngọn núi Đồi say nồng giấc ngủ
Dòng sông Thoa chảy dọc tiếng Quảng thiết tha
Hàng cau vẫy tay ngoài ngõ
Bầy chim sẻ ríu rít rủ nhau về làm tổ
Bóng dừa nghiêng nghiêng rơi tiếng chìa vôi”

Lời thơ gần gũi chân thành mà sâu lắng, tinh tế bằng sự kết hợp, liên tưởng hàng loạt thi ảnh giàu sức gợi cảm. Không thấm đẫm hồn quê, tình quê và khả năng biến hóa ngôn từ thì khó mà viết được những câu thơ sinh động như vậy. Tình yêu quê hương sâu nặng trong thơ anh còn thể hiện qua hình ảnh “ngọn đèn dầu thức thâu đêm” của mẹ, “tiếng bài chòi ngoại hát” thay lời ru, dòng sông trăng “gặp nhau trong nỗi nhớ quê” với chị, tiếng ve khóc cười “giục cánh phượng rơi ngời ánh lửa”, “chùm hoa khế ủ hương” vỡ òa kỷ niệm, “ngồi đếm lá nhớ cố hương” những chiều gió lùa… và từ đó anh đi tìm lại bản thể chính mình, với bao Câu hỏi không lời:

“Ai mang tơ buộc loạn tim mình
Câu hỏi gửi trời xanh, biển thẳm
Thanh âm vút lên lúc trầm lúc bổng
Rơi xuống hố thẳm khôn cùng ...
Ai giải giùm ta,
Câu hỏi không lời...”
Tập thơ Sóng chữ sông quê của Văn Nguyên Lương

Tự hỏi rồi tự âm thầm suy ngẫm, mạnh mẽ vươn lên như “loài cây lớn theo chiều thẳng đứng” giữa bầu trời đôi khi “khô héo niềm tin” vì những điều phi lý, như trong bài Tìm anh viết:

“Vắt kiệt giọt sữa cuối cùng
Mẹ mớm tôi tiếng khóc
Mớm cả tiếng cười trong bão táp mưa sa
Tôi như loài cây lớn theo chiều thẳng đứng
Vươn giữa bầu trời học triết lý đường cong
Học cả những điều phi lý...”

Với một người trẻ thì tình yêu lứa đôi bao giờ cũng chiếm lĩnh tâm hồn. Trong tập thơ đầu tay của Văn Nguyên Lương, thơ tình cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo kể từ khi anh Vấp tình: “Từ độ vấp ánh mắt em/ Anh chơi vơi giữa cuộc đời mộng mị/ Đắp nỗi nhớ lên giấc ngủ/ Gối đầu về phía không em”. Anh ngơ ngác phát hiện ở người yêu “Ánh mắt dài như sợi chỉ/ Khâu nỗi buồn anh hóa kiếp” để rồi:

“Chợt ngày tím biếc bằng lăng
Đỏ bói chùm phượng vĩ
Chú ve non thức tiếng dậy thì
Giục chúng mình hẹn ước”

               (Bức thư tình đầu)

Hẹn ước rồi lỗi hẹn là câu chuyện muôn thuở của tình yêu. Và có khi vì chuyện lận đận áo cơm đành Lỗi hẹn mà phải trả giá: “Ngày anh về/ Đồi chè xanh tàn úa bên đường/ Em tươi cười trong vòng tay người khác”. Cuống cuồng yêu thương, hờn giận, cách xa, nhớ nhung chia tay, trả giá, đau khổ là lẽ thường tình của những lứa đôi trong cuộc đời này. Và chính sự trong sự khổ đau mà thơ tình đã cất lên tiếng nói, dù biết tình yêu muôn đời là nghịch lý “Biết không còn gì/ Sao vẫn vấp/ Tình ơi…” (Vấp tình).

Như nhiều người trẻ yêu văn chương khác, Văn Nguyên Lương đầu tiên đến với thơ như trò chơi giải trí giải tỏa những u uẩn nỗi tình. Nhưng càng dấn thân vào thế giới thi ca kỳ diệu, anh càng phát hiện vẻ đẹp của thơ và năng lực tiềm ẩn chính mình. Bây giờ thì với Văn Nguyên Lương thơ không còn là trò chơi giản đơn như thả diều, bắn bi, nhảy lò cò của tuổi thơ mà là trò chơi “trời cho” đầy đam mê sáng tạo “đất hứa” chữ nghĩa: “Ta đi tìm vùng đất hứa đời ta/ Chở nắng gió bao mùa cày ải/ Sinh sôi.../ Câu thơ ngập nắng vàng tươi” (An nhiên). Anh cũng hy vọng hành trình thơ của mình, mà khởi đầu là Sóng chữ sông quê, sẽ chạm được “bờ vui” tri âm bằng “tay chèo tràn đầy sinh lực” vượt biển đời cam go thử thách với ước mơ “bừng lên hương sắc tình người”: “Chở đôi thúng chữ/ Vượt biển vô thường/ Cơm áo nửa đường rơi/ Từ bến sông mơ ước/ Ngọn nồm ý chí thổi lộng cánh buồm” (Sóng chữ).

Khởi từ Sóng chữ sông quê, hành trình dấn thân và đam mê của Văn Nguyên Lương hy vọng sẽ còn mang lại nhiều mới lạ khi anh hòa nhập vào biển đời thi ca mênh mông và quyến rũ.

PHAN HOÀNG
(Lời tựa tập thơ Sóng chữ sông quê của Văn Nguyên Lương)



HIỆN TƯỢNG LÊ MINH KHUÊ

Trong số các nhà văn đương đại Việt Nam, nếu có thể nói, Lê Minh Khuê là một hiện tượng văn chương đáng quan tâm vì nhiều lẽ.
Nhà văn Lê Minh Khuê

ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong số các nhà văn đương đại Việt Nam, nếu có thể nói, Lê Minh Khuê là một hiện tượng văn chương đáng quan tâm vì nhiều lẽ. Trước hết bà là một nhà văn “trụ hạng” được với truyện ngắn, một thể loại vốn rất khắt khe với những ai dễ dãi trong sáng tác. Đã có không ít người lầm tưởng truyện ngắn chỉ là “bài tập”, chỉ là “giấy thông hành” để bước vào làng văn. Thậm chí có người còn nói quá lên rằng truyện ngắn chỉ là “dao găm súng lục”, đánh gần mà không đánh xa được. Tinh thần trụ hạng này là nhờ chủ yếu vào sức bền của ngòi bút, phẩm tính này giúp bà chung thủy chỉ với truyện ngắn và thành danh nhờ nó. Sự nghiệp văn chương của Lê Minh Khuê gắn với những thành công, thành tựu về truyện ngắn. Cho đến nay bà đã sở hữu 12 tập truyện ngắn, mỗi tập đánh dấu một bước đi vững chắc trong nghề văn: Những ngôi sao xa xôi (1973), Cao điểm mùa hạ (1978), Đoạn kết (1980), Một chiều xa thành phố(1986), Bi kịch nhỏ (1993), Lê Minh Khuê - Truyện ngắn (1994), Trong làn gió heo may (2000), Những dòng sông buổi chiều cơn mưa (2001), Màu xanh man trá (2005), Một mình qua đường (2007), Những ngôi sao, trái đất, dòng sông(2008), Nhiệt đới gió mùa (2012).
         
Trong thời buổi hội nhập, toàn cầu hóa sôi động, văn chương Việt Nam đang cố gắng thoát khỏi tình trạng “nhập siêu” để tiến đến một sự cân đối khi có thể “xuất khẩu” ra thế giới với ý nghĩa là một thị trường khó tính. Theo thời gian, các tác phẩm của các nhà văn đương đại Việt Nam đã có cơ may “đổ bộ” vào lãnh thổ các nước có truyền thống văn chương lớn như Pháp, Mỹ, Anh,…Truyện ngắn Lê Minh Khuê đã được dịch sang tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Tập truyện ngắn Những bi kịch nhỏ đã được dịch ra tiếng Đức, đoạt giải thưởng xuất bản sách tại Hội chợ sách Frankfurt. Nhờ truyện ngắn mà Lê Minh Khuê đã đặt chân được đến nước Mỹ. Báo chí Mỹ nhận xét khá tinh về tác phẩm của bà: “Độc giả Mỹ của ngày hôm nay đã đến mức đòi hỏi tính ẩn dụ tinh tế. Lê Minh Khuê thực sự làm chủ được phép so sánh chính xác. Dưới ngòi bút của bà, lối so sánh này không gì khác hơn là mang tính giản dị…Từng truyện ngắn khuấy động để người đọc nghĩ ngợi xa hơn, đưa con người đến một tương lai mà nhà văn hàm ý hơn là nói trực diện” (Báo Tin Sáng Dallas), “Đây là những truyện nên được dạy trong những giờ văn học và lịch sử trên toàn nước Mỹ, cả ở trường trung học phổ thông lẫn đại học” (Báo The Pilot), “Qua bản dịch, hiện lên hình ảnh tác giả, một người có văn phong đẹp, nghiêm trang, cùng với sự châm biếm tinh tường, đồng thời có khả năng trong những nhận xét đầy sức khơi gợi” (Thời báo New York).
         
Những cống hiến của Lê Minh Khuê trong lĩnh vực văn chương đã giúp bà nhận được những giải thưởng trong nước và quốc tế: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1987 cho tác phẩm Một chiều xa thành phố, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 cho tác phẩm Trong làn gió heo may, Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012. Năm 2008 Lê Minh Khuê đã nhận được Giải thưởng văn học quốc tế mang tên Byeong Ju Lee (nhà văn lớn Hàn Quốc, 1921-1992) cho tập truyện ngắn Những ngôi sao, trái đất, dòng sông.
         
Lê Minh Khuê thuộc số ít các nhà văn đương đại Việt Nam có tác phẩm được chọn đưa vào chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 9 (truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi). Giả sử nếu chỉ được phép chọn năm tác giả truyện ngắn thời kì đổi mới văn chương rất có thể Lê Minh Khuê sẽ nằm trong “top” đó: Nguyễn Minh Châu – Nguyễn Huy Thiệp – Lê Minh Khuê – Trần Thùy Mai – Phan Thị Vàng Anh.
         
Sở dĩ nói Lê Minh Khuê là một hiện tượng còn vì sáng tác của bà thường hay “chia đôi dư luận” (ví dụ như Bi kịch nhỏ, Đồng đô la vĩ đại, Những kẻ chờ sung, Anh lính To-ny D, Nhiệt đới gió mùa, Ráp Việt…). Sáng tác của Lê Minh Khuê là đối tượng nghiên của nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ ở các trường đại học, viện nhiên cứu văn học. Truyện ngắn Lê Minh Khuê có nhiều độc giả, đặc biệt nhiều độc giả trung thành với nhà văn mấy chục năm qua, kể cả những người thích đọc nhanh hoặc đọc chậm. Điều đặc biệt đáng nói hơn là sáng tác của nhà văn thường “gây hấn cảm xúc”, tạo nên những cuộc tranh luận thú vị (chẳng hạn xung quanh Bi kịch nhỏ xuất hiện vào đầu những năm chín mươi thế kỉ trước, đã có rất nhiều ý kiến trái chiều nhau). Gần đây nhất tập truyện Nhiệt đới gió mùa(2012) sau buổi giới thiệu sách ở Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội lập tức hâm nóng dư luận.

CẢM HỨNG THẾ SỰ
         
Có thể nói cảm hứng thế sự là cảm hứng chủ đạo trong sáng tác  truyện ngắn của Lê Minh Khuê. Cảm hứng thế sự trong sáng tác của nhà văn thể hiện ở tinh thần dấn thân, nhập cuộc; ở cái cách “áp sát đời sống”, biết lắng nghe, biết quan sát tất cả mọi diễn biến phức tạp của nhân tình thế thái. Trong truyện ngắn Một ngày đi trên đườngnhân vật Tôi (người kể chuyện) vừa ở chiến trường ra Hà Nội, đến thăm một người bạn tên Đức “Không khí chiến trường còn chế ngự toàn bộ con người tôi. Tôi tới nhà Đức rất mong thấy một cái gì mới mẻ ở anh. Nhưng tôi thấy anh đang ngồi ở hàng hiên có treo nhiều phong lan. Con rùa tha thẩn gần anh (…). Mình ở chiến trường về cứ tưởng ở đâu cũng bốc lửa. Thì ra đây là cái góc bé nhỏ của Hà Nội và tiếng súng ở chiến trường rất xa, ở đây không nghe thấy được. Anh lấy chân đẩy con rùa ra xa. Con rùa rụt cổ vào mai nhưng rất nhanh, nó thò cổ ra ngay và đi vào phòng Đức. Cũng như con rùa, Đức đủng đỉnh đi vào nhà (…). Tôi bất giác lật một cuốn sách của anh, thấy một câu của ai đó, được anh ghi vào lề cuốn sách: “Chúng ta biết những sự bất hạnh tồi tệ và trước hết là sự bất hạnh phải sống”.
         
Cũng trong truyện ngắn này độc giả chứng kiến cái nhìn “áp sát đời sống” của Lê Minh Khuê khi nhà văn miêu tả cái cảnh sống nhếch nhác của những thị dân của một thành phố lớn “Khu nhà tôi ở rất đông người, phải ngăn, phải chia ra nhiều khu vực, nhiều phòng tạm. Ban đêm chuột hoành hành dữ dội. Nó bò cả lên chân, nó lách qua người đang ngủ để tìm lối đi, giấc ngủ cứ bị ngắt quãng luôn. Sáng dậy đã nghe tiếng cãi nhau. Mang chậu quần áo xuống nhà làm vệ sinh thì gặp quá đông người. Ai cũng vội, ai cũng cần, có hôm chỉ rửa mặt qua loa rồi lên thôi còn phải nhường người khác vì nước trong máy chảy nhỏ ra nhỏ như cái đũa…”. Cái cảnh sống tập thể nhếch nhác sau này còn được nhà văn tả rất kĩ trong truyện Nhiệt đới gió mùa “Suốt ngày lối đi lênh láng nước. Nhiều gia đình chứa đồ bằng cách đóng đinh chi chít lên tường loại tường phải khoan bằng máy để treo bị treo túi đựng quần áo sách vở”. Sự nhếch nhác hình như cứ đeo bám những con người ở phố thị trong truyện Những kẻ chờ sung “Hơn chục năm sau, đám người mới đến đã sinh sôi nảy nở như ruồi, biến cái  nhà này thành một cái nhà ga, thành khu ổ chuột chính cống. Cái nhà xí máy trước kia sạch như li như lau bây giờ phải hút một tuần một lần mà cứt đái cứ ngập ngụa ra cả lối đi, và chuột bọ cũng sinh sôi nhanh như người. Đêm đêm chuột cống to xù  như cái vại ngang nhiên  đi dạo ở cá lối đi. Người thì suốt ngày chí chóe chuyện điện nước, chuyện rác rến và đã có vụ đâm chém nhau vì tranh chỗ để xe đạp”. Và đây là cảnh sống của sinh viên ở ký túc xá thời bao cấp trong truyện Bi kịch nhỏ: “Tôi nằm tầng giường dưới và bị dị ứng mũi vì hứng trọn số bụi giát giường trên, vì cô bạn gái ở tầng trên không bao giờ giũ giường trước khi đi ngủ. Thời đó, bọn con trai đi ăn cơm ở bếp tập thể không cần bát. Cơm đổ vào chậu, thức ăn đổ vào cùng, và các chàng mỗi người một thìa cắm đầu vào múc. Những cầu thang ký túc xá sinh viên ngập ngụa rác và nước tiểu. Những trí thức tương lai suốt ngày ngồi uống chịu nước trà ở cổng, tóc tai bù xù, mặt mũi xanh xao vì thiếu ăn. Có những bữa cơm không có, mỗi người được một quả đấm – một nắm bột mì cứng như đá, cắn một miếng kéo ra được cả một cọng rau muống dài hàng sải, dùng làm nhân”.
         
Nói nhà văn “áp sát đời sống” không có nghĩa là chỉ có nhìn gần, nhìn kĩ sự nhếch nhác của đời sống mà còn nói đến cái nhìn xuyên thấu tim đen quá trình tha hóa của con người thời đại. Trong sự tha hóa của con người, nhà văn chú ý đến hai “chủng loại” chính: do lòng tham vật chất và do lòng tham quyền lực. Lòng tham là một trong những nguyên nhân dẫn đến những bi kịch đời sống. Cảm hứng thế sự trong sáng tác của Lê Minh Khuê hiển thị qua những bi kịch, tiêu biểu nhất phải kể đến truyện Bi kịch nhỏ. Ông Tuyên là một cán bộ cao cấp (nhà ông ở có lính gác, ông đi xe vonga), ông là người thành danh và thành đạt trên quan lộ. Nhưng ông rơi vào bi kịch khi chính mình là nguyên nhân sâu xa gây nên cái chết của Quang –đứa con trai năm xưa ông cố tình xa lánh cùng người mẹ xấu số của nó. Ông quyết xa lánh vợ con vì “ngửi thấy mùi tử khí bắt đầu tỏa ra trong không khí chính trị ở nông thôn, đã viết thư cho vợ là yên tâm chờ, ông sẽ về khi nào yên hàn” Nhưng ông Tuyên đã “lặn mất hút trong cái biển chính trị sôi sục lúc ấy”. Sự chia cắt về không gian và thời gian khiến cho hai anh em cùng cha khác mẹ (Quang và Cay) không nhận biết gốc tích để rơi vào nghịch cảnh trở thành vợ chồng. Nhận ra sự thật thì đã quá muộn. Phải có một người ra khỏi “cuộc chơi của số phận” đắng cay này, không ai khác chính là Quang. Anh ta đã tự sát. Tác giả viết: “Chuyện đó có lẽ kết thúc như thế. Nhưng tôi không thể chịu được cái ấn tượng về khuôn mặt đẹp đẽ của anh tôi sẽ dần tan đi, rữa nát trong đất đen”.
         
Một dạo Bi kịch nhỏ đã gây sóng gió cho nhà văn. Nhưng với thời gian, bây giờ nhìn lại, mới thấy cách đặt vấn đề của nhà văn trong truyện quả thật là gai góc, động chạm đến không ít người có địa vị - sự mất nhân cách do tha hóa, sự tha hóa do dục vọng quyền lực. Có một kiểu tha hóa khác gây nên do lòng tham vật chất. Lòng tham khiến đạo đức con người bị méo mó, biến dạng như trong Những kẻ chờ sung, Đồng đôla vĩ đại, Anh lính To-ny D,…Cha con, anh em có thể chơi xấu nhau vì đồng tiền. Vì đồng tiền huynh đệ có thể tương tàn, cảnh “nồi da nấu thịt” là điều không khó xảy ra. Tinh thần phê phán quyết liệt cái xấu, cái ác trong truyện ngắn Lê Minh Khuê vì thế có thể nói lên tới cao trào. Không ít độc giả cho rằng nhà văn quyết liệt đến mức cay nghiệt trong phê phán đồng loại. Điều đó không sai. Nhưng cần khách quan khi phân tích thái độ phê phán của nhà văn  như một sự tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của cái thiện chống lại cái ác đang diễn ra  từng ngày xung quanh chúng ta.
         
Cảm hứng thế sự trong nhiều trường hợp giúp nhà văn nhìn ra cái không bình thường trong đời sống. Trên tinh thần “phóng đại thẩm mỹ”, trong nhiều trường hợp nhà văn đã soi chiếu những trường hợp đời sống mang màu sác khác lạ như trong các truyện Ronan Keating, Thầy giáo dạy triết, Đồ cũ,…Nhân vật con người không hợp thời ở đây là những thầy giáo dạy văn học, dạy triết học, một viên chức về hưu. Họ là những con người tốt, có thể nói là mẫu mực cũng được, xét từ phạm trù đạo đức. Nhưng họ đôi khi đóng vai “người thừa”, “kẻ bảo thủ” trong xã hội vì cái tư chất kẻ sĩ của mình – giữ tiết tháo, lòng trung thực và tinh thần nhân văn. Nhưng trong dòng đời cuộn chảy hôm nay họ đôi khi tỏ ra ngây thơ và lạc lõng một cách đáng yêu. Họ trở thành những người chỉ có thể “kính nhi viễn chi” mà thôi.
         
Gần đây nhất khi tập truyện Nhiệt đới gió mùa của bà ra mắt, bạn đọc một lần nữa lại cảm nhận được một cách rõ ràng cảm hứng thế sự thấm đượm trong từng trang viết. Nhưng nổi bật nhất có lẽ phải kể đến truyện Nhiệt đới gió mùa được dùng dặt tên cho cả tập. Chất liệu là chất liệu của một cuốn tiểu thuyết nhưng được dồn nén tối đa trong hình thức một tuyện ngắn có “mầm mống tiểu thuyết” vì tôn trọng độc giả (không muốn làm mất thời gian đọc của các “Thượng đế”), như lời trần tình của nhà văn trong buổi giới thiệu sách ngày 27-12-2012 tại Trung tâm Văn hóa Pháp, Hà Nội. Qua câu chuyện của một gia đình tác giả muốn đặt ra một vấn đề còn khiến 90 triệu người Việt Nam suy nghĩ và trăn trở dù chiến tranh đã trôi qua mấy thập kỉ - xóa bỏ hận thù, cùng nhau hòa giải và hòa hợp dân tộc. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc trả lời phỏng vấn gần đây cũng đã nhấn rất mạnh đến vấn đề này: “Nếu nhìn vào những hi sinh mất mát to lớn, xét về nguyên tắc là không thể nhân nhượng, bỏ qua. Nhưng xét về tình dân tộc, nghĩa đồng bào, đã 40 năm rồi, thì trong quan hệ có thể cởi mở, mềm dẻo, đối xử nhẹ nhàng”. Đó chính là “tinh thần đại xá” của người Việt Nam (Vietnamnet.vn, 27-4-2015). Bằng con đường văn chương nhà văn Lê Minh Khuê đã góp phần vào hóa giải hận thù, khơi thông lòng người thuộc hai chiến tuyến cả trong chiến tranh và thời hậu chiến qua câu chuyện cảm động của hai anh em cùng cha khác mẹ do hoàn cảnh chiến tranh đã rơi vào cựu thù: “Vùng nhiệt đới gió mùa mang theo hơi ẩm từ biển vào luôn gây ra cho con người những cơn bức bối khó chịu không biết trút vào đâu người ta hay trút vào nhau. Dải đất hẹp trần trụi chạy dọc biển Đông nhiều khi nhìn trên bản đồ thấy mong manh như làn khói gió biển thổi mạnh là có thể cuốn phăng, con người lại không biết sự mong manh đó cứ cố sống cố chết chạy theo thù hận. Thù hận làm đời ta ngắn lại”.

NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
          
Thế giới nhân vật mà nhà văn Lê Minh Khuê tạo ra trong truyện ngắn hết sức đa dạng, phong phú. Trong giai đoạn sáng tác đầu (vào những năm bảy mươi đến đầu những năm tám mươi thế kỉ XX), Lê Minh Khuê viết nhiều về những người trẻ tuổi, tự nguyện dấn thân, tham gia cuộc chiến tranh ác liệt với tất cả sức mạnh của lí tưởng cách mạng và sức trẻ có thể dời non lấp biển. Trong Cao điểm mùa hạ (1978) và Đoạn kết (1980) – hai tập truyện đã khẳng định tên tuổi Lê Minh Khuê trên văn đàn – người đọc thường bắt gặp những nam nữ thanh niên xung phong, những người lính trẻ trên các cung đường Trường Sơn thời chiến tranh. Họ tươi tắn, trẻ trung, yêu đời và vô tư lự. Giữa tác giả và nhân vật có một mối đồng cảm lớn vì cùng đều thế hệ và cùng trải nghiệm chiến tranh. Những ngôi sao xa xôi là một ví dụ sinh động, ở đó độc giả bắt gặp những con người của một thời trong sáng, vô tư, sống hết mình. Họ mang vẻ đẹp thuần khiết của một thế hệ sống quên mình vì nghĩa lớn (có lẽ vì thế truyện này được chọn đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 9). Sau chiến tranh họ may mắn trở về với đời sống thường nhật với bao nhiêu lo toan, buồn vui rất thực tế. Nhìn bề ngoài tưởng như họ bị nhấn chìm vào đời thường và lãng quên quá khứ. Nhưng thực ra không phải như thế, trái lại họ đang “chiến đấu” với chính mình để vươn lên. Trong truyện Một ngày đi trên đường, độc giả thấy có một chàng trai đẹp đẽ làm nghề phiên dịch. Bề ngoài anh ta rất hào hoa phong nhã, lại có nhiều tiền (qua quần áo và trang sức). Nhưng thực ra thì chàng trai đó đã được thử thách qua” lửa đỏ và nước lạnh” của chiến tranh – trước đây anh từng là lính tên lửa. Từ chiến  trường trở về anh đã kịp học xong đại học ngoại ngữ, đã tìm được việc làm phù hợp. Họ là những người có tinh thần dấn thân, nhập cuộc.
         
Chiến tranh kết thúc, đời sống hòa bình mở ra nhiều phía, con người dễ dàng thay đổi theo nhiều hướng phức tạp. Nhà văn coi tâm hồn con người cũng như một dòng sông: khúc khuỷu, bên lở bên bồi, chỗ rộng chỗ hẹp, nơi nước chảy xiết nơi lặng lờ…Tìm cho mình sự cân bằng tâm thế  luôn là hành xử tích cực của nhân vật trẻ tuổi trong truyện ngắn Lê Minh Khuê giai đoạn đầu sáng tác. Một chiều xa thành phố (1986) là tập truyện thể hiện cuộc bứt phá của Lê Minh Khuê trong truyện ngắn. Nhà văn quan sát sự chuyển động âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt “cơn lũ quét” của đời sống hiện đại đang cuốn phăng con người vào những “mê cung” của nó (đời sống tiện nghi, tâm lí tiêu dùng, thói lãnh cảm với đồng loại…).
          
Bi kịch nhỏ (1993) thật sự là lối rẽ trong sáng tác truyện ngắn của Lê Minh Khuê, nơi mà phê phán là âm điệu chủ yếu và con người tha hóa hiện lên như một nhân vật trung tâm của tác phẩm. Vì địa vị xã hội và tham vọng quyền lực mà ông Tuyên đã nhận lấy cái kết cục bi đát khi đứa con đẻ của mình tự tử. Một cái chết có tính “ân oán giang hồ”, “cha ăn mặn con khát nước”. Trong truyện Anh lính To-ny D nhà văn miêu tả mối quan hệ cha con bị rạn nứt và băng hoại vì đồng tiền. Vì tiền mà đứa con trai ép cha đẻ mình phải thề thốt, phải chặt đứt một ngón tay để chứng minh lòng trung thực của mình. Vì tiền mà thằng Thán, đứa con bất hiếu đã đay nghiến, dồn ép ông Thiến - cha đẻ của mình : “Thề đi! Chặt đi đồ sâu bọ. Chặt ngay không là thụt lưỡi với thằng này”. Trong truyện Đồng đôla vĩ đại nhà văn miêu tả cảnh “huynh đệ tương tàn”, anh em trong một nhà vì đồng tiền mà nhẫn tâm sát hại nhau (thằng An giết vợ thằng Khang, tức chị dâu của mình đang mang thai, nó lĩnh án tử hình vì một lúc tước đoạt mạng sống của hai người).
         
Trong truyện ngắn Lê Minh Khuê xuất hiện kiểu nhân vật cô đơn mang nỗi buồn vốn được coi như là biểu hiện của một trạng thái tinh thần xã hội. Trong truyện Mong manh như là tia nắng, nhân vật người mẹ lúc nào cũng buồn: “Tôi vẫn không hiểu sao vào những lúc rỗi rãi, mẹ vẫn buồn. Gia đình như vậy là khá giả (…). Nhưng không hiểu sao mẹ vẫn buồn”. Đoạn kết truyện ngắn lại vẫn ngân lên một điệu buồn: “Mẹ vẫn cứ buồn vào những lúc không phải cắm cúi kiếm ăn. Mỗi người có một bí mật, một nỗi buồn, một kỉ niệm. Tôi biết mẹ sống đến hôm nay mà được như vậy chắc nhờ những bí mật, nỗi buồn và niềm khao khát ấy”. Trong những truyện khác như Một buổi chiều thật muộn, Cơn mưa cuối mùa,  Trong làn gió heo may,…với điệu cảm trữ tình, Lê Minh Khuê đã khá tinh tế trong việc khắc họa “gương mặt buồn” của các nhân vật nữ. Buồn có thể là sự nuối tiếc những kỉ niệm đẹp đẽ, buồn cũng vì con người cố gắng giãy giụa để thoát khỏi sự thiếu thốn tình cảm, nhưng cuối cùng hóa ra hạnh phúc là một cái gì đó hết sức mong manh, dễ vỡ, vụt đến vụt đi. Nhưng đến Nhiệt đới gió mùa thì dường như nỗi buồn  lại càng trĩu nặng hơn trên đôi vai của những người đàn ông. Không còn là nỗi buồn của “phái yếu” nữa, giờ đây “phái mày râu” lâm trận và đa mang nỗi buồn xứ sở bị chia cắt vì thế lòng người phân tâm, bao nhiêu là nghịch cảnh trớ trêu và phi lí đổ ập xuống những thân phận như Hiếu, như Phong (là anh em cùng cha khác mẹ). Cả hai đã giáp mặt nhau trong tư thế là đối phương, thậm chí  là kẻ thù của nhau. Hiếu là người lính giải phóng, còn Phong là lính quốc gia của Việt Nam Cộng hòa. Có nỗi buồn nào lớn hơn nỗi buồn do cảnh “huynh đệ tương tàn”, “nồi da nấu thịt” đến với không chỉ anh em Hiếu và Phong. Nỗi buồn ở đây sâu lắng và đau đớn hơn với Hiếu và những người có lương tâm- làm thế nào để xóa bớt lòng thù hận vì  “thù hận làm đời ta ngắn lại”.
          
Những kẻ kì dị cũng là một nét đặc sắc trong thế giới nhân vật của Lê Minh Khuê. Nhà văn đã vận dụng cái gọi là “nghịch dị ” (grotesque) trong quá trình xây dựng nhân vật. Lão Luốc trong truyện Bến tàu mùa đông là một ví dụ. Lão có một hành tung bí ẩn, có một cuộc sống đượm vẻ giang hồ phiêu lưu. Trong căn bản lão là một người tốt, ít nhất trong con mắt mẹ con mụ Tư Héo. Lão phải chạy trốn cái ác do đồng loại sẵn sàng đổ lên đầu: “Cách đây một năm cháu ạ, ta còn ở đoàn kịch. Ta may quần áo cho cánh diễn viên. Rồi ta phát giác ra một đường dây làm ăn kinh tởm (…). Họ đi lùng ta mấy tháng nay. Ta đã phải bán nhà, ta đã cho vợ con đi vào Nam. Ta còn ở đây đến hôm nay vì có việc. Xong việc rồi vì thế họ càng muốn giết ta.. Nói cho đúng ra họ sẽ không giết. Họ dọa thôi. Họ muốn biết một điều mà chỉ ta nắm được. Nhưng đừng hòng, ta sắp đi”. Thằng Nghẽo tàn tật, dị dạng đáng thương trong truyện Đồng đôla vĩ đại cũng là một điển hình của những kẻ kì dị: “Thằng Nghẽo bị bệnh gì mà lở lói khắp người (…). Nó rét. Nó cũng biết ra vườn nhặt củi vào đốt lửa sưởi, người ngứa thêm. Nó cởi quần áo ra, và nó bóc từng mảng vẩy đóng tren người nó. Bỏ vào than nướng cháy khét lẹt rồi cho vào mồm ăn. Nó ăn vẩy của nó có vẻ ngon lành lắm”. Thằng Cảnh trong truyện Ráp Việt cũng là một “kì nhân”. Hắn giết người không ghê tay, người bị hắn giết là một cô gái tên Lan Hương, người đoạt giải thưởng trong cuộc thi kể chuyện truyền thống. Người trở thành tấm gương để mọi người noi theo là ông nội Cảnh. Vì thế Cảnh cho rằng Lan Hương đã xúc phạm ông nội hắn, một người mà “cả quê hương tôn vinh suốt những năm chiến tranh”.
          
Chi tiết nghệ thuật không phải là cứu cánh nhưng là nét đặc sắc trong truyện ngắn Lê Minh Khuê. Trong bài Hỏi chuyện Lê Minh Khuê (Báo Văn hóa Chủ nhật, số 967 năm 2004) do Bùi Việt Thắng thực hiện, nhà văn xác nhận: “ Với tôi, chi tiết đóng vai trò quan trọng trong truyện ngắn. Bởi vì muốn truyện ngắn gây ấn tượng không thể không có chi tiết đặc sắc (…). Truyện ngắn của các tác giả cổ điển trong nước và ngoài nước, từ trước đến giờ, tôi vẫn thích Sêkhôp, Lỗ Tấn, Nam Cao. Truyện của họ giàu các chi tiết đặc sắc. Đọc họ, ấn tượng đọng mãi không phai là nhờ các chi tiết”. Trong truyện Bi kịch nhỏ, có chi tiết bức ảnh lúc nào Quang cũng mang theo bên mình chụp anh lúc còn nhỏ, trong đó có hình người đàn bà và phía sau có dòng chữ “Cu Tỵ ơi, con giữ lấy ảnh này để biết mẹ con, hãy thương mẹ Hàn như mẹ. Làng Sầm – 1953”. Nhờ tấm ảnh này mà ông Tuyên nhận ra Quang (tên ở nhà gọi là Tỵ), chính là con trai của mình sau mấy chục năm cách biệt. Còn Cay là em của Quang (cùng cha khác mẹ), suýt nữa thì thành vợ thành chồng. Bi kịch đổ ập xuống gia đình ông Tuyên, và Quang là người  phải ra đi. Anh đã tự tử để giải thoát cho mình và cho người khác. Trong truyện Nhiệt đới gió mùa có chi tiết Hiếu bị kẻ thù móc mắt: “Hai thằng nhân viên lực lưỡng nhảy như con báo về phía Hiếu đang ngồi, xô ngã cái ghế và một thằng ôm cứng vai anh thằng kia lấy con dao biệt kích nhọn hoắt làm một động tác thành thạo. Ngửa đầu Hiếu ra sau nó thọc mũi dao vào một bên mắt khoét một vòng rồi hất một cục như hòn bi cùng với da thịt dính theo xuống nền xi măng. Hiếu chưa kịp hiểu vì sao chúng cầm dao nhọn về phía anh thì toàn thân thân anh như bị ném ở độ rất cao xuống vì cơn đau của mũi dao đâm vào vùng mắt (…). Thế là huề nhá, anh Hiếu! Tôi xin một mắt của anh đền cho mẹ tôi! Phong nhặt cái cục thịt đẫm máu trong đó có con mắt của Hiếu cho vào túi ni lông như giữ tang vật”. Hai anh em cùng cha khác mẹ vì một mối hận trong nội bộ gia đình nay đối xử với nhau như thế  đã để lại “thù hận trong lòng Hiếu mới nảy sinh mạnh mẽ từ lúc ấy”.
         
Tuy nhiên cũng phải nói rõ hơn: Chi tiết đôi lúc như con dao hai lưỡi nếu nhà văn không biết tiết chế. Trong một vài trường hợp, những chi tiết rùng rợn hay tự nhiên chủ nghĩa đã làm tổn hại đến hình tượng nhân vật cũng như chủ đề tác phẩm. Trong một số truyện như Đồng đô la vĩ đại, Anh lính To-ny D, Những kẻ chờ sung, Chó điên, Ráp Việt, …Lê Minh Khuê tỏ ra hứng thú chạy theo các chi chi tiết gây cấn, tạo cảm giác mạnh, thậm chí gây sợ hãi, mà quên mất cái “ngưỡng” cần thiết của nó, nói cách khác là “độ dừng” của nó. Truy tìm nguyên nhân của khía cạnh này, theo chúng tôi, có thể xuất phát từ một cái nhìn của nhà văn thường nghiêng về phát hiện cái bản năng, phần hoang dã tự nhiên trong bản tính con người thời hiện đại. Đôi chỗ nhà văn thậm chí còn áp sát miêu tả cái tâm lí bầy đàn như một động lực xui khiến con người hành động trong vô thức và bản năng.
          
Đoạn kết truyện ngắn Lê Minh Khuê khá độc đáo khi bà ý thức được nó như một “cú đấm nghệ thuật” có thể chinh phục hoàn toàn độc giả khi tiếp xúc với tác phẩm. Có thể dẫn ra những đoạn kết hay, nhiều ấn tượng trong Bi kịch nhỏĐồng đô la vĩ đại, Bến tàu mùa đông, Nhiệt đới gió mùaMàu xanh man trá,…Những đoạn kết được Lê Minh Khuê viết ra một cách tự nhiên  như thể cuộc sống ắt phải diễn ra như thế, giản dị và không hề gò ép, khiên cưỡng. Không ít người viết non tay phải ghen tị về cách viết đoạn kết truyện ngắn của Lê Minh Khuê. Bi kịch nhỏ là một ví dụ về cách dẫn dắt truyện ngắn đi nhanh tới một kết thúc “không có hậu”, một lối kết thúc “phi truyền thống” (mặc dù truyện khá dài, gần 50 trang). Tốc độ phát triển của cốt truyện, sự nối kết các tình tiết, cách tạo dựng tình huống bất ngờ cố kết tạo nên một sức mạnh tổng lực khiến cho sức nặng của câu chuyện được kể ngưng đọng và tạo trọng lực ở đoạn kết. Đó là cách tạo những “bước hụt”, tạo bất ngờ như khi chứng kiến cái chết của Quang: “Tôi mở cửa vào nhà. Một bức điện luồn qua dưới khe cửa, nằm ngay ở lối vào. Tôi mở xem: “Quang tự tử tại khách sạn M. Tầng 5 phòng…Nạn nhân đề nghị nhân viên khách sạn báo cho cô. Mời cô vào giải quyết…”. Trong truyện Màu xanh man trá, cũng bằng thủ pháp tạo “bước hụt”, nhà văn gây bất ngờ cho độc giả khi đang theo dõi một “pha” trốn vợ đi theo người tình của một người đàn ông tên Đạt. Nhưng trước giờ máy bay cất cánh, anh ta đổi ý muốn trở về nhà vì có hẹn mang thuốc về cho con trai. Trở về nhà  gần gũi vợ con, anh ta lại một lần nữa đổi ý với Sương – người tình: “Thôi, mọi chuyện khoan khoan em ạ. Thằng Tuấn nó đau! Đạt biết sau câu ấy là nước mắt của sương. Nhưng rồi chắc sẽ nhẹ đi”. Có thể nói nhà văn rất có thức tìm “lối thoát” cho nhân vật của mình, lối thoát đó thường được mở ra đúng lúc ở những đoạn kết truyện ngắn “Chuyện đó có lẽ kết thúc như thế”. Hai chữ “có lẽ” trong trường hợp này hay khác hàm ý nghĩa giả định nhưng lại như một khẳng định, tuân thủ theo chân lí nghệ thuật.
         
Có thể nêu một nhận xét khác về đoạn kết trong truyện ngắn Lê Minh Khuê thường để lại một cái gì đó chưa thành, chưa tới, nó cứ lơ lửng và thách thức cả nhân vật lẫn độc giả. Nói cách khác đó chính là những giả thiết tạo ra khoảng rộng cho suy tư về tương lai (thường mờ mịt) của nhân vật, kiểu như “Ngày mai sẽ chuyện gì (…). Ngày mai lại lo tiếp” (Xe Camry ba chấm), “Chờ đứa trẻ ra đời để xem nó là trai hay gái. Cũng chưa biết làm gì tiếp theo” (Lãng mạn nửa mùa).
          
Đối thoại được Lê Minh Khuê quan tâm trong sáng tác truyện ngắn, được coi như một cách thức “đưa đẩy” câu chuyện. Được biết bà rất mê nhà văn Mỹ E.Hêminguê, đặc biệt mê lối viết đối thoại ngắn gọn, sắc bén và làm nổi bật thần thái nhân vật và câu chuyện. Bà cho biết đã đọc đi đọc lại nhiều lần truyện Những rặng đồi tựa đàn voi trắngcủa E. Hêminguê, coi đó là một mẫu mực viết đối thoại truyện ngắn. Trong truyên Anh lính Tô-ny D, đối thoại giúp bộc lộ “chân tướng” nhân vật: Thằng Thán là đứa con bất hiếu, còn ông Thiến là người bố nhu nhược và tội nghiệp. Đây là cuộc đối thoại giữa hai cha con nhân một vụ  thằng con kêu mất tiền: “Thằng Thán về nhà trước và khi bố nó vừa bước qua cái cửa cót ép, nó túm cổ lão Thiến:

-Tiền đâu?
Lão Thiến sửng sốt:
-Sao lại hỏi tao tiền?
-Tiền tôi để dưới cục gạch này, bố đem đâu rồi?

Lão Thiến chỉ biết lắc đầu, lùi xa bàn tay cứng như gọng sắt của thằng con. Lão không nói nên lời. Thằng Thán thấy bố như vậy càng nghi ngờ một cách điên dại.

-Ông nôn ra. Tiền mồ hôi nước mắt của thằng này, ông nuốt không trôi đâu. Ba triệu đồng của tôi không phải của thiu thối!

-Tao không lấy!
-Ông không lấy thì chó vào đây à? Nôn ra!”.
         
Đoạn văn đối thoại trên giống như một tiểu phẩm đầy kịch tính phản ánh sự băng hoại đạo đức, sự tha hóa của con người dưới áp lực của đồng tiền.
         
Lê Minh Khuê có ý chăm chút cho đối thoại trong truyện ngắn. Có truyện như Cơn mưa cuối mùa, chỉ có 20 trang mà chứa đến 130 dòng đối thoại. Nhà văn Hồ Anh Thái nhận xét: “Lê Minh Khuê khéo viết đối thoại. Gọn gàng, chắc chắn, hiếm khi thừa lời và có ấn tượng. Những đối thoại chính xác, chứa đầy thông tin và ngổn ngang tâm lí”. Khi nói về “tốc độ” như một đặc điểm của văn phong Lê Minh Khuê chính là nói về ưu thế viết đối thoại của nhà văn trong truyện ngắn.

BÙI VIỆT THẮNG
 Nguồn: Tạp chí NV&TP


Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019

NHÀ VĂN LÊ VĂN THẢO: MỘT LÃO NÔNG NAM BỘ ĐÍCH THỰC

Mộc mạc, chân chất như một lão nông Nam bộ, phong cách nói chuyện cởi mở, hiền hòa, hay pha trò như bao người con ở sông nước Cửu Long, đó là nhà văn Lê Văn Thảo.
Nhà văn Lê Văn Thảo

Bạn bè gặp nhau, anh rất ít nói về văn chương mà chỉ say sưa kể về chuyện đời, nhắc chuyện ở rừng, chuyên ăn uống, sinh hoạt của ông bà ta ở làng quê ngày xửa ngày xưa xa lắc. Anh nhiều lần ao ước có một đêm ngủ lại trên một chòi cá ở đầm Thị Tường, Cà Mau, nơi mà anh đã lấy bối cảnh viết cuốn tiểu thuyết Cơn giông. Một nhà thơ ở chót mũi Cà Mau, nói về anh: Trong số các nhà văn mà tôi thường giao du, bất luận trẻ già, chưa thấy ai đọc sách, nói rõ là đọc văn học nhiều như nhà văn Lê Văn Thảo. Đi với anh bất cứ đâu, lúc nào, nếu có một khoảng thời gian không làm gì hay phải chờ ai, là anh giở sách ra. Trong sách luôn có miếng bìa đánh dấu chỗ cần đọc tiếp. Những người chơi với anh lâu ngày đều biết điều này: rất hiếm khi nghe anh bàn luận chuyện văn, cả chuyện chính trị - xã hội nữa. Chỉ nghe anh nói toàn chuyện chơi, chuyện tào lao. Thoảng hoặc mới nghe anh nói thích cuốn sách vừa đọc của một tác giả nào đó ở châu Phi hay châu Mỹ có cái tên lạ hoắc. Chính vì vậy mà anh viết như không và sống như chơi. Cho nên trong những dòng viết đưa tiễn anh về nơi mây khói, tôi không nhắc nhiều đến chữ nghĩa mà chỉ là những câu chuyện lúc sinh thời anh thường kể cho chúng tôi nghe hoặc chúng tôi kể anh nghe.

Anh tên thật là Dương Ngọc Huy. Cũng như nhiều nhà văn vào chiến khu kháng chiến để tránh bị địch truy lùng họ hàng, anh chọn cho mình cái tên Lê Văn Thảo, theo họ mẹ.

Thời sinh viên, anh học khoa toán Trường Đại học Khoa học Sài Gòn. Nhưng tại sao anh lại mê viết văn? Anh nói: Không phải người học toán là không mê văn chương. Thuở đó, anh rất thích đọc tạp chí Bách khoa và Sáng tạo rồi cũng tập viết truyện. Năm 1962, anh vào chiến khu và truyện ngắn đầu tay Đêm Tháp Mười in trên báo Văn nghệ giải phóng. Anh là nhà văn, trưởng thành trong kháng chiến nên hầu hết các tác phẩm của anh trước đây đều viết về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân. Cảm xúc cái gì thì viết cái nấy, anh nói. Cho nên Lê Văn Thảo rất thích cuốn Sống để kể lại của nhà văn Marquez. Tôi viết chân thật tự nhiên, cố tránh giả tạo, màu mè, cố ý làm dáng. Anh nói, thế hệ cầm bút thời của anh ở Nam bộ không nhiều, lại hy sinh không ít, có người giữa đường lại rẽ sang ngành nghề khác cho nên bản thân phải hết sức cố gắng được cái nào hay cái nấy và hy vọng thế hệ sau.

Ngay những ngày kháng chiến gian khổ ở chiến khu, Lê Văn Thảo đã nhiều lần viết thư cho nhà thơ Bảo Định Giang đang công tác tại Hà Nội. Một bức thư có đoạn: “Kính thưa chú Bảy, đa số anh em trong tổ văn (cháu, anh Nhã, anh Anh Đức, Diệp Minh Tuyền, Chí Hiếu) đang chuẩn bị đi công tác ở Sài Gòn và miền Trung Nam bộ. Cháu và anh Nhã vừa viết xong một truyện vừa, có thể gửi ra trong dịp này. Anh Đức đang viết phần cuối cuốn tiểu thuyết. Chí Hiếu và Tuyền cũng làm được khá nhiều thơ. Đó là phần “số lượng” còn “chất lượng” thì còn “hồi hộp” lắm. Riêng về phần cháu thì thú thiệt cháu đang cố gắng dữ lắm. Cháu còn nhỏ, mới tham gia cách mạng, nhất là mới “nhảy” sang nghề văn này nên còn phải sống và học nhiều lắm...”

Cuối thư, Lê Văn Thảo viết những dòng riêng tư đầy xúc động: “... chú Giang ơi, cháu có hai đứa em ra học ngoài đó, nếu có thể cháu có đồng nhuận bút nào xin chú lãnh giùm đưa cho hai đứa cháu xài đỡ. Đó là em Dương Quốc Đạt (giáo viên) và Dương Cẩm Thúy (học sinh) ở Trường Nguyễn Văn Trỗi" (trích sách Văn nghệ một thời để nhớ, NXB Văn hóa - Văn nghệ TPHCM, 2014).

* * *

Tôi chợt nhớ trong lúc Lê Văn Thảo đang chống chọi với căn bệnh quái ác, ngày 27-4-2016, nhiều thế hệ bạn văn của anh cùng Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức buổi tọa đàm về anh như lời chúc sức khỏe và thêm một nguồn động viên anh tiếp tục “Những năm tháng nhọc nhằn”.

Hôm đó dù không đủ sức để đến dự, có lẽ Lê Văn Thảo cũng cảm nhận được không khí xúc động và niềm chân thành đáng quý từ những lời tốt đẹp dành cho anh. Cô em gái Dương Cẩm Thúy của anh rưng rưng nhớ lại: Hồi thoát ly vào rừng chị học ở Trường Nguyễn Văn Trỗi với bao gian khổ. Trận càn năm 1970, đã cướp mất một người chị ruột thứ Sáu, chị Dương Thị Lệ Chi. Lúc ấy, anh Lê Văn Thảo đang ở nơi khác. Sau trận càn, Cẩm Thúy sơ tán và gặp anh của mình trên đường hành quân, chị nhớ mãi giây phút anh em gặp nhau, anh Thảo nói: “Em về với anh!”.

Và cũng mới đây thôi, ngày 16-9 vừa qua, anh gọi tôi đến nhà “để nói chuyện chơi”. Anh nằm nghiêng trên chiếc ghế xếp, còn tôi thì ngồi sát bên anh, cạnh góc hè mà mỗi lần đến, anh thường kéo ra đó uống trà. Hôm đó, bằng trí nhớ tuyệt vời và giọng nói rất hào sảng, từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều, anh kể tôi nghe biết bao nhiêu chuyện như những lời trăn trối sau cùng và tôi kể anh nghe những chuyện không đầu, không đũa.

Anh cho biết, anh còn một số đề tài nữa mà chưa viết được, thấy bứt rứt quá! Tôi nói với anh, không ai có thể làm hết việc của một đời người. Rồi anh kể trường hợp bác Tư Trang, soạn giả Trần Hữu Trang hy sinh trong trận bom B52 ngày 1-10-1966 tại suối Cây vùng Xa Mát (Tây Ninh) như thế nào. Giờ phút nghệ sĩ tài hoa Trần Hữu Trang hy sinh, Lê Văn Thảo có mặt tại đó. Rồi sự ra đời của bài ca Tiếng chày trên sóc Bom Bo của Xuân Hồng ra sao. Anh vừa kể vừa ca cho tôi nghe những câu hát quen thuộc của lời bài hát. Anh ứa nước mắt mà tôi cũng không ngăn được giọt lệ về lời ca mộc mạc luôn nhớ một thời. Toàn là những câu chuyện lần đầu được nghe Lê Văn Thảo kể. Rồi trường hợp Lê Anh Xuân hy sinh như thế nào? Chúng ta đã biết trong nhật ký của Lê Anh Xuân, dòng cuối cùng đề ngày 24-5-1968, Lê Văn Thảo ghi: “Hôm nay là ngày Hiến hy sinh. Khoảng trưa. Hiến không còn nữa. Hiến chết dưới HBM (Hầm bí mật - NV). Lạ thật. Đến tối, Thảo và anh em chôn Hiến ở ấp Phước Quang, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước".

Anh bảo tôi về tìm đọc lại bài của nhà thơ Viễn Phương đăng trên báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh hồi tháng 5-1984. Đó là tư liệu chính xác mà tôi đã cắt gửi anh trước đây.

* * *

Anh Thảo đã ra đi, giờ tôi kể lại cho anh nghe một đoạn mà hôm đó tôi đã đọc, để tưởng nhớ  những người bạn đã hy sinh, cuộc sống gian khổ mà anh dũng ở rừng:

... Hôm ấy vào khoảng 6 giờ chiều. Cơm nước đã xong xuôi từ sớm. Trong hoàng hôn chập choạng, mỗi người ngồi riêng một góc, im lìm. Hình như ở mỗi người đều có một nỗi buồn nhớ riêng tư và vào lúc màn đêm dần xuống...

Chiều ấy, tất cả đều im lặng. Bỗng một bóng người lách qua cửa bước vào. Con mực hực một tiếng nhưng rồi nó không sủa mà chạy theo ngoắt đuôi, mừng rỡ.

- Ủa, ai như Lê Văn Thảo? Sao về sớm vậy? - tiếng ai đó hỏi.

Thảo không trả lời và hỏi lại:

- Anh Tám (Nguyễn Văn Bổng - NV) đâu rồi?

Tôi chỉ ra bệ cửa sau. Anh Tám đang ngồi im lặng nhìn ra cánh đồng xa. Lê Văn Thảo đến nói gì nho nhỏ. Chỉ nghe anh Tám kêu: “Trời ơi!”, Rồi hai người dắt nhau ra bờ dừa nước. Anh Rum Bảo Việt lật đật chạy theo. Tôi nghĩ ngay đến một việc chẳng lành.

Mười lăm phút sau, các anh trở vào. Anh Tám đến kề tai tôi nói nhỏ:

- Lê Anh Xuân và Hồng Tân đã hy sinh cả rồi!

Như nghe tiếng sấm nổ rền, tôi thất thần, im lìm, đứng sững!

Sau này có nhà báo hỏi Lê Văn Thảo:

- Thời kháng chiến, anh thích chơi nhất nhà văn nào?

- Tôi chơi thân với Lê Anh Xuân vì cùng sinh viên vào chiến khu và ở cùng đơn vị. Chúng tôi cùng tham gia tổng tiến công Mậu Thân 1968 và tiến vào Sài Gòn. Lê Anh Xuân hy sinh trong trận này và chính tôi đã chôn cất anh.

Ở vùng đất phương Nam này ít gia đình nào có nhiều thế hệ đã và đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực giáo dục, văn hóa, văn nghệ, báo chí như gia đình anh. Quý giá lắm, Lê Văn Thảo ơi!

* * *

Định mệnh khắc nghiệt của tự nhiên không cho phép ai không bước qua giấc ngủ cuối cùng của mỗi đời người. Sinh tử là một luật trời, không ai vượt qua. Anh sinh năm 1939, nếu tính chi li cho giới hạn của anh được hưởng, không ít mà cũng không nhiều. Anh mất vào tuổi cận kề 80, nhưng với tôi, anh là người chết trẻ, bởi tính tình anh, suy nghĩ, tư tưởng của anh, văn chương của anh toát lên tâm hồn rất trẻ.

Hôm nay anh về nằm bên cạnh những người sinh thành ra mình, nằm bên cạnh nhiều vị, nhiều đồng đội, đồng nghiệp chung chiến hào với anh. Anh Thảo ơi, với nhà văn có thể kéo dài cuộc sống của mình bằng văn nghiệp, bằng tác phẩm. Sách của anh sẽ sống tiếp trong lòng bạn đọc, kể lại với hậu thế những điều mà anh đã sống ngắn ngủi trên đời này.

21.10.2016
 TRẦN THANH PHƯƠNG
Theo NVTPHCM




Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

ÁO TRẮNG ĐOÀN THẠCH BIỀN

Có những con người, khi đến với họ, "hắc bạch giang hồ" đều bỏ gươm đao, tị hiềm, ganh ghét ở ngoài cửa. Lúc đó, không có đen và trắng, chỉ có tình bạn. Chơi với nhau được hay không. Còn lại đều tiểu tiết, không đáng bận tâm.
Nhà văn Đoàn Thạch Biền

Có những người, viết văn nhưng không màng đến văn chương, không xem đó là mục đích cuối cùng, duy nhất của đời sống. Do đó, đến một lúc cảm thấy nguồn cảm hứng đã cạn ráo, đã nhẹ tênh, lập tức không viết thêm một dòng nào nữa. Mà lòng vẫn thanh thản, thơ thới như không.

Không dằn vặt, níu kéo, thở than - nói như nhà văn Trang Thế Hy là không thèm "bẹo hình, bẹo dạng". Có những người một khi đã thành danh, có tiếng tăm thì luôn quan tâm đến những người viết trẻ. Nâng đỡ những cây bút mới. Có những người khi chơi với bạn, chỉ nhìn thấy tính tốt của bạn, không "nhiều chuyện", "đâm bị thóc, chọc bị gạo". Vì thế, họ dễ gần gũi, thân mật một cách thủy chung cùng bạn bè viết lách.

Một trong những người như thế, với tôi là nhà văn Đoàn Thạch Biền. Nói đến tác giả Tôi thương mà em đâu có hay ắt nhớ đến tập san Áo trắng. Mối duyên "tiền định" này đã làm nên diện mạo của anh. Một diện mạo của "bà đỡ" văn chương luôn đau đáu với mùa gặt ngày sau, từ những người viết trẻ, từ thế hệ tiếp nối.

Sực nghĩ, chuyện viết lách của giới cầm bút, về sau, người ta có thể quên đi. Hoặc có thể nhớ nhớ quên quên, nhưng những gì họ đã làm cho văn chương thì lại khác.

Nay, dù không nhớ rõ Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam… đã viết những gì, chủ đề xuyên suốt trong tác phẩm của họ là gì nhưng không thể quên vai trò của Tự lực văn đoàn mà họ là chủ soái.

Bây giờ, hầu như ít ai còn nhớ đến Vũ Đình Long với tư cách tác giả, người tiên phong với thể loại kịch ở Việt Nam qua vở diễn Chén thuốc độc. "Vở kịch đã đi vào văn học sử và sân khấu Việt Nam với tư cách một sự mở đầu cho kịch nói dân tộc" (Tạp chí Xưa - Nay số 1/2000).

Vở kịch này công diễn vào ngày 22/10/1921 tại Nhà hát Lớn Hà Nội do Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp ái hữu tổ chức. Sau đó, Vũ Đình Long còn viết nhiều vở kịch khác nữa nhưng chẳng mấy ai nhớ.

Thế nhưng, mãi bây giờ và sau này nữa, người ta không thể quên vai trò của Vũ Đình Long trong lãnh vực xuất bản khi đứng ra tổ chức, thực hiện những tập san văn nghệ lừng danh một thời, thậm chí còn bao trùm cả thời "Tiền chiến" như Tiểu thuyết thứ bảy, Ích hữu, Tao đàn, Phổ thông bán nguyệt san… Những tập san này đóng vai trò thúc đẩy sự tiến hóa của cả nền văn học hiện đại thế kỷ XX, bên cạnh Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ năm v.v…

Thời gian như một nháy mắt. Thoáng đó, tập san Áo trắng với vai trò trụ cột của nhà văn Đoàn Thạch Biền đã bước qua tuổi 25. Dám mạnh miệng mà rằng, nếu không là tác giả Ví dụ ta yêu nhau đóng vai trò "chủ xị", mọi việc đã khác. Rất khác.

Có thể ghi nhận đây là một trong những sự kiện của giới xuất bản, báo chí sau năm 1975. Lần đầu tiên, một ấn phẩm dành cho tuổi mới lớn, nuôi dưỡng tình yêu văn chương của các cây bút trẻ đã tồn tại đến bây giờ. Và cả sau này nữa chứ. Chắc chắn thế. Sân chơi này, chỉ có "đặc sản": thơ, truyện ngắn, tùy bút…

Sáng kiến thực hiện tờ Áo trắng thuộc về anh Lê Hoàng, bấy giờ là Giám đốc NXB Trẻ; "linh hồn" của nó là nhà văn Đoàn Thạch Biền, người trực tiếp tuyển chọn, biên tập từng số báo. Hơn 25 năm nhiều thăng trầm, thay đổi và đến nay, Áo trắng vẫn tinh khôi như thuở ban đầu. Không đi chệch hướng.

Từ những trang viết ở đây, đã có nhiều thế hệ cầm bút trưởng thành. Có người nói đùa rằng, nếu Đoàn Thạch Biền mà công tác tại Mặt trận Tổ quốc thì "hợp gu" lắm.

Cứ xem cách anh đi Đông về Tây, lên Bắc xuôi Nam thì rõ. Duy nhất hiện nay, chỉ có người viết trẻ tại địa phương có "Gia đình Áo trắng". Công sức tạo dựng của anh đấy thôi. Anh đi đến từng địa phương gặp gỡ, phát hiện, trao đổi nghề văn cùng những "mầm non văn nghệ" từ những trang viết đầu tay của họ. Do đó, không phải ngẫu nhiên, nhiều người đã thành danh, đã là những cây bút sáng giá, họ vẫn tự hào đã trở thành từ "lò" Áo trắng.

Trước đây, có lần Đoàn Thạch Biền tâm sự, đôi khi nhà văn như cầu thủ, một khi không ra sân bóng nữa thì hãy làm huấn luyện viên, thậm chí cổ động viên cho cuộc chơi đẹp. Anh đã thực hiện đúng như điều đã tâm niệm. Fair-play.

Thế là vui quá rồi. Mãn nguyện. Trong bài thơ mừng sinh nhật lần thứ 25 của Áo trắng, anh bộc bạch tâm tình: Yêu người thật tim mình/ Chẳng lo gì thua thiệt/ Hạnh phúc vốn vô hình/ Làm sao ta phân biệt.

Vậy thôi. Cứ làm hết sức mình. Nhẹ nhàng. Thong dong. Mà đời người, sống trên đời, ai lại không mong muốn làm một việc gì đó cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Dù làm được việc bé tẹo tèo teo như góp một hạt cát vào sa mạc; hoặc lớn lao như đội đá vá trời thì cũng đều trân trọng như nhau.

Sáng nay, ngồi đọc lại một hai bài báo đã viết nhân sinh nhật Áo trắng của nhiều năm trước. Lần sinh nhật tròn 1 tuổi, năm 1991, tôi đã viết Một ngọn nến hồng cho Áo trắng: Một buổi sáng. Vòm trời Sài Gòn mươn mướt như đôi mắt tiểu thư sắp khóc. Mưa rất nhẹ và nắng rất mỏng.

Tình cờ gặp nhau trước cổng NXB Trẻ, anh Lê Hoàng bảo tôi: "Viết gì cho Áo trắng chưa? Áo trắng sắp thôi nôi. Một tuổi rồi". Ba trăm sáu mươi lăm ngày đã trôi qua rồi sao? Bất chợt tôi lại nhớ đến câu thơ của Baudelaire: Nhớ lại đi, thời gian là con bạc tham lam/ Thắng mọi ván mà chẳng thèm gian giảo.

Nhớ lại đi. Ôi chao! Kỷ niệm như tơ chùng. Trong tâm tưởng. Trong đời sống. Một lúc nào đó sợi tơ sẽ căng lên và rung những âm thanh và bật lên tiếng nói. Về một ngày đã qua. Ngày sinh nhật Áo trắng. Lúc đó, NXB Trẻ còn nằm trên đường Thái Văn Lung (nay là đường Alexandre de Rhodes, Q1).

Bạn bè gặp nhau là sà vào quán nước dừa. Nói đủ thứ chuyện. Từ địa ngục đến thiên đường. Từ cây kim đến người ngoài vũ trụ. Những câu chuyện lếu láo đậm đặc màu sắc văn nghệ. Nhưng có một lần, nhà văn Đoàn Thạch Biền nói với tôi một cách nghiêm chỉnh: "NXB Trẻ sắp ra tờ Áo trắng. Tuyển tập thơ văn dành cho tuổi học trò, cậu viết bài đi".

Và tôi viết.

Truyện ngắn Bắt trộm tại ký túc xá in số 1 bên cạnh những sáng tác ưng ý nhất của bạn bè. Cũng tại quán nước dừa này, tôi dẫn Đoàn Vị Thượng đến gặp anh Lê Hoàng để đăng ký bản thảo viết cho Áo trắng. Sự hào phóng ứng với tiền nhuận bút đã trở thành một động lực để Thượng viết truyện dài đầu tay Chuyện tình áo trắng cũng có nghĩa là mở cho tôi một hướng đi mới.

Sau khi ra được vài số thì NXB Trẻ chuyển về đường Lý Chính Thắng. Chỗ gặp gỡ của anh em bấy giờ là quán cà phê Chiều tím. Tại đây, tôi đã gặp những cậu học trò "Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong" như bước ra từ thơ Huy Cận tìm đến Áo trắng để gửi bài vở.

Mới đó thôi. Vậy mà đã một năm. Bây giờ lật lại những tờ báo cũ tôi vẫn như còn thấy mới tinh khôi. Mới nhất, nhiều nhất vẫn là những sáng tác của lứa tuổi học trò chập chững lần đầu đến với văn chương. Họ đến từ nhiều nơi. Có lần nhận được lá thư độc giả từ Đông Hà (Quảng Trị), tôi thấy anh Hoàng Phủ Ngọc Phan cười rất hồn nhiên: "Rứa là Áo trắng đã đến quê tôi". Nụ cười ngây thơ chứ không khinh bạc như khi ký tên Hoàng Thiếu Phủ.

Trong những lần họp mặt bạn đọc Áo trắng, tôi nhớ bao giờ Đoàn Thạch Biền cũng nói nửa đùa nửa thật: "Nhà xuất bản quy định đến dự là phải mặc áo trắng. Cấm mặc áo sọc dưa"…

Nói đùa thôi. Đùa mà thật. Lứa tuổi học trò trắng như một tờ giấy mới để những người làm văn chương mộng mị viết những gì thật nhất của mình. Nơi đó không có sự sọc dưa. Và phản trắc.

Mới đó thôi. Đã một năm rồi.

Ông Cao Bá Quát đã từng kêu lên: "Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy". Chứ huống hồ gì một năm. Nhưng một năm qua Áo trắng vẫn giữ được màu áo trắng. Đó là điều đáng quý nhất để tự động viên nhau. Đi tới nắng ấm chói chang lực lưỡng của những người viết về lứa tuổi thơ mộng nhất một đời người. Đi tới và thắp lên một ngọn nến. Một lời chúc mừng. Bây giờ và mãi mãi".

Bài viết của hơn 24 năm về trước, đọc lại và cảm thấy thời gian đi qua nhanh thật. Những lúc ngồi với nhà văn Đoàn Thạch Biền, tôi thường nhắc lại một hai kỷ niệm cũ.

Đại khái, lần đầu tiên trao đổi về việc thực hiện tờ Áo trắng số đầu tiên, vài ba anh em cùng ngồi trên những ghế bố của quán dừa xiêm trước cổng NXB Trẻ, nhà văn Tình nhỏ làm sao quên cao hứng đọc hai câu thơ lục bát của Nguyễn Đức Sơn: Tôi về lắng cả buổi chiều/ Nghe chim ăn trái rụng đều như kinh.

Nhà thơ Bụi phấn Đoàn Vị Thượng chăm chú lắng nghe, gật gù khen hay rồi khẽ khàng ngâm câu thơ của Hoàng Thị Minh Khanh: Tôi không buồn những buổi chiều/ Vì tôi đã có rất nhiều ban mai.

Những lúc ấy, sờ thấy râu ria đã mọc đầy cằm, tự dưng rưng rưng nhớ lại những "buổi chiều", những "ban mai" trong sáng và vô tư lự ấy. Chỉ một cái nháy mắt, thời gian đã trượt dài khỏi tầm tay.

Ơ hay, tuổi trẻ đã bỏ y ra đi từ lúc nào vậy? Bây giờ, ít nghe ai nhắc đến một nhân vật có cái tên du dương, thơ mộng Tóc Mây mà đã có không ít tu mi nam tử gửi thư về Áo trắng tán tỉnh, đã có bao nhiêu văn nhân tài tử đến tìm xem mặt, nhưng rồi ai nấy đều... thất vọng!

Bởi lẽ đó là bút danh của nhà thơ Phạm Thanh Chương, lúc đó anh làm công tác trị sự với tinh thần cù mì củ mỉ, thận trọng, chu đáo như một ông giáo. Không chê vào đâu được. Mà chỉ có Đoàn Thạch Biền với phong cách chơi "điệu nghệ giang hồ" của anh mới có thể quy tụ lâu dài nhiều anh em bồ tèo thủy chung cùng Áo trắng.

Trong cuộc đời, ai cũng có nhiều cuộc cuộc lai rai cùng bè bạn, nhưng tôi quả quyết rằng, nếu ngồi với Đoàn Thạch Biền: Dù rời khỏi quán lúc đã khuya, đã lai rai dạt dào đến thế nhưng bước ra phố vắng, chạm phải những cơn gió mát, tự dưng lại thấy tỉnh táo, khỏe khoắn và yêu đời lạ thường. Bởi lẽ rất đơn giản, ở con người ấy, ngoài văn chương chữ nghĩa còn là một tâm hồn đáng yêu như Áo trắng.

Tâm hồn ấy, dù năm tháng trải qua nhiều thăng trầm, thay đổi nhưng đến nay vẫn Áo trắng, vẫn tinh khôi như thuở ban đầu. Không đi chệch hướng. Một hướng đi hết lòng với mùa gặt ngày sau, từ những người viết trẻ, từ thế hệ tiếp nối…

LÊ VĂN NGHỆ
Nguồn: ANTGCT



Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2019

CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGÔ PHAN LƯU

“Nhà văn nông dân” đất Phú Yên Ngô Phan Lưu được mọi người biết đến rộng rãi sau khi trở thành “trạng nguyên” cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 2006 – 2007. Tính đến nay gia tài của ông bao gồm một tập thơ Bếp lửa chiều đông và các tập truyện ngắn – tản văn: Người không giăng câu Kiều, Cơm chiều, Xoa tay và cười, Con lươn chép miệng, Tờ lịch gỡ mỗi ngày. Còn tác phẩm in chung và đăng báo thì “không thể nào nhớ nổi”.
Nhà văn Ngô Phan Lưu

Những truyện ngắn của Ngô Phan Lưu hơn một lần làm rung động trái tim độc giả Việt Nam. Mỗi hình tượng nhân vật của ông như có ma lực đã lôi cuốn chúng ta với một sức mạnh không thể nào cưỡng nổi vào cuộc đời đầy bão tố của họ, buộc ta phải nghĩ suy, giật mình ngẫm lại về nhân tính, mối quan hệ giữa người với người trước hiện tại và tương lai. Từ đó biết cách ứng nhân xử thế, sống đẹp hơn, có thêm niềm tin và tình yêu đối với cuộc sống. Khảo sát các tác phẩm truyện ngắn của Ngô Phan Lưu, chúng tôi nhận thấy có 4 kiểu nhân vật điển hình sau:

1. Nhân vật cô đơn

Ngô Phan Lưu trình bày một đời sống ngổn ngang, bất trắc, nơi lý tưởng và các giá trị truyền thống bị đổ vỡ, nơi con người chỉ là những mảnh số phận, những cá thể, không nhân danh, không đại diện cho bất kì ai. Cùng tư tưởng với các nhà triết học Hiện sinh chủ nghĩa, Ngô Phan Lưu đã nhìn con người như những số kiếp vật vờ, thân phận nhỏ nhoi, mỏng manh và mang trong mình một nỗi cô đơn bản thể. Trạng thái cô đơn là trạng thái thích hợp nhất để con người ngắm nhìn, chiêm nghiệm lại cuộc sống của chính mình. Có những phút giây bừng tỉnh, có những khoảnh khắc lóe sáng trong tâm thức. Nhiều khi con người chịu cô đơn để bảo toàn niềm tin khát vọng của mình.

Trong Buổi sáng biến mất, chú Khiêu là kẻ cô đơn, là trái banh trong chân đội banh ung thư gan, xẹp hơi, đang chờ cho lọt vào “gôn” Tử Thần. Các thành viên trong nhà họ coi chú là gánh nặng, vật phế thải chướng tai gai mắt. Chú Khiêu đang phải âm thầm chịu đựng nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần, chú thấm thía nỗi cô đơn lạnh lẽo tột cùng. Đó là Lão Tư Cua (Người không giăng câu Kiều) cô đơn không chỉ vì sống một mình mà “là người khang khác với mọi người trong xóm” Trạch Thắng, bởi lẽ lão dám bắt Cua Đinh bằng tay và “dám to tiếng với cụ Phiệt, người được kính sợ lâu nay”. Đó là Bẫm Xình Tơn nát rượu bị biển người mênh mông cự tuyệt, nhìn với nhiều ánh mắt khinh bỉ. Khoảnh khắc lương thiện đích thực lại là khoảnh khắc Bẫm ôm nỗi đau người thừa vào lòng.

Khi đặt nhân vật trong mối quan hệ với đồng loại, với thế giới bên ngoài, Ngô Phan Lưu đã cho ta thấy sự cô đơn của con người thể hiện ngay trong các quan hệ xã hội, sự rạn vỡ trong mối liên kết, trong niềm tin giữa con người với con người và giữa con người với thế giới. Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ gia đình và xã hội (Bộ răng của ông Răng). Đó là lời cảnh tỉnh cho sự sa đọa, xuống cấp về đạo đức, giá trị con người, sự thui chột về tình người đã đến mức báo động.

Trong một số tác phẩm, nhân vật không có thời gian quá khứ càng không có thời gian cho tương lai, chỉ có thời gian hiện tại, lúc nhân vật xuất hiện, song đó là thời gian đằng đẵng một khối cô đơn khổng lồ. Cô đơn như một hình phạt, cô đơn như một tiền định: Cụ Ông – bố của Lân (Cơm chiều).

Ở một khía cạnh khác, con người trong thế giới của Ngô Phan Lưu càng bị nhấn chìm sâu hơn vào nỗi cô đơn khi chỉ có một mình anh ta đương đầu với những biến cố trong cuộc đời, chỉ có anh là nhân chứng cho chính anh trước sự phi lý trút xuống thân phận. Anh Quyết (cùng gia đình) trong Bầy người bé nhỏ – nỗi ám ảnh kinh hoàng sợ hãi về kiếp người trước thiên nhiên.

Con người cứ thế bơ vơ, cứ thế lạc lõng vô định không hiểu được mình đang làm gì (Bà thánh của hai người, Làng quê thì mênh mông). Đó cũng là một sự kiện tinh thần của không ít người hiện đại ngày nay “thấy mình lọt tõm vào một vùng cô đơn hun hút…” (Trắng đêm để gặp nỗi buồn), cô đơn cùng cực. Họ ý thức được sự nhàm chán triền miên trong cuộc sống của mình (Mù sương đầu ngõ). Nếu không có cái nhìn tinh nhạy, thấu suốt tâm can con người, Ngô Phan Lưu đã không thể nắm bắt được những khoảnh khắc bơ vơ, bất định như vậy.

2. Nhân vật mang tư chất nghệ sĩ

Đọc truyện ngắn của Ngô Phan Lưu ta bắt gặp một loạt các nhân vật mà chất “nghệ sĩ” của họ không tuân thủ một quy luật, không theo một trường phái nào, nó tồn tại bản năng và phát triển tự nhiên như cuộc sống hàng ngày của họ. Họ là những con người “đặc biệt” và gặp nhau cũng trong những hoàn cảnh thật đặc biệt.

Lão nông Lạng xóm Đìa sóm sém bảy mươi mang trong mình niềm đam mê văn chương. Lão thường cho ra lò những vần thơ “đầu Ngô mình Sở”, kiểu thơ “Liên Hợp Quốc” chắp vá. Thế mà, loại thơ cắt ghép kì quặc đó cũng có “tín đồ”, mà còn là tín đồ một mực trung thành – chú Dành, chàng trai hai mươi hai tuổi, cùng xóm. Họ trở thành bạn tâm giao hằng ngày Đối ẩm trong sương. Ngô Phan Lưu đã mang đến cho người đọc cách nhìn mới: Không có chân lý sáng tạo nghệ thuật bất biến. Người nghệ sĩ sáng tạo theo sự thôi thúc của nội tâm, nên những phút thăng hoa của cảm xúc, của nội tâm đã tạo nên những cái bất ngờ trong sáng tạo. Cái bất ngờ làm nên cái đẹp và kì diệu của nghệ thuật.

Nghệ thuật không dành riêng ai, nó dành cho tất cả mọi người, những ai mang trong mình tư chất của người nghệ sĩ và niềm đam mê nghệ thuật: Thắng, Thùy (Con sóng tung hoa), anh bạn của “tôi” (Sóng bạc đầu), anh thợ hớt tóc (Chú thợ hớt đường Bà Triệu), họ cũng là “nhà thơ”, những người yêu nghệ thuật.

Trong truyện ngắn của mình, Ngô Phan Lưu cũng đã xây dựng thành công hệ thống nhân vật chủ yếu được trời phú cho giọng hát hay, lay động lòng người. Giọng hát khàn khàn tuyệt vời của cô chủ Nhạc Trầm My quán. Chất giọng đau đớn, uất nghẹn của chú Bảy hòa nhịp cùng âm thanh ma quỷ của “nhạc cụ” Xâu chìa khóa, chảy cuồn cuộn theo một làn điệu bài chòi đặc sản địa phương khiến người ta lặng đi, nổi da gà. Chú tuy là “Một người nông dân rặt từ khuôn mặt đến quần áo, vậy mà nghệ sĩ hết cỡ ấn tượng”.

Khảo sát tác phẩm của Ngô Phan Lưu ta còn bắt gặp thêm những mảnh đời bất hạnh trót mang duyên kiếp cầm ca làm nghiệp mưu sinh. Trong tiếng nhạc thô mộc trầm buồn, như cung tơ vang vọng đến nao lòng của chiếc đàn cò. Giọng hát chân phương, chưa từng qua trường lớp ngày ngày cất lên, lẫn lộn với ồn ào góc chợ nhưng lại có sức hấp dẫn rất riêng. Với bác Quyền (Ánh sáng cong), lão Mồn (Lên đường) Ngô Phan Lưu đã đề cập thật riết róng tới những mất mát, tổn thương mà người nông dân phải gánh chịu. Những mảnh đời bất hạnh trong những làng quê Việt hiện thời.

3. Nhân vật bị ám ảnh bởi thế giới giấc mơ

Trong truyện ngắn của Ngô Phan Lưu, tần suất xuất hiện kiểu nhân vật chìm đắm, ám ảnh bởi thế giới giấc mơ khá dày đặc (19/73 truyện, chiếm gần 26%). Xây dựng kiểu nhân vật này là một phương thức nghệ thuật hữu hiệu để mở rộng biên độ hiện thực được chiếm lĩnh trong văn học, đồng thời tạo nên sức hấp dẫn riêng của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, khiến nó không còn là sự mô phỏng, trùng khít với hiện thực ngoài đời. Thủ pháp ảo hóa hiện thực khiến cho cả nhân vật trong truyện và người đọc đều không có một ý niệm rõ rệt.

Trong các truyện Chiếc ngạnh cá, Con diều giấyNếu không nhìn ra cổng, Con sóng tung hoa, giấc mơ của Đại, Lãm, Hòa và Thùy đều xuất hiện những “vùng đất hứa” “vắng bóng con người”, chỉ có tiên và quỷ. Tất cả họ không một ai cảm thấy buồn mà thậm chí còn vui. Motif người gặp tiên, gặp quỷ được lặp lại. Đối diện với họ, con người không hề sợ hãi, ngược lại chính quỷ, tiên ghê sợ con người. Điều rùng rợn không nằm ở ma quỷ mà ở chính cái bản chất bất toàn ẩn tàng của con người. Con người không dễ gì chấp nhận sự thật ấy trong hiện thực. Con người kinh tởm con người, muốn thoát ra khỏi thân xác chính mình, tìm cảm giác nhẹ nhàng, thanh thản. Nội dung biểu hiện của những giấc mơ được coi như sự thực hiện trá hình những ham muốn bị dồn nén trong hiện thực.

Một trạng thái khác là Nhập nhằng và hoảng loạn, Giải thoát,... thể hiện tinh thần bấn loạn của các nhân vật. Điển hình là ông Đô, vợ chồng lão Bốn Nham, anh Bách, nó tương ứng với một thế giới hiện thực tàn nhẫn trùng trùng điệp điệp cái ác được nhà văn biến ảo theo chính những giấc mơ. Trong thế giới ấy con người vừa hoang mang âu lo về cái vô thường, vừa bộc lộ một đời sống khác chân thực để họ soi lại bản chất của mình. Khi tiếp xúc với các tác phẩm của Ngô Phan Lưu, người đọc bao giờ cũng vấp phải những trở ngại bởi những hình tượng lấp lửng lưỡng phân, lấp lửng hai mặt. Ngô Phan Lưu đã mang đến cho người đọc một cách viết mới, đi trên con đường mỏng dính giữa ý “tại đường” mà tưởng như “hoang đường”, những niệm có và không. 

Truyện ngắn Ngô Phan Lưu còn có biết bao những tấu khúc biến ảo khác nhau về mộng. Giữa hiện thực non kém với một ước vọng cao xa, muốn nổi tiếng bằng những đứa con tinh thần như nhà văn Cảo (Quyển sách)Hoặc Chuyện bực mình là giấc mơ về “cái mâm cơm đơn sơ sâu đậm” cùng cuộc đấu “nhãn lực”, “óc lực” giữa “tôi” và Lan Man Đại Nhân. Độc giả còn được chứng kiến một cuộc trò chuyện đầy thú vị giữa ông Ất, Ngọc Hoàng và các nhân vật do ông Ất sáng tạo ra (Trò chuyện). Những giấc mơ trĩu nặng tâm trạng suy tư trăn trở, nỗi ám ảnh của người cầm bút khi xây dựng tác phẩm. Ở đây có sự phảng phất của hiện thực, nhuốm màu hiện thực.

Đặc biệt, ngay cả trong mơ Ngô Phan Lưu vẫn “cố gắng xây dựng cái thiện để làm đối trọng với cái ác”. Những giấc mơ “đẹp” xuất hiện trong các truyện Trắng đêm để gặp nỗi buồn, Vạt áo nàng tiên, Sương ngọt, Ảo giác... chính là những viên thuốc an thần giúp con người lấy lại thăng bằng trong đời sống, đồng thời ở một số truyện nó còn thể hiện chức năng báo mộng, nhắc nhở hiện thực với chủ nhân của mình.
Ngô Phan Lưu đã lựa chọn giấc mơ làm “con đường vương giả để đạt đến hiểu biết lòng người” (Freud). Qua lăng kính của giấc mơ, nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn hiện lên chân thực hơn, sống động hơn, và cũng ám ảnh hơn.

4. Hình tượng loài vật

Sáng tạo ra thế giới loài vật, Ngô Phan Lưu cho người đọc thấy được ở ông một cây bút tài năng về nhiều mặt. Đó là khả năng hóa thân vào sự sống của vật và đồng thời đưa lại cho thế giới loài vật sự sống của người. Được nhà văn “phù phép”, thế giới loài vật cũng đầy sự ray rứt ngổn ngang của những sinh linh tội nghiệp, chia ly, tan tác đau khổ, chết chóc như chính cuộc sống của con người.

Sự việc trong vài phút là câu chuyện kể về việc bò Bĩnh bị anh Phách đánh đập, phải cày vườn khi đất đang khô. Nhưng đau đớn hơn là bê con, nó xót xa khi thấy mẹ mình bị hành hạ. Hành động “chống đối” của con chó Ki lao vút đến cướp chiếc roi chạy biến ra ngõ, “ngăn cản” ý nghĩ đánh chồng của chị Viên và vui mừng “vẫy đuôi xoắn tít” khi thấy chị bẻ đi chiếc roi, thả xuống lòng mương cho “chúng trôi đi...”. Rõ ràng “đó là một con người hoàn chỉnh tên Ki” đầy căm phẫn cái ác. Trường hợp này, nhà văn không chấp nhận dùng cái ác hơn để chiến thắng cái ác, mà cái ác cần phải kết thúc.

Ở truyện Câu hỏi vô vọng, Lãm kể về cuộc đời mồ côi nuôi đàn em của con gà mái “hột dầu”, bề ngoài tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng đằng sau ấy là chất chứa bao tình trạng, tâm trạng của một kiếp người. Câu chuyện như lời cảnh tỉnh về thực trạng tha hóa “gà nhà bôi mặt đá nhau”, sự suy thoái giá trị nhân luân đạo nghĩa trong gia đình, xã hội.

Mỗi con vật trong truyện ngắn của Ngô Phan Lưu hiện lên thật sinh động với nhiều tính cách khác nhau. Đó là con mèo Mướp có tật xấu rình bắt gà con, ăn vụng. Là con voi già đứng đắn, lễ phép ở Thảo Cầm Viên. Một con dã nhân “dâm đãng”. Một tên cù lần làm biếng. Một con chó Vện “thừa trí khôn” mà cũng rất “ngốc”. Cả cái giống chim cuốc kỳ cục ghét cay ghét đắng tiếng còi…

Cũng trên trang văn, người đọc bắt gặp tâm trạng hoảng sợ tột cùng của những thế lực thù địch. Một chú thỏ con run cầm cập vì sắp trở thành bữa lót lòng của con trăn khổng lồ. “Những chú vịt con ngộ nghĩnh nấp trong bụi rào, đang run sợ, soi qua nhánh lá, nhìn anh…” –  kẻ vừa cướp đi mạng sống đồng bọn của chúng, hay con chó Mực sợ hãi “vùng dậy, chạy rối loạn” để tránh con người sau khi bị “thiến văn minh, đạo đức”. Trong những thế lực thù địch đó khiến ta nhận ra sự độc ác đáng kinh tởm dù vô tình hay cố tình của con người. Và hơn một lần, các con vật trong truyện Ngô Phan Lưu đều biết “nói tiếng người”, biết chỉ trích, mắng nhiếc, oán giận “sự dã man của loài người”.

Sự xuất hiện hình tượng nhân vật loài vật trong tác phẩm của Ngô Phan Lưu có thể làm phát ngôn viên cho con người; có khi như một dụng ý nghệ thuật; khi góp phần miêu tả thế giới nội tâm của con người; khi làm người dẫn chuyện tài tình… tất cả góp phần làm phong phú thêm cho thế giới nhân vật truyện ngắn Ngô Phan Lưu. Ẩn chứa trong mỗi trang truyện về loài vật, tác giả muốn nói đến chuyện loài người, gợi lên ở người đọc sự liên tưởng về nhiều vấn đề, cách đối xử trong mối quan hệ giữa con người với con vật, vừa tố cáo sự hờ hững và vô tâm của “cái giống người khốn kiếp”. Đồng thời khơi dậy phẩm chất nhân hậu cao quý của con người.
               
Đúng như Tô Hoài nhận định: “Nhân vật là nơi tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy cho một sáng tác”. Trong mỗi tác phẩm, các nhà văn đều xây dựng một hệ thống nhân vật phù hợp với dụng ý nghệ thuật của mình. Truyện ngắn Ngô Phan Lưu mang đậm màu sắc, dấu ấn “nông dân”, được thể hiện rõ qua hệ thống nhân vật “vương mùi khói rạ” một cách độc đáo. Nhân vật được soi chiếu từ nhiều khía cạnh từ ngoại hình, hành động, ngôn ngữ cho đến chiều sâu đời sống tâm lý, tâm linh bên trong vì thế mà trở nên gần hơn, thật hơn với cuộc đời.

Phú Yên 7.2015
NGUYỄN THỊ TRÚC LY
Nguồn: NVTPHCM 



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều