Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018

Nhà thơ Phan Hoàng: “Bước gió truyền kỳ” thổi hồn đất nước

Mười lăm năm (từ 2000 đến 2015), bằng quãng thời gian lưu lạc đầy sóng gió của thân phận nàng Kiều, cũng là quãng thời gian thai nghén, tích tụ và ra đời của tập trường ca Bước gió truyền kỳ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2016). Có lẽ Phan Hoàng đã rất cần mẫn, vật vã với chữ nghĩa, nghiêm túc và chắt lọc trong vô vàn những xúc cảm, những chiêm nghiệm về cuộc đời gắn liền với vốn hiểu biết sâu sắc về lịch sử mới viết được thiên trường ca hào sảng lay động lòng người đến thế. Chính vì vậy, Bước gió truyền kỳ là tiếng lòng, là tiếng nước, là tiếng gọi thiêng liêng của thời đại thổi vào hồn người đọc nhẹ nhàng, dịu dàng mà thiết tha, sâu lắng.
Nhà thơ Phan Hoàng

Thường trường ca là một thể loại khó bởi người viết cần phải có kiến văn rộng rãi, am tường lịch sử và chuyển vận được cảm thức một giai kỳ rộng lớn cùng với nhiều sự kiện mang tầm vóc vĩ đại của một cộng đồng, dân tộc. Do đó, từ rất lâu trong tâm thức văn hoá của người Việt, trường ca phải “hoành tráng về cả phương diện nội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật tác phẩm, được viết nên bằng một dung lượng cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những chấn động lớn lao của lịch sử, của dân tộc, thời đại” (Mai Bá Ấn) và đặc biệt nhằm tôn ngợi những nhân vật có vị trí quan trọng, có sức ảnh hưởng đối với cộng đồng xã hội. Song trường ca của Phan Hoàng không hoàn toàn như thế! Bắt đầu từ “những ngọn gió vô danh”, được “tiếp sức ước mơ”, chuyển vận thành “bước gió, dựng thành xây lũy biên cương” để rồi nhất định sẽ “vượt thoát sinh tồn”, Bước gió truyền kỳ là khúc tráng ca bất tận về gió. Đó là “ngọn gió vô danh” rất đỗi tự nhiên đi vào lòng người bằng những câu chuyện không chỉ của riêng ai - câu chuyện về lịch sử một dân tộc, mang cảm hứng của thời đại... Nhưng lại thật gần gũi, dung dị, thấm đẫm. Cái mới ở trường ca Phan Hoàng có lẽ bắt đầu từ một nhân vật khá đặc biệt này: Gió!

Gió thổi thì thầm, đi qua thời gian - không gian, dịu dàng, sẵn sàng lắng nghe bao câu chuyện núi sông, vui buồn thế sự; Gió đi vào thẳm sâu tâm thức mỗi người để vỗ về họ những xúc cảm bất tận, mãnh liệt; Gió thổi bùng lên trong mỗi trái tim người Việt tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn tha thiết; Gió nhắc nhở cho chúng ta về một thứ tình yêu thiêng liêng ở những con người bình dị mà vĩ đại biết bao... Gió là núi, là sông, là cây, là cỏ, là mẹ, là cha, là con, là chồng, là vợ... là hóa thân của tâm hồn dân tộc.

Gió thì thầm dẫn dắt chúng ta quay lại với quá khứ oai hùng, với thăng trầm lịch sử, kể lại đầy tự hào về truyền thuyết Lạc Long Quân cùng Âu Cơ sinh ra 100 trứng tạo nên dòng giống con Rồng cháu Tiên. Câu chuyện lịch sử một cộng đồng từ thuở hồng hoang mở cõi đầy máu và nước mắt của bao lớp tiền nhân, đối mặt với vô vàn hiểm họa được kể lại qua tiếng gió dịu dàng nhưng hào sảng và bi tráng, lay động lòng người... để rồi trong mỗi chúng ta như có cảm giác mình được “nhập hồn xóm làng/ nhập hồn sông suối/ nhập hồn núi rừng/ nhập hồn biển đảo...” (Bước gió truyền kỳ).

Gió thì thầm về câu chuyện trẻ thơ trên ruộng đồng nghèo khó nhưng tràn đầy mộng mơ muốn “được hôn tóc cô tiên hay vuốt ve chòm râu ông bụt”, muốn “được bà thương yêu chiều dắt đi lễ chùa cúng Phật”, ngây ngô với “những câu hỏi mở đường bay đến chân trời biền biệt người thân...” (Gió mở đường bay)... để rồi nhận ra một chân lý giản đơn rằng: “- Không có gió thì không có nước/ không có nước thì không có sông/ không có sông thì không có đồng/ không có đồng thì không có ruộng/ không có ruộng thì không có lúa/ không có lúa thì không có ta!” (Đồng dao nghịch gió).
Trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng

Gió thì thầm với câu chuyện hình thành những địa danh tạc hồn sông núi như Đá Bia, Vũng Rô, đèo Cả, Sài Gòn, Cà Mau, Hà Tiên, Tây Nguyên...; về sự dũng cảm trung kiên của lớp lớp bao người trai đất Việt, về sự thủy chung son sắt đến hóa đá, “giấu kín mùi hương da thịt khát khao đợi ngày sum họp” của những người vợ lính bền bỉ, không hờn, không trách; về những vất vả hy sinh của cha, của mẹ đôi khi hiên ngang “thách thức đại dương/ thách thức những con giông lịch sử” nhưng cũng rất đỗi bao dung “mênh mang bờ cát dài độ lượng” (Gió tiếp sức ước mơ).

Gió thì thầm kể chuyện “vật vã/ kiên trì/ tự lực/ khẩn hoang” lập nghiệp đầy máu và nước mắt của “lớp lớp người người/ tay kiếm tay cờ/ lớp lớp người người/ tay rìu tay giáo/ mắt chớp lửa mặt trời phương nam” (Bước gió truyền kỳ)... để góp phần vẽ nên dáng hình bản đồ nước Việt yêu thương chữ S. Những câu chuyện mở cõi này hào hùng cũng có nhưng cũng không ít đắng cay, se sắt nỗi niềm..., tất cả góp phần làm nên tiếng vọng quê hương, xứ sở, làm nên bản sắc văn hóa độc đáo mỗi vùng miền đất nước: “những ngọn gió mở đường trĩu nặng ước mơ/ khởi từ tình yêu bùn lầy sỏi đá dựng ruộng dựng nương/ từ câu hát theo ới la đằm thắm váy hoa núi đồi Tổ/ từ câu quan họ liền anh liền chị hẹn hò Kinh Bắc cởi áo trao nhau/ từ câu bài chòi hò khoan đối đáp duyên hải miền Trung sóng vỗ/ sông nước nhớ thương đọng lại nỗi buồn sâu thành câu vọng cổ/ nỗi buồn ngọt ngào gió chướng phương Nam se se cay đắng/ nỗi buồn ly hương dựng mới quê hương” (Gió khẩn hoang).

Gió cũng âm thầm tích tụ thành linh hồn của cả một dân tộc “canh giữ giấc ngủ bình yên đất mẹ/ canh gác cái ác mang mặt nạ hữu nghị viễn vông/ cất tiếng hát thương nhớ quê hương mùa hẹn hò cày cấy/ mùa trăng mật dâng hiến lứa đôi/ mùa sinh nở dâng tặng tiếng khóc những ngôi sao hy vọng” (Linh hồn gió). Và giờ đây lời thì thầm của gió gợi lên những khao khát về một cuộc sống bớt đắng cay, “chàng trai, cô gái không còn nỗi đau giằng xé thanh tân/ không còn tuổi già cô đơn mòn mỏi”, không còn những đứa trẻ “mồ côi đói khát tang thương”, không còn những cái đầu nóng “tâm thần phân liệt hiếu chiến” (Linh hồn gió).

Rồi... để trên hết tận cùng đường bay, gió đã “dựng thành lũy biên cương”, “vượt thoát sinh tồn”để “mở ra chân trời hy vọng/ tinh lọc bóng đêm quá khứ/ kết nối ánh sáng tương lai” (Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại).

Như vậy, gió trong trường ca Phan Hoàng là biểu tượng có tính đa nghĩa, là hình ảnh sống động vừa thực vừa hư, nó thổi nhẹ nhàng vào tâm hồn người đọc một tình yêu thiết tha với sông núi, với lịch sử, với dân tộc... Tự nghìn năm trước và mãi đến tận bây giờ vẫn vậy, truyền thống hào hùng của một cộng đồng trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước đã đi vào Bước gió truyền kỳ như một câu chuyện mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ngọn gió vô danh được tạo thành từ sinh khí đất trời, từ hào khí dân tộc, từ cội nguồn lịch sử, từ bước chuyển lưu dân, từ nỗi niềm trăn trở của tâm hồn mỗi người hòa cùng hơi thở thời đại. Có dân tộc nào tồn tại, phát triển mà không chất chứa trong nó những nhọc nhằn, thăng trầm cay đắng - dân tộc Việt, con người Việt cũng vậy. Song Phan Hoàng đã đưa người đọc đồng hành, hóa thân vào bước gió, “lang thang khắp mọi ngả đường Tổ quốc/ uống dòng hào khí bi hùng ngàn năm/ dòng hào khí đánh đổi tinh hoa lớp lớp người người” để rồi hun đúc trong họ tình yêu quê hương ngày càng nồng cháy, thắm thiết và khát vọng vào một nước Việt sẽ mãi “vượt thoát sinh tồn vĩ đại dòng giống rồng tiên”.

Thật sự tập trường ca Bước gió truyền kỳ đã thổi hồn dân tộc vào trái tim người đọc. Tôi không đề cập nhiều đến thi pháp nghệ thuật Phan Hoàng đã thể hiện rất thành công ở tập trường ca bởi đây là một vấn đề cần nhiều khám phá, nó thể hiện sự thành công “vượt lên đau đớn và thăng hoa” (trích “Văn bản dở dang” trong Chất vấn thói quen), sẽ được đề cập trong một dịp khác, mà chỉ chú trọng vào xúc cảm thẩm mỹ bạn đọc cảm nhận được khi “chạm vào” những ngọn gió tâm thức, ngọn gió thời đại... để “bay về nguyên thủy ước mơ” (trích “Thèm ngọn gió tự do” trong Chất vấn thói quen).

HOÀNG HƯỜNG
(Đại học Duy Tân - Đà Nẵng)

TẠP CHÍ NON NƯỚC, SỐ 230/2017



Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2018

Hoà sắc Nguyễn Quang Thiều

Cách làm việc của ông rất đặc biệt, miệng luôn ngậm điếu thuốc, khói lan toả vẩn vơ bám lấy bộ ria mép muối tiêu của ông. Khi vẽ, tôi không thấy ông nói chuyện bao giờ: im lặng - rất im lặng! Cả buổi ông im lặng, nếu vẽ cả đêm ông cũng im lặng như thế. Cứ lầm lũi bôi, trát, xoa, đắp, cạo rồi lại bôi Hình như lúc này tâm trí ông để ở đâu đó, hoặc tập trung cao độ đến lặng phắc như một cái bóng…
Nhà thơ, hoạ sỹ Nguyễn Quang Thiều

Giới văn chương cũng như bạn đọc không lạ gì tác giả Nguyễn Quang Thiều. Ông là người nổi tiếng. Ông viết rất nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và đặc biệt là các bài báo. Người ta dễ nhận ra cái tên Nguyễn Quang Thiều trên các báo, những bài viết của ông luôn có một dấu ấn riêng biệt, một cách tiếp cận và lý giải vấn đề rất Nguyễn Quang Thiều. Vì thế, viết về ông ở lĩnh vực văn chương hay báo chí là điều khó khăn, đặc biệt với một kẻ hậu sinh và vô danh như tôi. Nói cách khác, tôi chưa đủ tầm để bàn luận về văn chương của ông.

Nhưng có một điều tôi muốn viết về ông và có thể bàn luận đôi chút, đó chính là hội hoạ. Ai cũng biết gần đây Nguyễn Quang Thiều có vẽ tranh - vẽ khá nhiều - đã từng triển lãm. Ông gây bất ngờ bởi những bức tranh của ông bán khá chạy với giá không thể đùa. Bất cứ ai theo nghề hội hoạ cũng biết, để những bức tranh của mình thuyết phục được công chúng, rồi họ rút hầu bao ra mua tranh mình về nhà là điều không đơn giản. Tất nhiên, quan điểm này còn nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng tôi cho rằng, người ta không bao giờ bỏ tiền ra để mua những thứ vớ vẩn, trừ khi họ cũng là người vớ vẩn.

Tôi còn nhớ bài viết của ông về nhà văn - thiếu tướng Hữu Ước. Ông cho rằng, để hiểu được người khác, hãy đọc kỹ những văn bản thi ca của họ, ở đó tâm hồn họ sẽ hiển lộ một cách trung thực và đầy đủ nhất. Điều này hoàn toàn có cơ sở, không chỉ riêng với thi ca, ngay cả hội hoạ cũng ít nhiều đọc được điều đó. Và tôi nhận ra con người của Nguyễn Quang Thiều qua những bức tranh của ông.

Trước hết, ông là một tay cọ nghiệp dư, cứ cho là như vậy, vì ông không được đào tạo cơ bản về hội hoạ. Ông là người có năng khiếu và yêu thích loại hình nghệ thuật này và ông vẽ chơi thế thôi. Gọi là chơi, nhưng chơi với hội hoạ cũng chẳng dễ dàng gì. Không phải cứ ngẫu hứng bôi bôi, trát trát là thành tranh. Đã rất nhiều người học hành cả chục năm về hội hoạ cơ bản mà cuối cùng cũng bỏ bút, nói xanh rờn: khó quá! Và họ đi làm nghề khác, những bức tranh của họ không bao giờ ra đời. Thiên hạ cũng không thể biết họ là ai, đặc biệt là con người trong nghệ thuật của họ.

Với Nguyễn Quang Thiều, con người của ông ta hiện lên rất rõ trong những bản hoà sắc của ông. Đó là buồn bã và lãng mạn. Những bức tranh của ông luôn mang một sắc thái như thế. Tôi nhớ bức tranh có tên Hoa Thảo Mưa của ông. Một bức tranh giản dị với đề tài cũng giản dị. Cái thể loại tĩnh vật, hoa hoè ấy người ta vẽ rất nhiều. Nhiều đến nỗi nhàm chán, nhưng tôi lại bất ngờ với cách tạo hình của Nguyễn Quang Thiều. Bức tranh được chia làm hai phần rất rõ. Hai phần nếu nhìn theo trực giác bình thường thì đó là hoa và lá. Những bông hoa mà ông gọi là Thảo Mưa được vẽ bởi vô vàn những chấm nhỏ xếp chồng lên nhau tạo một không gian rất rõ, từng tầng, từng lớp các chấm nhỏ ấy làm nên độ sâu của không gian. Phần thứ hai là lá, những cái lá được vẽ tự do bởi nhát cọ mạnh trên một nền màu xanh đậm nên hiện ra rất vững vàng và phóng khoáng. Sự phóng khoáng của lá ở dưới đối lập rất mạnh với những bông hoa phía trên làm nên sự thay đổi mang tính nhịp điệu rất vui mắt. Toàn bộ bức tranh được vẽ với tông màu lạnh, chỉ riêng những bông hoa được điểm xuyết chút ít màu nóng nên chúng hiện ra lung linh và trong trẻo. Sự trong trẻo, lung linh, nhịp điệu vui mắt ấy lại gây cảm giác u buồn mới lạ. Vì hội hoạ có ngôn ngữ riêng của nó, nên việc mô tả hay giải mã bằng ngôn ngữ văn học rất dễ rơi vào trạng thái chủ quan, hoặc bàn luận nội dung một cách áp đặt. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh tinh thần (theo sự cảm nhận của tôi) của bức tranh này, cũng có nghĩa là tinh thần của người vẽ ra chúng. Sự buồn bã trong tranh của ông có ý nghĩa gì với đời sống thực không? Tôi tin là có. Vì nếu không một lần buồn bã trước cuộc sống sẽ rất khó tạo ra nỗi buồn trong nghệ thuật. Những bông hoa ở ngoài đời, bao giờ cũng có vẻ đẹp riêng của chúng. Và để đưa được vẻ đẹp ấy lên tranh, người nghệ sỹ cần hiểu rõ về chúng, ít nhất cũng một lần đã nhìn thấy chúng. Nhưng hoa Thảo Mưa mà ông Thiều đặt tên thì tôi chưa thấy bao giờ. Loài hoa này, có thể đã hiện lên trong giấc mơ của ông, hay một sự liên tưởng nào đó trong tư duy thi ca của ông. Vì thế nó hiện ra không khoe mẽ, rực rỡ, tươi vui mà chỉ lung linh vui mắt rồi mang lại cảm giác u buồn ở đâu đó cho người xem. Có vẻ vô lý nhưng lại hợp lý đến kỳ lạ.

Tôi nhiều lần đã trực tiếp xem ông vẽ, rồi vẽ cùng ông. Cách làm việc của ông rất đặc biệt, miệng luôn ngậm điếu thuốc, khói lan toả vẩn vơ bám lấy bộ ria mép muối tiêu của ông. Khi vẽ tôi không thấy ông nói chuyện bao giờ: im lặng - rất im lặng! Cả buổi ông im lặng, nếu vẽ cả đêm ông cũng im lặng. Cứ lầm lũi bôi, trát, xoa, đắp, cạo rồi lại bôi Hình như lúc này tâm trí ông để ở đâu đó, hoặc tập trung cao độ đến nỗi lặng phắc như một cái bóng. Đ ã nhiều lần tôi nói chuyện, hoặc hỏi điều gì đó rất to với ông, nhưng không thấy trả lời. Ông vẫn mải miết thế, hình như ông quên bên cạnh đang có người. Tôi có cảm giác mỗi lần vẽ, bên cạnh ông Thiều không còn thời gian, không gian hay cái gì khác ngoài tiếng sột soạt va chạm của cọ lên toan vẽ. Sự đụng chạm cơ học với làn khói thuốc mỏng manh bay lên từ bộ ria mép muối tiêu kia luôn ám ảnh tôi. Có phải lúc này ông đang trút mọi tâm sự buồn bã lên bức tranh? Hay ông đang nghĩ đến một việc khác chứ không phải đang vẽ? Hoặc một cái gì đó đang mượn ông để vẽ? Tôi luôn bị ám ảnh như vậy. Có thể tôi chủ quan hoặc tưởng tượng thái quá. Nhưng tôi tin nếu ai được chứng kiến ông vẽ sẽ có chung cảm giác như tôi.

Ông là nhà thơ, nên tranh của ông cũng đầy chất thơ, đó là điều dễ hiểu. Mỗi bức tranh hình như ông muốn kể một câu chuyện. Nếu đó là câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ văn học, tôi xin cam đoan đó là câu chuyện buồn - rất buồn! Trước đây trong phòng khách của ông có treo một bức tranh mang tên: “Mười cô gái làng Chùa. Mười cô gái hiện ra bằng mười nhát bay mạnh màu vàng, rồi những khuôn mặt được vẽ theo lối gợi nhẹ, ẩn hiện trong nền xanh lam. Cái nền xanh ấy chìm xuống rất sâu, để làm bật lên mười thân thể màu vàng rất mạnh, nhưng những khuôn mặt ẩn hiện lại làm người ta chú ý nhất. Có một cảm giác hư ảo ở đây, mười cô gái kia hình như không phải là người, cũng không đơn giản chỉ là mười nhát bay vuốt xuống. ở bức tranh này, không tuân theo mọi nguyên tắc tạo hình thường thấy, cũng bỏ qua những phép hoà sắc quen thuộc của ông. Vì thế mười cô gái ấy toát lên sự hư ảo xa xôi và buồn bã. Đ ây là bức tranh đẹp, mỗi khi đến nhà ông chơi tôi thường ngắm rất lâu. Một hôm không thấy treo ở đó nữa, ông thông báo là đã bán nó. Cũng chẳng sao, nó sẽ có cuộc sống riêng của nó. Nhưng ông có vẻ hơi buồn khi nói với tôi về việc bán bức tranh đó. Tôi cũng tiếc, nếu có tiền tôi sẽ là người mua bức tranh đó đầu tiên.

Sự lãng mạn và buồn bã trong hội hoạ của Nguyễn Quang Thiều thể hiện rõ nhất trong màu sắc của ông. Đó là bản hoà sắc thiên về màu lạnh. Tất nhiên không phải cứ dùng nhiều màu lạnh là buồn bã, cả những màu nóng gây cảm giác mạnh cũng buồn thì sao? Nhưng gam màu lạnh thường được ông dùng nhiều trong tranh. Đó có thể là do sở thích, hoặc thói quen. Điều này không quan trọng, dùng màu gì chẳng được, miễn là hài hoà. Tuy thế, cái gam lạnh trầm trầm ấy của ông luôn đem lại cảm giác buồn buồn cho các nhân vật trong tranh. Nếu bây giờ bắt ông vẽ một lễ hội đông vui tôi nghĩ sự buồn bã cũng sẽ ẩn hiện đằng sau nội dung vui vẻ của lễ hội ấy. Tạng người ông thế nên ông vẽ thế. Một bức tranh nữa minh chứng cho sự buồn bã là bức Cậu bé làng Chùa. Đ ây là bức tranh có nội dung rõ ràng nhất và cách tạo hình cũng dễ hiểu nhất. Một cái cây, một cậu bé, một con chim, một bầy cá Tất cả được sắp đặt như một bức minh hoạ vì thế khá hiện thực. Cũng là gam màu xanh quen thuộc làm chủ đạo, chỉ riêng con chim với cái đuôi kỳ lạ được vẽ bằng màu nóng. Chính vì thế nó bật lên rõ nhất, gây chú ý nhất. Nhưng nếu nhìn kỹ, con chim kỳ lạ kia lại gợi một cảm giác xa xăm nào đó. Tôi cho rằng cậu bé kia là ông Thiều đang ngửa cổ nhìn vào một hoài niệm xa xôi của ông. Một hoài niệm buồn, trăm phần trăm là buồn! Cho dù hoài niệm ấy được thể hiện bằng một con chim rực rỡ. Tất cả cảm nhận đó, chỉ là chủ quan của tôi, có thể tôi đúng, cũng có thể tôi sai, nhưng tôi tin vào trực giác của mình thông qua cách tạo hình của ông. Nếu thông qua văn học người ta dễ nhận ra tâm trạng của tác giả hơn rất nhiều, vì khả năng mô tả của ngôn ngữ văn chương khá rõ ràng, còn để nhận ra tâm trạng của hoạ sỹ qua tranh của họ, cần có một kiến thức nhất định về nghệ thuật tạo hình. Tôi có học về hội hoạ, cũng vẽ nhiều năm nên tôi khá tự tin khi nói về tâm trạng của ông Thiều qua những bức tranh của ông. Còn về sự lãng mạn, rất dễ nhận ra vì ông là nhà thơ, nên cách vẽ của ông phóng khoáng, bay bướm với hoà sắc ngẫu hứng, đặc biệt là bố cục được sắp đặt rất tự do, bất ngờ, chỉ những người có tinh thần lãng mạn mới làm như thế.

Trước kia, thỉnh thoảng tôi vẫn thấy ông xuất hiện ở nơi đông người, hoặc trên truyền hình, nhưng bây giờ tôi thấy ông thường lảng tránh những chốn đó. Có lần tôi bước vào phòng làm việc của ông, tôi thấy ông ngồi một mình, xung quanh tràn ngập bản thảo. Những bài thơ người ta gửi đến như đang đè lên người ông, vùi ông bất cứ lúc nào. Tôi cất tiếng chào nhưng ông không trả lời. Tôi ngồi xuống, giúp ông xếp lại bản thảo, nói vu vơ vài câu rồi đi ra ngoài. Một lát sau ông gọi điện hỏi tôi đang ở đâu? Tôi trả lời là vừa từ phòng ông ra, ông à lên rồi rủ tôi đi ăn trưa. Thế đấy, ông là thế. Có những lúc ông chẳng nhìn thấy ai, nghe tiếng ai, thậm chí chẳng biết đang ở đâu vì ông đang nghĩ đến điều gì đó. Buổi tối, ông và vài người bạn hay đi uống cà phê, có lần tôi thấy cả buổi cà phê không thấy ông nói gì, chỉ ngồi nhìn xa xăm đâu đó rồi đột ngột hỏi giờ và ra về. Có thể lúc đó ông đang nghĩ đến một bài thơ, nghĩ đến một bức tranh hay nghĩ về ai đó. Mỗi lần nghĩ ông quên hết mọi thứ xung quanh y như đang vẽ tranh vậy.

Có thể nói, ông là người luôn mang trong mình một nỗi buồn nào đó. Cũng có lúc tôi thấy ông nổi giận. Sự nổi giận rất bộc trực và thẳng thắn, ông quát tháo, ném đồ đạc như thể không còn gì để mất. Nhưng chỉ lát sau tôi thấy ông im lặng - rất im lặng và buồn bã như hối hận với sự nổi giận ấy, mặc dù ông đúng hoàn toàn.

Có lần, ông gọi điện cho tôi, và nói đang đứng ở trước cửa nhà tôi. Khi tôi mở cửa, ông rút ra một bao lì xì nói là mừng tuổi con gái tôi rồi ra về. Tôi mở ra, đó là một số tiền khá lớn, ông biết tôi khó khăn nên thường giúp đỡ. Buổi sáng ông thường gọi tôi đi ăn sáng, có lúc tôi quá buồn ngủ vì thức khuya, không muốn dậy. Ông bảo, cố dậy đi, nếu dậy được bây giờ ông sẽ là người khác, còn nếu không ông là người lười nhác đấy. Ông thường rủ tôi đi ăn trưa và cứ mỗi lần tôi muốn trả tiền ông lại nói: “Năm năm nữa cho ông trả. Và thỉnh thoảng ông vẫn tìm cách giúp đỡ tôi về tiền bạc. Tôi rất ái ngại và buồn về chính mình. Tôi chỉ là một gã người Tày từ núi xuống, sống ở thành phố với sự tự ti vốn có. Tôi cũng không phải là người đặc biệt gì, rất bình thường, thậm chí dưới mức bình thường. Nhưng ông rất ưu ái tôi, giúp đỡ tôi, không phải với sự ban phát hay thương hại. Ông đối xử với tôi như một người bạn. Tôi thấy Nguyễn Quang Thiều chân thành như người Tày tôi vậy. Tôi là người may mắn vì được tiếp xúc với khá nhiều người nổi tiếng, thông thường họ trò chuyện hay hành xử với tôi vẫn theo kiểu bề trên, thậm chí coi thường vì trong mắt họ tôi là một kẻ ngờ nghệch - một người thiểu số hay cái gì khác không đáng kể. Nhưng với ông Thiều thì rất khác, ông trò chuyện với tôi rất công bằng, nghiêm chỉnh. Cái gì hứa với tôi là ông làm, chưa bao giờ quên dù ông rất nhiều mối quan hệ và luôn bận rộn. Không chỉ riêng với tôi mà với rất nhiều người khác ông luôn hành xử như thế, đặc biệt với những ai được coi là yếm thế.

Ở cái thành phố ồn ã, đầy bất trắc này, con người hiện hữu của ông Thiều luôn đem lại cho tôi cảm giác yên bình và tin tưởng. Còn trong tranh của ông, tôi thấy có một nỗi buồn. Nỗi buồn ấy có lúc rõ ràng, đôi khi mơ hồ, đó là nỗi buồn tinh tế được thổn thức bằng bản hoà sắc lãng mạn của ông. Và nếu vẽ chân dung ông, tôi sẽ vẽ với gam màu lạnh, một không gian thật sâu, với những tầng lớp màu sắc hay làm thế nào đó thể hiện được nỗi buồn thầm kín rất lãng mạn trong tư duy của ông.

A SÁNG
Nguồn: VNN



Thứ Tư, 22 tháng 8, 2018

Nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn lạc thời mọi lúc

Những kế sách cải tạo nước Nga mà Solzhenitsyn đã ấp ủ nhiều năm ở hải ngoại hoá ra lại không cần thiết với một nước Nga mà ông Boris Yeltsin, Tổng thống Nga lúc đó, đang muốn làm cho dứt bỏ với quá khứ Xôviết. Lại thêm một lần nhà văn trở nên lạc lõng với xung quanh…
Nhà văn Solzhenitsyn

Nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn qua đời tại Moskva vào đêm chủ nhật 3/8 rạng thứ hai ngày 4/8/2008 tại nhà riêng. Theo lời của con trai nhà văn, nguyên nhân dẫn tới cái chết là chứng suy tim nặng. Từ 5 năm trước, Solzhenitsyn liên tục đau yếu nhưng vẫn cố gắng viết cho đến hơi thở cuối cùng. Tới ngày 11/12/2008, Solzhenitsyn sẽ tròn 90 tuổi.

Con đường đau khổ

Trong lịch sử văn học và xã hội Nga, Aleksandr Solzhenitsyn là một nhân vật lớn và vì thế, cũng rất phức tạp. Những đoạn trường mà ông đã nếm trải cũng như những vinh quang mà ông đã có vừa mang tính khu biệt, vừa mang những nét điển hình cho cả một thời đại ở đất nước bao la, hùng hậu nhưng luôn luôn bị chọn làm nam châm hấp thụ tất cả những mâu thuẫn lớn lao của nhân loại.

Bi kịch trong  số phận của Solzhenitsyn là ở chỗ, trong phần lớn cuộc đời mình, ông luôn là người không hợp thời và vì thế, đã vừa không hữu dụng cho Tổ quốc mình, vừa dễ bị những đối thủ của dân tộc Nga lợi dụng với những mục đích hiển nhiên không nhằm mang lại phúc lợi trước hết cho dân tộc Nga.

Aleksandr Solzhenitsyn sinh ngày 11/12/1918 ở  Kislovodsk. Tuổi thơ của nhà văn tương lai trôi qua trong không khí khắc nghiệt của thời nội chiến. Cậu bé Sasha sớm mồ côi cha nên đã phải chịu nhiều thiếu thốn cực khổ về vật chất ngay từ khi còn rất nhỏ.

Năm 1925, Solzhenitsyn lên thành phố Rostov trên sông Đông và tốt nghiệp trung học tại đó. Sớm có thiên tư văn học, ngay từ năm 19 tuổi, Solzhenitsyn đã nảy ra ý định viết một bộ tiểu thuyết thật đàng hoàng về chiến tranh thế giới thứ nhất.

Tuy nhiên, gia cảnh khó khăn đã buộc chàng thanh niên thông minh dĩnh ngộ này phải vào học vật lý và toán ở Trường Đại học Tổng hợp Rostov. Cũng tại đó, nhà văn tương lai đã cưới một nữ sinh viên cùng năm học tên là Natalia Reshetovskaya. Đó là người vợ thứ nhất của ông.

Khi đã trưởng thành rồi, trung thành với mơ ước thời trai trẻ, Solzhenitsyn muốn trau dồi kiến thức văn học nhưng đã không kịp tốt nghiệp mặc dù đã học hai năm ở khoa Hàm thụ Trường Đại học Triết học, Văn học và Lịch sử Moskva vì ngày 2/9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và nhân dân Liên Xô bắt buộc phải bước vào cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (tháng 6/1941).

Solzhenitsyn nhập ngũ và phục vụ ở trong lực lượng pháo binh cho tới khi chiến tranh kết thúc. Và thật không may, vì vạ miệng có lời lẽ vô tình xúc phạm tới lãnh tụ nên anh sĩ quan trẻ Solzhenitsyn dù có mấy huân chương chiến công nhưng vẫn phải chịu cảnh giam cầm.

Trong cảnh ngộ đó, Solzhenitsyn dường như đã trở thành một con người khác hẳn: ít nói, không cả tin, không ngại làm bất cứ việc gì và lúc nào cũng âm thầm nung nấu một khát vọng sống sót tới vô cùng tận… ở chốn lưu đày, Solzhenitsyn đã ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy lên giấy gói thuốc lá để rồi về sau sử dụng vào sáng tác tiểu thuyết "Vòng tròn đầu tiên"…

Có lẽ tình huống không ai chủ định gây nên nhưng vẫn xảy ra này đã làm đảo lộn trong Solzhenitsyn rất nhiều lăng kính nhân văn khiến cho ngòi bút của ông khi đã trở thành nhà văn luôn luôn khắc nghiệt với những khung cảnh quanh mình. Thiên tài văn học cũng không làm cho Solzhenitsyn trở nên "nhân tình thế thái" hơn với thời mà ông sống.

Rời khỏi chốn lưu đày ngày 5/3/1953, Solzhenitsyn đã mang theo mình những triệu chứng của bệnh ung thư dạ dày, nhưng rồi ông đã tìm được đúng thầy đúng thuốc ở Tashken (thủ đô nước Cộng hòa Uzbekistan) và lành bệnh.

Được khôi phục quyền công dân, Solzhenitsyn chuyển về cư trú tại Riazan và dạy toán lý trong một trường phổ thông. Đồng thời, ông đã thả mình theo những giấc mơ văn học. Và năm 1962, trên tạp chí Thế Giới Mới do nhà thơ cựu chiến binh lừng lẫy A.T. Tvardovsky làm Tổng biên tập, đã công bố tác phẩm văn học đầu tiên của Solzhenitsyn, truyện dài "Một ngày của Ivan Denisovich".

Và ngay lập tức, Solzhenitsyn được đón nhận nhiệt liệt vào làng văn Xôviết. Năm 1964, ông thậm chí còn được đề cử vào danh sách nhận Giải thưởng Lênin…

Tuy nhiên, những ký ức có lẽ là rất nặng nề về những năm tháng bị lưu đày đã khiến Solzhenitsyn bốn năm sau đó cho ra mắt độc giả một bộ tiểu thuyết mang tinh thần khác "Quần đảo GULAG".

Tác phẩm chưa hẳn đã có  giá trị văn học cao nhưng chân thực tới mức độ trần trụi và chứa đựng nhiều thiên kiến xã hội này đã ngay lập tức bị những thế lực thù địch với Liên Xô lợi dụng như một văn bản chống lại tất cả những giá trị Xôviết và tiếp theo đó, chống lại cả những lợi ích chính đáng của dân tộc Nga.

Trong điều kiện Liên Xô lúc đó, một hành vi như thế không thể được bỏ qua và mọi sự cứ dần dà quá mù ra mưa, tới năm 1969,  Solzhenitsyn đã bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn Liên Xô. Đổ thêm dầu vào lửa là giọng điệu tuyên truyền ở phương Tây, cố tình đào sâu thêm vực thẳm tinh thần giữa chính quyền Xôviết với nhà văn khiến hai bên càng ngày càng không hiểu đúng về nhau.

Mọi sự càng trở nên nghiêm trọng hơn nhất là khi các thế lực thù địch với Moskva đã lợi dụng việc trao Giải thưởng Nobel văn học cho Solzhenitsyn năm 1970 để kích động tâm lý chống Cộng, chống chủ nghĩa xã hội, chống nước Nga. Kết cục là Solzhenitsyn phải lãnh đủ những hệ lụy không hay. Năm 1974, ông bị trục xuất khỏi Liên Xô trước đây.

Ở đâu cũng lạ

Cực chẳng đã, Solzhenitsyn cùng người vợ thứ hai và con cái  đã phải hơn hai chục năm sống nơi đất khách quê người, thoạt đầu ở Thụy Sĩ rồi sang Mỹ, định cư tại Vermont. Tuy nhiên, trong sâu thẳm tư tưởng, nhà văn không bao giờ là "người đàng mình" của những thế lực chống lại nhân dân Nga.

Bản thân ông cũng dị ứng với những giá trị văn minh tư bản chủ nghĩa ở phương Tây. Điều này lý giải tại sao là sau những ồn ào đầu cơ quanh tên tuổi và những tác phẩm có vẻ như chống lại Điện Kremli của Solzhenitsyn, phương Tây đã mau chóng trở nên nguội lạnh với những khát vọng văn học đích thực của Solzhenitsyn.

Tại phương Tây, Solzhenitsyn vẫn là một gương mặt lạc lõng: cánh tả không ưa ông vì cái mà họ cho là sự phản bội của ông đối với Tổ quốc, còn cánh hữu lại bực mình vì ông không chung đường với họ trong những cố gắng chống lại Moskva một cách vô độ và mù quáng.

Trong  bối cảnh như thế, nhà văn trở nên không hữu dụng với cả hai bên chiến tuyến. Được coi là người có khả năng đánh thức lương tri nhân loại nhưng Solzhenitsyn đã không thể đánh thức phương Tây tin vào những ý niệm nhân văn đậm màu không tưởng của ông…

Thực ra, các thế lực cầm quyền ở phương Tây cần Solzhenitsyn như một vũ khí để chống lại Liên Xô trước đây chứ không hẳn đã như một nhà văn hợp khẩu vị của họ. Họ càng không cần Solzhenitsyn như một triết gia mang tầm nhân loại. Đó là một sự thật đau đớn mà có lẽ cho tới phút cuối của cuộc đời mình, Solzhenitsyn cũng không muốn "ngộ" ra…

Tha hương, lại lạ lẫm với không gian tư bản chủ nghĩa đầy rẫy những khiếm khuyết mà con mắt tinh anh của một nhà văn lớn như ông không thể nào không nhận thấy, Solzhenitsyn không biết tìm ở đâu nơi trú ẩn cho trí tuệ và tài năng ngoài việc viết những điều mà ông cho rằng nước Nga cần để trở nên xứng  đáng với thiên chức của mình.

Và dần dà, theo dòng thời gian, ông có vẻ như ngày càng trở nên bảo thủ hơn trong cách nhìn nhận thế sự. Những năm cuối đời, Solzhenitsyn có thiên hướng hoài cổ, bỗng dưng lý tưởng hoá quá khứ Sa hoàng mà dân tộc từ hơn 90 năm trước đã một lần kiên quyết rũ bỏ bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại năm 1917.

Từ năm 1989, các tác phẩm của Solzhenitsyn dần dần được in lại ở Nga. Năm 1990, ông được nhận lại quốc tịch Nga. Tháng 5/1994, Solzhenitsyn cùng gia đình trở lại quê hương. Và thật trớ trêu, ông cảm thấy Tổ quốc đã trở nên lạ lẫm với ông nhường nào khi để cho không khí tư bản chủ nghĩa mà ông đã rất chán ngán ở phương Tây tràn vào hăm hở.

Những kế sách cải tạo nước Nga mà Solzhenitsyn đã ấp ủ nhiều năm ở hải ngoại hoá ra lại không cần thiết với một nước Nga mà ông Boris Yeltsin, Tổng thống Nga lúc đó, đang muốn làm cho dứt bỏ với quá khứ Xôviết. Lại thêm một lần nhà văn trở nên lạc lõng với xung quanh.

Những khẩu hiệu mang nặng tính dân tộc chủ nghĩa quá đà mà ông đưa ra ít thuyết phục được ai trong xã hội Nga, thậm chí còn gây nên nhiều cuộc tranh luận nảy lửa. Cuốn sách "Hai trăm năm cộng sinh" của ông, xuất bản năm 2000 đã làm xuất hiện cả những lời buộc tội về tính dân tộc chủ nghĩa quá đà và bài Do Thái.

Những tác phẩm mới của ông cũng không còn sức hấp dẫn với tầng lớp độc giả hiện đại…

Khi Vladimir Putin lên nắm quyền trong Điện Kremli, Solzhenitsyn mới cảm thấy nước Nga mà ông yêu quý đi vào đúng quỹ đạo. Tuy nhiên, sự thật là ông Putin đã hành xử theo cách hiểu của mình về một nước Nga nhìn vào tương lai nhưng không bác bỏ quá khứ chứ không phải theo những "toa thuốc" có lẽ đã không hợp thời mà nhà văn lớn Solzhenitsyn đã một mình nung nấu khi ly hương…

Ngay cả khi Điện Kremli tỏ ra trọng thị Solzhenitsyn, trao cho ông cả giải thưởng nhà nước của LB Nga năm 2007, thì thực chất, nhà văn cũng không có được ảnh hưởng gì đáng kể vào việc quốc gia đại sự. Ông dần dà trở thành một nhân vật mang tính nghi thức trong tâm tưởng người Nga hơn là một nguồn sáng trí tuệ cần thiết cho cuộc sống đương đại.

Cái quan định luận

Đám tang Solzhenitsyn đã được tổ chức trọng thể tại trụ sở mới của Viện Hàn lâm Khoa học Nga, số nhà 32 trên đại lộ Lênin trong hai ngày 5 và 6/8, khi nhiều lúc Moskva mưa khá to. Mộ nhà văn, theo đúng ý nguyện của người đã khuất, được đặt ở tu viện Donsky, một trung tâm Chính giáo ở Moskva, nơi lưu giữ nhiều kỷ vật thiêng liêng. Thời trẻ, Solzhenitsyn đã rất hay tới đây…

Cái quan định luận, rồi đây sẽ còn có nhiều lời đánh giá và nhận xét về vai trò đích thực của Solzhenitsyn trong lịch sử văn học và xã hội Nga thế kỷ XX. Hay dở thế nào, hậu sinh sẽ phán định.

Nhưng có một điều có thể đoan chắc từ bây giờ, Solzhenitsyn là một trong những trường hợp may mắn của văn học Nga vì ngay khi còn sống, dù đúng dù sai, ông đã được đối xử ở đỉnh cao thành tựu của mình.

Nghĩ cho cùng, đã, đang và sẽ có bao nhiêu tài năng lớn cho tới khi nhắm mắt vẫn không được biết tới sự thụ hưởng kết quả rất xứng đáng được có từ những mồ hồi và nước mắt, thậm chí cả máu của mình trong sáng tạo

PHAN HẰNG ANH
Theo VNCA 2008


Trong ngôi nhà của họa sỹ Lê Thiết Cương

Giữa những ngày Hà Nội lắm tiếng ồn, thường, tôi rất thích ghé ngôi nhà 39A Lý Quốc Sư, cũng là gallery - nơi giới “nghệ” Hà thành vẫn thường lui tới. Ngôi nhà mặt đường phố cổ, rất đông người qua lại, nhưng luôn yên tĩnh kỳ lạ. Ở đó, có rất nhiều tiếng vọng của thời gian, để con người ta được trở về, và lắng lại.
Họa sỹ Lê Thiết Cương

“Những buổi ngày xưa vọng nói về”

Lên báo, thường ngôi nhà án ngữ “vị trí vàng” ấy hay được gọi là “ngôi nhà triệu đô”. Nhưng tôi lại thích gọi nó là “ngôi nhà triệu view” hơn, vì nó có rất nhiều điểm nhìn đáng giá. Chỉ cách thế giới bên ngoài có một vuông kính lớn, được trổ rộng, ăn gần hết mặt tiền, đủ để trông thấy những cái “động” vui tươi rộn rã bên ngoài: Tây ba lô, những người bán hàng rong trước cửa Nhà thờ Lớn... nhưng ngay sau ô cửa nhỏ và tấm kính lớn, lại là một không gian “tĩnh” gần như tuyệt đối. Ở đó, chủ nhân bày một cách nâng niu tranh, gốm sứ (“của nhà trồng được”), cùng những món đồ gỗ được người thợ xưa chạm khắc cầu kỳ, tinh tế, có bề dày niên đại đáng tự hào và đương nhiên,  đáng giá. Nhưng không ai có thể hỏi mua. Cũng không một hạt bụi nào được bám lên chúng.

Cương chơi cả đồ cổ Trung Hoa và Pháp, nhưng để nói là thích hơn cả và nhiều hơn cả là đồ gỗ và đồ gốm Việt - “yêu nước một cách tự nhiên” - như Cương nói. Thích cái cách các cụ nhà ta “đóng mà mở”, “mở mà đóng” khi dám phá vỡ cả chuẩn mực (đồ gỗ đời Minh của Trung Quốc và Louis XIV ở Pháp được đánh giá là một chuẩn mực về mỹ thuật), để cho Đông Tây kết hợp một cách nhuần nhuyễn và “tinh quái” nhất có thể. Một mẫu trường kỷ hay đoản kỷ được người Pháp đặt đóng theo mẫu nguyên bản, vào tay người thợ Việt thì kiểu gì cũng được thay thế một chi tiết rất nhỏ nào đó bằng một hoa văn, đường nét đậm nét Đông phương (chữ Thọ cách điệu, hay con tiện...) - không quá đập mắt nhưng vẫn rất dễ để nhận biết. Hay tay vịn của cái đoản kỷ, trong nguyên bản thì là một miếng da, nhưng sang đến Việt Nam, lại được thay bằng gỗ - bớt sang chảnh hơn nhưng lại thân thiện, ấm áp hơn nhiều, cũng là phù hợp với khí hậu bản địa hơn.

Lại có cái tủ để gánh, được người thợ Việt xưa ý nhị trổ cánh ở phía sau để tôn trọng tính chỉnh thể ở mặt tiền. Chưa hết, để ý kỹ sẽ thấy hai cái núm đồng bé tý như hai cái cúc áo đính trên mặt gỗ. Nghĩ mãi mới thông, hóa ra là người thợ ta xưa đề phòng chiếc quai đồng kia có thể làm xước mặt gỗ khi ngả xuống. Tinh tế và kỹ lưỡng đến thế là cùng! “Hài hòa về bố cục, tinh tế về tỷ lệ, đơn giản mà cầu kỳ, tính toán từng ly từng tý nhưng vẫn toát lên một vẻ đẹp hồn nhiên mộc mạc...” - Cương nói anh muốn học được điều đó từ vốn cổ.

Sống chậm, nhưng không “cớm nắng”

Ngôi nhà, đồng thời là một gallery có tiếng của đất Hà thành, nhưng từ tầng 2 trở lên đã được tính là khoảng riêng, để không một ống kính nào được lột tả chúng. Hồi lâu lâu, tôi từng bắt gặp trong khoảng không gian đó một bóng hồng đặc biệt nhan sắc. Đến nỗi, trong lần gặp đầu, khi mới từ ngoài sáng bước vào, tôi đã bị ảo giác, đó là tranh, hơn là người thực. Nhưng ngay cả ảo giác đó cũng là thực, vì sau đây nó đã tan biến. Đó cũng là khoảng thời gian Cương đánh bạn với những sở đoản khác ngoài vẽ: Chụp ảnh, viết (thơ, thậm chí truyện ngắn)... - như một cách đi qua, và sống khác. Ngôi nhà đẹp thường chứa một nhan sắc. Nhưng đôi khi nó cũng giống như một bức tranh được bỏ vào, hay tháo khỏi khung vậy - biết thế! Cương tài hoa và đào hoa, nếu muốn. Nhưng tôi đoán anh là người không dễ yêu. Anh vừa là người lụy cũ, vừa là người rất mới. Nhìn nhà anh thì biết.

Xem tranh Cương vẽ, người không am tường hội họa sẽ vừa mừng vừa... hoảng. Mừng vì hội họa, hóa ra không khó xem như họ tưởng. Nhưng lại cũng hoảng vì không hiểu sao nó lại có thể đơn giản thế, “ý văn học” sâu xa sau đó là gì... Cả gốm sứ, Cương cũng chỉ chơi đúng hai màu: Lam - trắng. Tiết chế hết sức cả về bố cục lẫn màu sắc. Cương thích tối giản, dù biết rõ cái giá của nó là sự tinh tế. “Màu sắc chưa phải là hội họa. Bố cục cũng chưa phải, hình ảnh - cũng chưa... Hội họa, hay design, xét cho cùng, đấy là tỉ lệ. Tinh tế hay không là ở trong tỉ lệ, hơn là hoa văn. Hoa văn là tay nghề, thiên về nghệ nhân, mỹ nghệ... Còn tỉ lệ là gần với nghệ thuật hơn, nó là nghệ sỹ...”, Cương quan niệm.

Lê Thiết Cương là cái tên được mẹ anh đặt cho, trong một kỷ niệm liên quan đến... Khu gang thép Thái Nguyên. Cương lụy đồ gỗ, đồ gốm, nhưng cũng từng chơi cả đồ sắt, thậm chí từng có nguyên một xưởng làm đồ sắt. Nhưng về cơ bản, anh chọn sống mềm mại, gần với những gì thô ráp (nhưng đã được xử lý một cách tinh tế để không quá làm mờ nguyên bản). Anh thuộc tuýp sống chậm, từng đi ô tô, sau chuyển qua xe máy, rồi xe đạp, và giờ phần nhiều là đi bộ. “Được sống trong một khu phố cổ mà không biết đường sống chậm, không bắt được cái nhịp chung của nó thì phí ra”, anh nói. Di chuyển trong ngôi nhà đặc biệt của anh hẳn cũng là một “nghệ thuật”, khi có quá nhiều thứ tinh tế và cần gượng nhẹ vây quanh.

Điểm thở thị giác đáng kể trong ngôi nhà ấy là khoảng sân rộng 14m2 (có thể gọi là giếng trời), ở một nơi “tấc đất, tấc vàng” mà lẽ thường ra, chủ nhân căn nhà mặt phố sẽ tận dụng từng milimet (âu cũng là một cách chơi sang của chủ nhân). Khi tôi hỏi anh về những cái cây ít nhiều bị cớm nắng trong cái giếng trời ấy, như người ta vẫn giễu, “con trai phố cổ” thường bị “cớm nắng”, phần nào đó hơi “ngơ ngác” hơn khi vào đời, thì Cương bảo anh không cho phép mình được “cớm nắng”. Đàn ông, theo anh, cần phải biết sửa từ cái bóng điện đến việc kiếm tiền. “Cớm nắng” thì làm sao kiếm được tiền?

Hai tháng nay, Cương đóng cửa ngồi vẽ, điện thoại chỉ nghe sau bốn giờ chiều. Thường, anh hay vẽ cả một series theo một chủ đề nào đó. Đầu tháng 5 tới, anh sẽ cùng người bạn nghề thân thiết của mình là nhà điêu khắc Đinh Công Đạt tổ chức triển lãm “Duo Design” tại Press Club (Hà Nội). Ở đó, sẽ có tranh của Cương hay điêu khắc của Đạt mà sẽ là những tác phẩm design được hai nghệ sỹ thiết kế cho không gian nội thất. Lần này, tay họa sỹ có vẻ mặt rất lạnh này quyết chơi mấy gam màu nóng, đối nhau chan chát cho những mẫu ghế và mẫu bình của anh. Những chiếc ghế nóng bỏng, nhưng mặt ghế lại là một tấm kính lạnh. Nó không phải là một chỗ ngồi. Nó là chỗ đứng. Của một người nghệ sỹ, có tiếng nói.

NGUYÊN LÊ
Nguồn: ĐBND



“Mộng dưới hoa” và sự tài hoa của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương

Khi ở tuổi thanh xuân, tôi đoán chắc rằng, những thanh niên nam nữ trạc tuổi tôi đều ít ra một vài lần đã lẩm nhẩm mấy câu thơ trong bài thơ Mộng dưới hoa của thi sĩ Đinh Hùng và khi bài thơ này được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc lại càng thuộc lòng, không chỉ lẩm nhẩm như đọc “rap” mà là hát, hát một cách tình tứ khi yêu nhau, bên cạnh nhau và cả khi đã xa cách.
Đinh Hùng và Phạm Đình Chương.

Không chỉ thế, mãi đến bây giờ hơn nửa đời người tôi vẫn thường lẩm nhẩm những câu thơ này và cất tiếng hát bất chợt những câu hát này mỗi khi hoài niệm, ngập tràn cảm xúc về hình bóng của “ai đó” đã đi qua đời mình, đi một cách lặng lẽ, hay thật sự ồn ào gây ra những vết thương sâu, để nhớ mãi.

Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Ấu yếm nhìn tôi không nói năng...

Đời sống trải ra dưới chân đi không phải chỉ có con đường gai góc. Đời sống cùng một lúc cũng mở cho người những cánh cửa mơ mộng khác hơn. Ở đó giấc mộng đẹp đầu tiên khi người niên thiếu bao giờ cũng là một đối tượng hiện thân cho tình yêu. Người con gái ấy với đầy đủ quyền năng sẽ đưa người ta đi trên cây chổi thép, tới những bến bờ hư ảo nhất hiện tại.

Gọi tình tình yêu ấy là tình đầu đời và người yêu sẽ cùng chung một giấc mộng. Đường bay của cây chổi thép sẽ không có ga nào gọi là ga cuối cùng. Đời sống trong một giấc mộng là đời sống trôi hoài không nghỉ ngơi.

Có nghĩa, trí tưởng tượng còn là một vùng thênh thang mây trắng và cái “chưa gặp” ấy được hiểu như một định mệnh còn chờ để ban phân phát cho một người nào.

Cái tuyệt vời nhất nói theo nghĩa của hạnh phúc bao giờ cũng là cái “chưa” hơn là cái “đã có”. Chưa có nên vẫn nghĩ và những cánh cửa như thế cứ mở hoài với những đôi mắt trong tim, muôn nơi và muôn thuở.

Hồi còn niên thiếu, một cậu học sinh lớp đệ tam nhiều mơ mộng và nhiều nghi ngờ, tôi yêu thơ Đinh Hùng như chính những mơ mộng và những nghi ngờ đó.

Tôi đã thuộc vanh vách bài thơ Mộng dưới hoa, chép không biết bao nhiêu lần vào giấy vở để tặng học trò con gái, những tà áo “tiểu thư” đó làm cuống quýt mắt tôi như những sợi chỉ mộng đã rối ngây thơ trong lòng. Nhưng tôi quả thật cũng chưa hiểu được cái đẹp tuyệt vời và sâu kín nhất của bài thơ mà bắt đầu là câu:

“Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”

Sao lại “vẫn” mà không phải “đã”? Bình thường nếu ở một người khác chứ không phải Đinh Hùng câu này chắc chắn phải dùng chữ ”đã” thay vì chữ “vẫn”. Chưa gặp em tôi (đã) nghĩ rằng, có nghĩa là chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, như hoa, hay đẹp như bất cứ hình dung từ nào khác.

Điều này còn nằm trong dự đoán, mà dự đoán có thể đúng mà cũng có thể sai. Bởi vì nàng thiếu nữ khi chưa gặp, tôi đã nghĩ đẹp như trăng nhưng khi tôi gặp rồi thì nàng thiếu nữ có thể sẽ đẹp một cách khác. Đó là điều hoàn toàn dành cho sự bất ngờ.

Ở đây, Đinh Hùng đã dùng chữ “vẫn”, tức là tôi đã xác định rõ ràng rồi dù chưa gặp, người thiếu nữ ấy cũng vẫn đẹp như trăng. Chữ “vẫn” quá tuyệt vời và điều này càng chứng tỏ rằng không phải chỉ là một thi sĩ làm thơ hay, mà còn là một thi sĩ tài hoa.

Dĩ nhiên không phải căn cứ vào một bài Mộng dưới hoa do Phạm Đình Chương phổ nhạc mà thôi. Thơ của Đinh Hùng nhiều lắm, đó là Đường vào tình sử hành trang của những người niên thiếu đi vào tình yêu lần đầu.

Sống với tình yêu thứ nhất là sống với người trong mộng, cõi mộng đầy tràn ánh trăng của độ mười sáu, mười bảy. Và Phạm Đình Chương cũng không chỉ phổ nhạc duy nhất một bài Mộng dưới hoa, những Nửa hồn thương đau, Dạ tâm khúc, Buồn đêm mưa, Người đi qua đời tôi. Đó cũng toàn là thơ phổ nhạc.

Nhưng với Mộng dưới hoa Đinh Hùng và Phạm Đình Chương như hiểu nhau hơn ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, che những nốt nhạc ấy lại, nó là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ.

Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ.

Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng...

Đó là bốn câu đầu của bài thơ (và nhạc). Đó cũng là sự nghi ngờ, lạnh bạc của một giấc mộng. Em đã hiện đến, vẫn đẹp như tôi nghĩ. Tóc xanh là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng. Không sai vào đâu được nỗi ngỡ ngàng đó của một khoảnh khắc thời gian dừng lại với hai người gặp nhau trong giấc mộng. Hò hẹn bao giờ qua những cái nhìn âu yếm ấy?

Câu hỏi hoàn toàn không được trả lời vì đó là câu hỏi của một hạnh phúc tràn đầy như những sợi máu vừa căng lên làm nóng hổi trái tim ta.

Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối...

Yêu nhau là nương tựa vào nhau những khi đổ nát, tan vỡ. Tôi vẫn nghĩ như thế nhưng tình đầu không bao giờ là một hạnh phúc đến với ta rồi ở mãi. Thế nên tôi vẫn chưa, hay không còn dịp nào để nghe những bước chân mệt mỏi của em ghé sát vào tôi và chúng ta đưa nhau vào tận rừng xanh vớt cánh rong vàng bên suối. Khi người yêu đã xa cách nghìn trùng tôi mới bàng hoàng với bốn câu (thơ hay nhạc) đó?

“Cánh rong vàng” đã tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Có cặp tình nhân nào vớt được “cánh rong vàng” bên suối ấy chưa? Chưa, nó hoàn toàn là một giấc mộng.

Bước khẽ cho lòng nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nghìn thu
Núi biếc sông dài ghi nhớ
Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê.

Tôi đã đánh mất tình yêu đầu tiên từ lúc nào. Thế nên khoảng thời gian yêu nhau hãy còn bàng hoàng lắm, và cơn mộng của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương chụp xuống thành một bản trường ca, hát hoài qua những năm tháng, ngày tháng lênh đênh. Làm gì còn được một câu “Bước khẽ cho lòng nói nhỏ” để nói với nhau?

Chính điều đó đã làm cho tôi hiểu hơn lúc nào, bao giờ tình yêu cũng chỉ là một bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng, và mộng em cười như giấc mê.

Quả thật, sống bây giờ là sống cho những cơn mộng đã xế mất ngang đầu, hụt hẫng bể dâu và có lẽ, cũng đã tan tành để mãi mãi đau xót, hối tiếc lại khoảng ngày nào, “chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”.

Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng rất sớm trong làng văn, làng báo Hà Nội, ông là em rể của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng về thơ nhưng tác phẩm đầu tay của ông lại là tập văn xuôi Đám ma tôi được NXB Tân Việt in năm 1943 (ông sinh ngày 3-7-1920).

Trước đó Đinh Hùng đã có thơ đăng trên các báo: Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm đời nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Khi bài thơ Kì nữ ra đời và sau đó được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh đã đưa tên tuổi Đinh Hùng lên đỉnh cao và khẳng định ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi tứ đầy ma lực. Điều này thể hiện rõ nhất trong thi phẩm Mê hồn ca (1954).

Tháng 8-1954, khi vào Nam, Đinh Hùng cộng tác với nhật báo Tự do của ông Phạm Việt Tuyền, cùng thời với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong... Khi nhật báo Tự do đình bản, Đinh Hùng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, một chương trình ngâm thơ nổi tiếng lúc bấy giờ và từng tạo nên những giọng đọc thơ nức tiếng như: Hồ Điệp, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân, Hồng Vân, Hoàng Oanh...

Trong thời kỳ làm báo ở miền Nam, thi sĩ Đinh Hùng còn ký nhiều bút danh khác như Thần Đăng khi làm thơ trào phúng, Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết dã sử như Cô gái gò Ôn khâu, Đao phủ thành Đại La. Năm 1961 Đinh Hùng cho ra đời tập thơ Đường vào tình sử đoạt giải “Văn chương và thi ca” năm 1962.

Năm 1967 Đinh Hùngcho ra mắt tuần báo Tao Đàn thi nhân nhưng báo chỉ ra được 2 số thì ông mất vì bệnh ung thư gan lúc đang nằm điều trị tại Bệnh viện Bình Dân (5h sáng ngày 24-8-1967) khi chỉ mới 48 tuổi.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (sinh năm 1929) tại Bạch Mai, Hà Nội, cũng là một nhạc sĩ tài hoa, nổi tiếng rất sớm, không chỉ là một nhạc sĩ mà ông còn là ca sĩ với tên Hoài Bắc, chủ trương thành lập ra ban hợp ca Thăng Long (1951) nổi tiếng ở Hà Nội với các thành viên đều là người trong gia đình gồm: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh).

Trước đó, những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng với các anh em trong gia đình như vừa nêu đã gia nhập Ban Văn nghệ quân đội ở Liên khu IV và đi ca hát phục vụ chiến trường.

Thời kỳ này Phạm Đình Chương đã sáng tác những bản nhạc có giai điệu hùng tráng, tươi trẻ đầy hào khí như: Ra đi khi trời vừa sáng, Thanh niên tiến lên, Bài ca tuổi trẻ, Mười thương, Sáng rừng, Hò leo núi, Hội trùng dương...

Năm 1953 nhạc sĩ Phạm Đình Chương kết hôn với ca sĩ Khánh Ngọc rồi cùng gia đình vào Nam năm 1954. Sau khi vào Nam, gia đình nhạc sĩ Phạm Đình Chương đều tiếp tục làm nghệ thuật, Ban hợp ca Thăng Long biểu diễn ở các phòng trà, vũ trường.

Nhạc của Phạm Đình Chương cũng chuyển hướng sang phong cách trữ tình, lãng mạn, sâu lắng và đầy tâm trạng như: Xuân tha hương, Buồn đêm mưa, Màu kỷ niệm, Xóm đêm, Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội... Và một ca khúc không thể không nhắc đến mỗi dịp xuân về của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là Ly rượu mừng.

Khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã có những ca khúc đau xót, da diết như: Nửa hồn thương đau (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Người đi qua đời tôi (phổ thơ Trần Dạ Từ)...

Riêng với việc phổ thơ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được đánh giá là một trong số rất ít nhạc sĩ phổ thơ tài hoa đã chuyển hóa thơ thành đôi cánh bay cao, giúp thơ hay hơn, nhiều màu sắc hơn, nâng hồn vía thơ bay bổng hơn để được nhiều người nhớ và thuộc hơn qua nhạc. Tài hoa phổ thơ của Phạm Đình Chương xếp ngang hàng với nhạc sĩ Phạm Duy.

Quả vậy, một số bài thơ khác của các nhà thơ được ông phổ nhạc đã khẳng định điều này như: Lệ đá xanh (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Đôi mắt người Sơn Tây (phổ thơ Quang Dũng), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê)... Và bài Mộng dưới hoa (phổ thơ Đinh Hùng) là một ví dụ.

Sau năm 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại Mỹ, ông mất ngày 22-8-1991.

TỪ KẾ TƯỜNG
Nguồn: ANTG


Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018

Nhà văn trẻ Ngô Thuý Nga: Lặng im và tha thứ để yêu thương

Nghe tin Ngô Thuý Nga ra mắt tập truyện ngắn đầu tay, niềm vui của tôi vỡ òa. Thế là, những khó khăn của cuộc sống, những gánh nặng của một người chị vừa ra trường phải nuôi hai đứa em ăn học và những mất mát của một cô gái tuổi hai mươi vừa mất mẹ đã không đánh gục được Ngô Thúy Nga…
Nhà văn trẻ Ngô Thuý Nga

Người ta thường nói, muốn hiểu một người viết văn, trước hết hãy đọc văn của họ. Điều này có lẽ không sai với Ngô Thúy Nga. Đọc văn Ngô Thúy Nga, sẽ nhận thấy đây đó trong từng nét chữ thấp thoáng bóng dáng và cuộc đời của một cô gái tuổi hai mươi nhiều bất hạnh. 15 truyện ngắn trong tập truyện Nước mưa của chàng câm là 15 cung bậc cảm xúc khác nhau, va chạm vào nhiều ngõ ngách của đời thường và mảnh tâm hồn cứ ngỡ như tờ giấy mỏng tang hay một giọt mưa sắp vỡ òa. Ám ảnh một cách nhẹ nhàng, mỏng manh mà vô cùng sâu sắc, Ngô Thúy Nga đóng vai người vạch ra những nỗi đau và cả người băng bó những vết thương.

Những câu chuyện trong văn Ngô Thúy Nga thường xoay quanh các nhân vật có tâm lý không bình thường. Họ là những “gã”, những “hắn”, những “ả”, những “nàng”, những “em” và “anh”. Họ không có tên, hoặc giả nếu có cũng chỉ là những cái tên mơ hồ như chính cuộc đời họ. Họ suy nghĩ, suy nghĩ, dằn vặt, rồi lại suy nghĩ về cuộc sống, về những lỗi lầm, và cả định mệnh. Trong văn Ngô Thúy Nga, đôi khi, những câu nói đùa, những cái nguýt dài chua ngoa hay một cái tát như trời giáng cũng trở thành âm thanh của nỗi “buồn dài, buồn lặng, buồn lâu” không sao dứt ra được. Những cuộc gặp gỡ, những tình yêu khắc khoải, tồn tại đấy mà như không tồn tại, chẳng trắc trở mà vẫn cứ không thành, nhiều khi ở trong nhau mà lòng vẫn thấy cô đơn. Cái sự cô đơn chiếm lĩnh từng chữ trong văn Ngô Thúy Nga, ngay cả khi cô miêu tả một đám đông, một bữa tiệc hay những cuộc cãi vã thường như cơm bữa trong một gia đình đông con túng quẫn. Song khác với những sự lạnh lùng, hằn học, văn Ngô Thúy Nga nói về mọi góc cạnh bẩn thỉu nhất của đời với thái độ bao dung đáng để cho mọi tội lỗi phải cúi đầu hổ thẹn.
Bìa tập truyện Nước mưa của chàng câm

Ở ngoài đời, Ngô Thúy Nga cũng vậy. Tha thứ, im lặng, và mỉm cười, và nghĩ về người khác một cách vô điều kiện dường như đã là lẽ sống của cô gái nhỏ. Cũng như văn chương, cuộc sống với Ngô Thúy Nga luôn là một hành trình tìm kiếm sự khoan dung, tha thứ cho nhau giữa những con người, những cuộc đời, để trên hết, vẫn là một tình yêu rộng lớn, thánh thiện bao trùm lên tất cả.

Hầu hết chúng ta, những người viết văn, với cái bản ngã rất lớn của mình thường luôn nghĩ về những điều vĩ đại, luôn mong muốn một tác phẩm để đời “thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người, phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi,…, ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình...”. Điều đó chẳng có gì sai, thậm chí đáng được cổ vũ. Song, vô tình trên hành trình đi tìm kiếm những câu chuyện vĩ đại, chúng ta đã bỏ quên những mảnh vỡ của bộ mặt cuộc sống đang nứt ra từng ngày, từng giờ, trong những góc tối và trong chính lòng mình. Như một con ong cần mẫn hút những nhụy hoa còn sót lại trong khi những con ong khác đã vội vàng bỏ đi sau mật ngọt đầu mùa, Ngô Thúy Nga đã cho chúng ta thấy đủ ngọt bùi, đắng cay của cuộc sống thông qua giọt mật chắt chiu từ những mùa hoa đời bỏ lại.

Nghe tin Ngô Thúy Nga ra mắt tập truyện ngắn đầu tay, niềm vui của tôi vỡ òa. Thế là, những khó khăn của cuộc sống, những gánh nặng của một người chị vừa ra trường phải nuôi hai đứa em ăn học và những mất mát của một cô gái tuổi hai mươi vừa mất mẹ đã không đánh gục được Ngô Thúy Nga, và chắc chắn, Ngô Thúy Nga sẽ còn đi xa hơn, bền hơn trong nghiệp viết. Cứ như một bụi cỏ dại mọc giữa đường đời, dù bao bước chân dẫm lên vẫn hiên ngang sống, văn chương chính là lẽ sống, là người tình của Ngô Thúy Nga, giúp cô gái mong manh ấy trở nên mạnh mẽ một cách kiên cường giữa những lần vùi dập của bão tố cuộc đời.

Âu đó cũng là một duyên phận!

NGUYỄN VÂN
Theo NVTPHCM





Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2018

Tình thế của những nhà nghiên cứu văn học

(Để tưởng niệm Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh)

Nghĩ về con đường của những nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại thuộc thế hệ Lê Đình Kỵ, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Tâm…, tôi thường suy ngẫm về cái tình thế mà họ đã trải qua từ khi vào nghề cho đến lúc hoàn thành sự nghiệp. Đó là cái tình thế đặc biệt, tình thế mà những tác giả Phê bình và cảo luận, Dưới mắt tôi, Thi nhân Việt Nam, Nhà văn hiện đại… không gặp phải và những nhà nghiên cứu hiện nay có lẽ cũng không hình dung được.
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh - Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Những người viết lịch sử khoa nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX chắc chắn phải tìm hiểu hoàn cảnh nào đã đưa những tác giả nói trên đến chọn lựa nghề nghiệp mà họ gắn bó suốt hơn nửa thế kỷ nay. Phải chăng là họ có thể đi một con đường khác: làm chính trị, làm kinh tế, nghiên cứu khoa học tự nhiên, dịch thuật hay sáng tác… Nếu như thế thì họ đã có một sự nghiệp, chưa hẳn đã yên bình hơn, nhưng chắc chắn để lại cho đời những công trạng khác, và đem lại cho họ một cuộc sống khác.

Sau 1945, những văn nhân thi sĩ như Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài…, dù có những trăn trở, giằng xé, cũng thích ứng được với bước ngoặt lịch sử và khẳng định được vị trí phù hợp với sở trường của mình. Trong khi đó, hầu hết những nhà nghiên cứu, phê bình văn học lớp trước đều có những đứt gãy khiến họ xa rời lĩnh vực đã từng làm nên tên tuổi họ: Thiếu Sơn đi vào hoạt động xã hội, Trương Chính chuyên tâm với nghề giáo, Vũ Ngọc Phan chuyển sang văn học dân gian, Nguyễn Bách Khoa vướng vào Nhân văn - Giai phẩm…

Phải chăng là cái khoảng trống mà các nhà nghiên cứu lớp trước để lại là một thuận lợi cho những nhà nghiên cứu đến sau? Câu trả lời có thể là vừa có, vừa không. Khi không còn những “mẫu mực” để kế thừa, người ta sẽ rộng đất hơn để thể hiện, nhưng cũng phần nào cảm thấy bơ vơ và lúng túng, nhất là khi họ phải tuân thủ những “mẫu mực” mới. Thú thật, là kẻ hậu sinh, lớn lên trong một hoàn cảnh khác, tôi không hiểu được tâm thế của những nhà nghiên cứu khi họ dấn thân vào nghề vào cuối những năm 50 – đầu những năm 60 ở miền Bắc. Liệu họ có hình dung cái tình thế mà họ sẽ đối diện và những gập ghềnh mà họ phải vượt qua hay không?

Trong thực tế, tình thế khó khăn và tế nhị mà những nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại gặp phải còn lớn hơn gấp bội lần so với những nhà nghiên cứu văn học cổ điển hay văn học nước ngoài. Những tranh luận về văn học cổ điển hay nước ngoài, nếu có, dễ được giải quyết bằng những chứng cứ và chứng lý khoa học hơn là đối với những hiện tượng văn học diễn ra ở đây, thời này, vốn chưa được thời gian thử thách. Làm văn học Việt Nam hiện đại tưởng như dễ dàng hơn về tư liệu, nhưng sự soi chiếu về lý thuyết lại có những lấn cấn, ràng buộc mà sự chính xác của tư liệu nhiều khi cũng phải xếp xuống hàng thứ yếu.

Chính từ đây đặt ra cho những nhà nghiên cứu văn học hiện đại vấn đề thái độ ứng xử. Đó là sự ứng xử với những hiện tượng văn học còn tươi rói, ứng xử với những tác giả cùng thời, ứng xử với các luồng dư luận có “quyền lực mềm” của nó. Những nhà nghiên cứu văn học hiện đại dành công sức cho những ứng xử này có lẽ không ít hơn công sức họ dành cho việc khảo sát các hiện tượng văn học một cách nghiêm nhặt, bằng những thao tác khoa học. Chỉ cần thống kê những đề tài và số lượng bài viết mà họ dành cho một hiện tượng văn học cụ thể, với tần số những lời khen, lời chê, ta sẽ nhận ra điều đó.

Theo thiển ý, Nguyễn Đăng Mạnh là một trong những trường hợp tiêu biểu cho cách ứng xử với tình thế để tự khẳng định phẩm giá của mình với tư cách một nhà khoa học. So với nhiều nhà nghiên cứu cùng thế hệ, ông là người không dính đến quan chức (trưởng khoa, trưởng ban, viện trưởng…); nhưng về danh hiệu khoa học thì ông không kém ai (giáo sư, nhà giáo nhân dân, giải thưởng Nhà nước…). Đối tượng nghiên cứu của ông hầu hết là những hiện tượng văn học đích thực, ít có những đề tài gì khiến người ta có thể trách cứ ông là xu thời. Và điều quan trọng là trong những công trình của mình, ông đã phát huy đến mức tối ưu sở trường cảm thụ tinh tế  và năng lực diễn đạt thành những văn bản có tính chất sáng tạo, như những văn bản nghệ thuật thứ hai. Những gì ông viết về Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Xuân Diệu… chứng minh điều đó.

Nếu những ứng xử có tính chất “đắc nhân tâm” trong nghiên cứu có thể làm cho người ta mệt mỏi, thì việc chọn lựa và bảo vệ những giá trị văn hoá lại tạo ra một niềm vui lớn, giúp vượt qua những nhọc nhằn của nghề nghiệp. Nguyễn Đăng Mạnh vốn không phải là người “sùng bái” những lý thuyết văn học mới, vì ông đã có một “định hướng” ưa thích của mình là đi tìm cái đẹp trong những phong cách nghệ thuật độc đáo. Ông cũng là người không ưa “tầm chương trích cú”, không ưa tỉ mẩn so sánh, đối chiếu văn bản… Nhưng công phu chọn lọc để trích dẫn và bình giảng một câu thơ hay, một đoạn văn đẹp cho thấy nghề nghiên cứu cũng là một loại “phu chữ” nặng nề, cực nhọc. Đào sâu và nối dài ý nghĩa của những giá trị văn học bằng sức thuyết phục của ngôn ngữ chính luận và giọng văn cảm xúc, nhiều bài phê bình của Nguyễn Đăng Mạnh chiếm vị trí hàng đầu của những ý kiến có chọn lọc và sáng suốt nhất trong một thời kỳ văn học.

Nguyễn Đăng Mạnh là người kỹ tính trong thẩm văn, bình thơ. Nhiều hiện tượng văn học từng gây xôn xao dư luận cũng không dễ thu hút ngòi bút của ông. Trong đời sống văn học, thiết nghĩ, rất cần những người kỹ tính như vậy, chính điều này góp phần tạo ra sự “cân bằng sinh thái học” trong sáng tác, nghiên cứu, phê bình. Trong văn chương, cái đáng chê là sự buông tuồng, suồng sã, xuê xoa và dễ dãi. Trong đào tạo, những người như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh lại càng phải kỹ tính và chặt chẽ hơn nữa khi góp phần cho xuất xưởng ngày càng nhiều những tiến sĩ và thạc sĩ văn học trên đất nước ta.

Có thể nói Nguyễn Đăng Mạnh sinh ra là để làm văn. Ông là người chí thú với nghề nhưng có lẽ cũng là người hiểu sâu sắc những bạc bẽo của nghề. Nghề văn vừa đem lại danh tiếng, vừa bắt phải trả giá cho danh tiếng. Được và mất, hạnh phúc và tổn thương đi liền với nhau. Có lẽ đó cũng là đặc điểm của tình thế, trong đó không chỉ những tiếng chê mà cả những lời khen cũng có thể gây ngộ nhận, không chỉ những điều nói ra mà cả những điều không nói ra cũng có thể bị cho là có ngụ ý. Ở đây, không chỉ nói đến tình thế xã hội, mà cả tình thế văn hoá, phong tục…Nhưng làm sao người ta có thể tự nhấc chân ra khỏi hoàn cảnh của mình, để tìm chỗ ẩn náu nào bình yên, không va chạm?

Ngày trước, nghĩ về nghề văn, Tản Đà từng viết: “Tôi từ khi theo về nghề quốc văn kể có tới gần mười lăm năm, lên bổng xuống trầm, vào trong ra đục, phong trần chẳng quản, phi nghị mặc ai, thực cũng mong tựa văn chương để có ít nhiều sự nghiệp […]. Cũng trong mười lăm năm mà tôi theo về quốc văn đó, đến nay hồi tưởng lại, chỉ thấy cuộc đời như trò rối, mình chẳng qua là một đứa ra oai. Bao nhiêu những cái cảnh bóng chìm trong đục, nhất thiết không có thú vị gì; có hứng thú ít nhiều, chỉ có ở những lúc làm được những câu đắc ý. Những lúc đó, không những một mình thú riêng với câu văn, mà lại có cái thú đối với những ai tình cảm ở mặt nước chân mây, tinh thần giao tiếp, dẫu xa xa ngoài bốn biển mà như họp mặt trong một nhà” (Sự nghiệp văn chương, Đông Pháp thời báo, ngày 17-12-1927).

Nhà nghiên cứu cũng như người sáng tác là những người góp phần bảo toàn khuôn mặt tinh thần của giới trí thức một dân tộc. Qua những gì mà họ viết ra cũng như cách mà họ hành xử các mối quan hệ, có thể nhìn thấy phẩm chất và lương tri của tầng lớp trí thức, nội lực và tầm văn hoá của một dân tộc. Xã hội nhìn vào họ, đòi hỏi ở họ, nhất là trong những tình thế đặc biệt, vừa xây dựng được sự nghiệp, vừa bồi dưỡng được lương tri. Kẻ hậu sinh là chúng tôi, nhìn con đường chông gai mà thế hệ bậc thầy như  giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã đi qua, dẫu nghĩ đến cái phù phiếm của sự nghiệp văn chương để cho lòng thêm thanh thản, cũng không khỏi lo ngại về con đường xa tắp còn hiện ra trước mắt mình.

 HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Khoa VHNN- ĐHKHXH&NV TPHCM


Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều