Thứ Hai, 13 tháng 8, 2018

Trần Mạnh Hảo, ông là ai?

Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn đi tiên phong trong việc xé bức màn sương mù bao quanh Trần Mạnh Hảo bằng câu nói hình tượng: Trần Mạnh Hảo là “chiếc Ca-pốt rách của đảng”. Ca-pốt chụp vào dương vật của tay chơi gái phóng túng nhưng không muốn để lại dấu vết cho thiên hạ biết. Khốn thay Ca-pốt rách, không chống được... nên kết quả là vật bảo vệ kia trở thành vô ích!...
Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo

Thi sĩ Xuân Sách viết thơ chân dung Trần Mạnh Hảo như sau:

Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo!

Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ thì ra tay?...

Bức chân dung thật sống động, sắc nét, gai góc khiến người đọc biết chút ít về Trần Mạnh Hảo – cảm thấy thú vị.

Trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ, Trần Mạnh Hảo (TMH) trở thành người viết phóng sự, làm thơ, với những bài thơ, bài báo loại thông thường. Hoà bình lập lại, ông vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi Địa Linh Nhân Kiệt – thuộc loại hạng nhất của Việt Nam – rồi tiếp tục công việc của nhà văn mà trong chiến tranh chưa làm được...

Lợi dụng thời kỳ “Nhà nước cởi trói”, TMH cho ra đời cuốn tiểu thuyết tựa đề Ly Thân. Cuốn sách, tái hiện lịch sử về giai đoạn nông dân miền Bắc rơi vào hoàn cảnh bi thảm cuả cuộc “Cải Cách Ruộng Đất Vĩ Đại” (CCRĐVĐ). Ly Thân đã dựng lại bức tranh toàn cảnh cuộc “CCRĐVĐ” rất chân thực, sống động. Tác phẩm được dư luận bạn đọc chú ý, đánh giá cao. Chính vì vậy Ly Thân bị thu hồi ngay. Trong bài trả lời phỏng vấn nhà báo Lê Thị Huệ trên Mạng, TMH bộc bạch cõi lòng... , người đọc mới biết cái giá phải trả cho việc “nói thật” thông qua tiểu thuyết Ly Thân. Cha ông, cụ kị ta đã dạy: Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng. Nhưng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) do đảng cộng sản thống trị, nói thật – nghĩa là phơi bầy cái xấu của “đảng ta” – sẽ là một trọng tội. Xã hội Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) trị vì hơn 50 năm qua (từ 1954) – không dung nạp những người hay nói thật, dám nói thật. Kết quả TMH cũng không ngoại lệ: do có tí chút nghiệp vụ viết lách, có tí công cán trong chiến tranh, thời thế đã đổi thay…, ông chỉ bị khai trừ khỏi Đảng, ra khỏi biên chế nhà nước. Mà thời gian cuối những năm 80 của thế kỉ trước, ra khỏi biên chế là “mất sổ gạo”, là... “đói to”! Sau cú ly thân ngoạn mục, không thấy Trần Mạnh Hảo xuất hiện trên Thơ – Văn đàn nữa.

Bẵng đi it lâu, đột nhiên người đọc được biết đến những bài viết của TMH có nội dung khác hẳn. Trần thi sĩ quay sang viết phê bình, tiểu luận. Hơi văn, giọng văn, tinh thần của các bài viết mạnh bạo, gay gắt – cứ như tên lính gác trung thành với chủ, cố chết bảo vệ dinh lũy của chế độ, của “Vua”. Có người còn ví TMH như con cú đang “nhòm” nhà bệnh, chỉ chờ con bệnh “có vấn đề” là... “ăn hồn ma”! Bạn bè văn chương lúc ấy cho rằng TMH đã nhận ra thiếu sót khi viết Ly Thân, giờ “tạ tội” với Đảng bằng cách tự nguyện làm vai trò “tên lính gác trung thành”, tên “biệt kích văn nghệ” trong địa hạt văn chương, giáo dục – cho “đảng ta”!

Dư luận trong giới cầm bút phản đối Trần Mạnh Hảo rất mạnh. Tôi chỉ nói đến những vụ điển hình “ầm ĩ” nhất:

– Đỗ Minh Tuấn, đạo diễn điện ảnh bất bình, đến độ văng tục, gọi Trần Mạnh Hảo là “Cái Ca–pốt rách của Đảng” (nghĩ đến hình tượng này, người nghe càng tởm, lợm cả cho người nói), rồi lên mạng talawas chửi rủa TMH...

– Các giáo sư, tiến sĩ biên soạn sách giáo khoa trong ngành giáo dục “sôi me” vì gần 300 bài viết của TMH theo kiểu “moi móc”, “vạch lá tìm sâu” – bới ra những khiếm khuyết trong các công trình của các vị dùng để dạy học sinh trong hệ thống giáo dục – rồi đưa lên mặt báo để bàn dân thiên hạ biết bản chất của các “tiến sĩ”... giấy của Đảng ra sao khiến cả xã hội Việt Nam lo lắng cho con em mình trước hiện trạng ngành giáo dục xưống cấp thảm hại.

– Nguyễn Huy Thiệp (trong vụ Hoa thủy tiên) – rất căm TMH, viết Kịch Mổ. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (NHT) cho nhân vật bác sĩ Trần Mạnh Khảo (nhưng người đọc nhận ra ngay đó là chân dung Trần Mạnh Hảo) – tay “thợ giết – mổ” không nghề nghiệp – mà lại được trọng dụng hành nghề giải phẫu “các con bệnh văn chương”. Trước khi hạ màn NHT cho thợ giết mổ – bác sĩ Khảo – nghệ sĩ nhẩy, múa may... giỏi với ngầm ý: Trần Mạnh Hảo chỉ là tay “thợ”... “viết”, chứ không thể là nhà văn, nhà phê bình – nghệ thuật! Vì vậy “các sáng tác của anh ta chỉ là thứ... vứt đi”!

– Trên diễn đàn đại hội Hội nhà văn Việt Nam hồi tháng 4/2005, TMH đọc bài tham luận nảy lửa...

Trước đây người ta đặt vấn đề xung quanh hiện tượng TMH, không phải là không có lí. Song, người ta có lí của người ta. Trần Mạnh Hảo có lí của TMH. Nếu chỉ thuần túy vì Nghệ thuật – Học thuật mà anh lớn tiếng phê phán một quan niệm thẩm mỹ, một quan điểm văn chương khác với nhận định chủ quan của anh thì cũng là lẽ thường tình, cần thiết cho quá trình phát triển của nền Văn học – Nghệ thuật nước nhà. Nhưng trong một số bài phê bình, TMH lại thể hiện bút pháp hoàn toàn mang tính áp đặt, cưỡng bức, y như giọng điệu đã lỗi thời của một số cây bút phê bình cách đây vài ba chục năm. Người đọc không thể hiểu nổi TMH đang trong vai trò nhà phê bình hay cương vị của người “gác cổng”? Kỳ hơn nữa, có lúc lại thấy anh viết ở trạng thái không bình thường...

Trong cuốn Chân Dung và Đối Thoại, Trần Đăng Khoa – Chú Khoa “cuội” – tường thuật lời của Trần Mạnh Hảo trả lời một phóng viên, thấy anh “huỳnh huỵch bê từng chảo lửa hắt quyết liệt vào”... mặt bạn mình. TMH chẳng né tránh, xoa xoa, phẩy nhẹ như những nhà phê bình vẫn thường làm. Anh thẳng thừng: “Chẳng ý đồ gì cả, tôi ngứa tiết là tôi phang đấy. Những anh... nhắng nhít là tôi cứ cho một... hèo!” (Sách đã dẫn, trang 250).





Khi đang “ngứa tiết”, ai đó xuất hiện trước mặt anh, họ lập tức trở nên “nhắng nhít”... và lãnh nhận những nhát “phang”! Trong số những nhát phang đó, “nhát” Văn chương hay là một cách ứng xử Văn Hóa – có thể xem là tàn ác, hiểm độc nhất! Trần thi sĩ phê bình tập truyện ngắn Man Nương của Phạm Thị Hoài rất gay gắt như nhằm kích động những người quản lý Văn hóa – Tư tưởng của chế độ “ra tay” với tác giả mà không e ngại dư luận!

Cũng có vẻ hành động của anh như đang quyết tâm lấy lòng bề trên để tiến thân. Thậm chí giống người “say rượu” – nghĩa là, trong máu đang có “trùng” ngọ nguậy... làm “sôi me”, “ngứa tiết”, chỉ còn biết nhắm mắt làm giảm “cơn ngứa” bằng: phang... phang... và phang!

Anh “phang” nhà thơ, nhà văn đã đành!

Nhưng vì “tiết đang ngứa” nên phang luôn cả người biên tập, người sửa bản thảo – Đỗ Minh và Huỳnh Ngọc Hà – thực ra những người này hoàn toàn vô tội. Thậm chí cả giám đốc nhà xuất bản Hà Nội – người có tấm lòng muốn đổi mới văn chương Việt Nam – nhưng đang đà... “ngứa” ông Hảo Phê sĩ cũng “tiện tay” chém luôn!

Chúng ta hãy phân tích một vài đoạn “'lên cơn” của “anh chàng phong tình, có tiếng là đi mây về gió này”.(Sách đã dẫn – trang 249).

Ở “Nền cộng hoà của nhà thơ” trong tập Man nương của Phạm Thị Hoài – TMH trích: “Khi cái đẹp được hiểu một cách biện chứng nhất, nó sẽ đương nhiên thống trị thế giới hiện thời, một thế giới mà trong đó thú thực, nhìn vào đâu ta cũng thấy xấu ghê gớm”.

Sau câu trích dẫn – “phủ định sạch trơn” – này, TMH bắt đầu “ngứa hộ...”, rồi “hắt lửa”! Thật ra, cái thế giới “xấu ghê gớm” mà Phạm Thị Hoài nói đến là có thật. Liên hệ với thực tế, suy nghĩ kỹ, nhận ra tác giả không cường điệu, không “bỡn cợt, khinh khi...” và hoàn toàn không “nhạo báng một cách khá ác ý nền văn học của chúng ta” – như lời “thợ” phê bình TMH gán ghép, viết trong bài phê bình kia!

Nghĩa là bà Hoài nói... gà, ông Hảo lại cố tình hiểu sang... vịt!

Nhưng nếu vẫn chưa tin, Trần Mạnh Hảo hãy tìm Nguyễn Duy mà hỏi, anh ấy sẽ chỉ cho “Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy”, hoặc “Chuyện trò cùng cái bóng máu me ta” – được trình bầy ở hai thi phẩm nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam trong thập niên tám mươi: Đánh Thức Tiềm Lực (1982) và Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc (1988).

Xin trích vài đoạn của “Bộ sưu tập” những cái “Xấu ghê gớm”:
...
Điếm biệt thư, điếm chợ, điếm vườn
Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn...
...
Chích một giọt máu đem xét nghiệm
Tí trí thức, tí thợ cầy, tí điếm
Tí con buôn, tí cán bộ, tí thằng hề
Phật và Ma mỗi thứ tí ti...
...
Đạo chích thành tôn giáo phổ thông...
...
Một người đi chật cả con đường...
...
Lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa...
...
Sự thật hôn mê, ngộ độc tự hào...

vân vân và v.v...

Còn nhiều điều ngang trái, nhiều cái xấu ghê gớm không thể chép ra hết. Đây là thi phẩm Nguyễn Duy công bố vào các năm 1982 và 1988 – trước cả khi “Nhà Thơ Của Nền Cộng Hoà” (Man Nương) tư duy về sự “sỹ diện”' của mình. Và hình như cùng thời kì này TMH công bố Ly Thân.

Hoặc là tìm sỹ phu của đất Bắc Hà – Nguyễn Xuân Tụ, anh ấy kể cho nghe những nghịch lý trong hệ thống phương pháp tư tưởng – những kết quả do phương pháp cai trị “Văn hóa tầm thấp, vô Văn hóa” tạo ra, được trình bầy trong tác phẩm Chia Tay Ý Thức Hệ. Rồi, hãy nhìn thẳng vào thực trạng đất nước với con mắt nghiêm khắc, khách quan: Từ dưới đáy lên trên cao, từ trong ra ngoài, từ lời nói đến việc làm, từ tư tưởng đến hành động, từ những xó xỉnh tăm tối đến nơi phồn hoa đô hội... từ... từ... rồi anh sẽ thấy chỗ nào quả thực cũng (có) “xấu ghê gớm“.

Chân dung Trần Mạnh Hảo được Xuân Sách vẽ mộc mạc thân tình. Đặc biệt ở hai câu kết:

Bao giờ mày say rượu?
Bao giờ thì ra tay?

Người đọc chợt giật mình, sửng sốt, tự hỏi:

– Hảo hay say rượu?
– Hảo “ra tay” (...) trong khi say?

Phải chăng do bị ức chế... hay... nên... mới ra nông nỗi này?

Ta nhớ lại một đoạn văn của Phạm Thị Hoài viết trong cuốn Marie Sến, chương 3, tựa đề – Con Cái. Hai thí dụ về nổi loạn. Đây là đoạn chị miêu tả về thằng Đủ, đứa con do cuộc hôn nhân của bố nó, một trí thức “mất gốc một nửa” đang “tìm về cội nguồn”, lấy mẹ nó là một nông dân thất học nên đẻ ra Đủ (...).

Khi Đủ hai mươi tuổi, nó nhìn đời bằng cái nhìn khinh bỉ, ngạo mạn. Nó đặc biệt căm thù “quân thành thị, thằng Hà nội...” và đây là những lời nói, ý nghĩ của Đủ, câng câng, thô bạo “văng” vào mặt thiên hạ:

“ ...Thằng Đủ không chối cãi cái tên quê mùa của nó. Nó tự hào: Cóc cần thằng nào vì nó là Đủ. Đủ lắm! Nó phóng cái tên ấy lên một gam, hai gam, ba gam và cực đại: Tao Đú đây! Tao Đù đây! Tao Đụ đây! Tao Địt đây! Một mình tao là Đủ. Tao cưỡi lên đầu chúng mày, quân thành thị ton hót, quân thành thị lưu manh, quân thành thị hèn ươn thây, lười thối thịt...

Đứa nào đào ngũ?
– Thằng Hà Nội!
Đứa nào trốn việc?
– Thằng Hà Nội!
Đứa nào vào làng ăn trộm gà?
– Thằng Hà nội!
Đứa nào làm hại đời con gái người ta rồi gút–bai?
– Thằng Hà Nội!
Đứa nào mua thủ trưởng?
– Thằng Hà Nội!
Đứa nào bán lựu đạn?
– Thằng Hà Nội!
Đứa nào say rượu triết lý thối cả đêm?
– Thằng Hà Nội!
Đứa nào gọi tao bằng Bố để tao vác thêm cho vài khúc củi?
– Thằng Hà Nội!...

Ba năm quân dịch là rõ trắng đen. Ba năm chúng mày lạy tao, chúng mày luồn háng tao, chúng mày gọi tao bằng Bố. Chúng mày thấp như kiến dạng chân, chúng mày ẻo lả, đồi trụy, lưu manh, đéo mẹ, bây giờ bố chúng mày cho chúng mày biết thế nào là phải trái...”

Đủ gọi “thằng Hà Nội” thấp bé như kiến, thậm chí là lũ kiến dạng chân (càng thấp hơn) mới kỳ chứ! Chưa hết, nó còn đe: “Bố chúng mày cho chúng mày biết thế nào là phải trái!”.

Ghê chưa!

Người ta đã biết thế nào là phải trái... rồi nghĩ ngay tới chuyện Chí Phèo uống rượu, tay cầm chai rượu vung vẩy, chân nam đá chân chiêu, vừa đi vừa chửi “Cả làng Vũ Đại”'. Dân Vũ Đại nghe thấy hết, nhưng người nào cũng bịt tai, giả bộ không nghe, tự bảo: “Chí Phèo chửi cả làng kia mà... mình có làm gì động đến gã đâu... chắc là nó chừa mình ra... “.

Bây giờ Đủ còn hơn Chí Phèo nhiều lần!

Nó chửi Thằng Hà Nội thậm tệ! Chửi nơi chứa chấp dung nạp những Thằng Hà Nội lưu manh, trộm cướp, đĩ điếm, tham nhũng... Chửi nơi chúng ta luôn tự hào là chốn ngàn năm văn hiến, nơi tồn tại, bảo vệ, lưu giữ các giá trị đạo đức tinh thần của dân tộc Việt. Thế mà thằng Đủ lại bảo có các Thằng Hà Nội cụ thể... với những thói xấu cụ thể... dường như tất cả mọi thói xấu của cả nước đều gom lại, tập trung trong Thằng Hà Nộị!

Thằng Đủ đã làm hình ảnh “Trái tim của tổ quốc, lương tri của thời đại” bị méo mó lu mờ dần trong tâm khảm của người dân Việt. “Thằng Chọi con” – chưa ráo máu đầu, mới nứt mắt – đã ngông ngênh, ngang tàng vạch ra đầy dẫy thói xấu rồi thóa mạ Thằng Hà Nội... Đến nỗi, những người Hà Nội bình thường, không còn bịt tai được nữa, không còn tự an ủi rằng, “nó chừa mình ra”...

Không!
Chẳng trừ một ai!

Tất cả đều nổi nóng, tức giận... muốn tẩn cho thằng quái một trận nên thân... Nhưng rồi trấn tĩnh, tỉnh táo lại, dân Hà Nội thấy cái đầu đang phừng phừng bốc lửa, dần nguôi đi... chợt nhận ra: Những Thằng Hà Nội kia – những đứa được Đủ liệt kê, chỉ mặt chửi – cũng thật đáng đời lắm! Nếu được đọc đoạn văn này nghiêm túc cẩn thận hơn khi đọc Man Nương, liệu Trần Phê Sĩ có nổi nóng vì bị chạm nọc, hoặc “sửng cồ” giùm những Thằng Hà Nội – “những quái thai của dân tộc” – kia, không?

Còn chúng ta, đọc xong hai khổ thơ của Xuân Sách rồi liên tưởng... chúng ta phải tự hỏi:

– Hảo! Có phải thực anh là “Hảo” không?
– Anh viết trong lúc say rượu?
– Hay khi say rượu “Triết lý thối cả đêm”?...
– Thực ra anh đã “Mua thủ trưởng”?!...

***

Hàng chục năm sau vụ Ly Thân, TMH cứ núp trong màn sương mù. Những bài viết cứ vẫn hô hào và ra tay “bảo vệ Đảng”. Có lẽ vì vậy mà giới văn nghệ sĩ cả nước “quan tâm” nhiều hơn đến “hiện tượng” TMH. Sự quan tâm đó đã tới giới hạn: Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn đi tiên phong trong việc xé bức màn sương mù bao quanh TMH bằng câu nói hình tượng: TMH là “chiếc Ca–pốt rách của đảng”. Ca–pốt chụp vào dương vật của tay chơi gái phóng túng nhưng không muốn để lại dấu vết cho thiên hạ biết. Khốn thay Ca–pốt rách, không chống được... nên kết quả là vật bảo vệ kia trở thành vô ích!...

Câu ví của Đỗ Minh Tuấn quá ác độc đối với cả hai – Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN) và TMH. Một đằng thì cố bảo vệ nhưng không có tác dụng. Còn đằng kia thì quá “phóng túng” lại muốn dấu mặt... Câu nói này đã tích tụ mâu thuẫn nhiều năm và đến giữa năm 2005 – “Nồi súp–de” mới bật van bảo hiểm: Trên mạng Talawas của nữ nhà văn Phạm Thi Hoài – được Đỗ Minh Tuấn mượn làm diễn đàn – chửi chiếc “Ca–pốt rách” (TMH) với nhiều dẫn chứng ở nhiều bài viết dài hàng chục trang...

Trần Mạnh Hảo phản kích, chửi lại Đỗ Minh Tuấn là chiếc “Ca–pốt lành” khi Đỗ Minh Tuấn kể lể về vai trò của mình được núp dưới bóng ông Lê Đức Thọ nhiều năm... Bạn đọc cả trong lẫn ngoài nước được một phen cười sái quai hàm... và theo gương nhà thơ trào phúng của dân tộc: “Thuốc Tím cần mua để rửa tai”...

Thế mà chỉ sau cuộc khẩu chiến này không lâu, TMH đã công bố những bài viết nặng như búa tạ, giáng vào hệ thống lí luận và phủ định vai trò của Đảng CSVN đối với dân tộc Việt Nam... Hành động cûa TMH rất giống hành động của thi sĩ lừng danh Chế Lan Viên. Lúc sắp đi vào cõi vĩnh hằng, ông Chế mới viết: “Bước đường cùng thì cũng phải Đà Đao”! Miếng Đà Đao của Chế Lan Viên là 3 bài thơ: Ai Tôi; Bánh vẽ; Trừ đi! Còn miếng Đà Đao của Trần Mạnh Hảo là (mới có) 10 bài viết góp ý với bản dự thảo nghị quyết Đại Hội Đảng CSVN lần thứ 10! (đăng liên tục gần chục trang Web khác ở Hải ngoại).
….

Tháng 3/2006
TRẦN NGHĨA HƯNG
Nguồn: DCVOnline
__________________

1. Trần Nghĩa Hưng là bút danh của một nhà văn quen thuộc với nhiều bài viết trên Đàn Chim Việt từ những năm 2002. Bài viết này là sự nhận diện một trong 70 khuôn mặt của giới văn sĩ miền Bắc mà tác giả đang bổ sung và hoàn thiện để xuất bản thành sách. Vì lý do tế nhị, tác giả dùng bút danh. Tên thật và địa chỉ liên lạc do BBT DCVOnline giữ.

2. Về tác giả Trần Mạnh Hảo (TMH):

TMH sinh ngày thứ hai, 21 tháng 7/1947 — ngày Tân Sửu (4) tháng Đinh Mùi (6) năm Đinh Hợi, tại xã Nghĩa Phú, Nghĩa Hưng, Nam Định trong gia đình theo Ki tô giáo. TMH theo Cha xứ học chữ và Kinh sách ở nhà thờ từ năm 8 tuổi, đi giúp lễ nhiều nhà thờ ven biển khi 12 tuổi, và hát lễ trong ban ca vịnh giáo xứ Bình Hải.
Học xong trung học phổ thông, TMH đi bộ đội, vượt Trường Sơn vào chiến trường khu 6 (vùng cực Nam Trung Bộ — Nam Tây Nguyên gồm các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và một phần tỉnh Đồng Nai hiện nay), qua Đông Nam Bộ chiến đấu, giao liên, rồi làm báo viết văn cho đến nay.
Năm 1975, TMH vào Sài Gòn định cư tại Quận Phú Nhuận.



Dòng thơ văn Thanh Tâm Tuyền

Nhìn lại thơ Thanh Tâm Tuyền, tự nó, là một thế giới, và đồng thời một không gian nhìn ra thế giới. Đây là đặc tính của thơ Thanh Tâm Tuyền, ở những nhà thơ khác dù rất hiện đại, cũng không có, hoặc không rõ nét.
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền

Ví dụ trong thơ Tô Thuỳ Yên, chủ yếu ta thấy thảm kịch Việt Nam; thơ Lê Đạt chủ yếu phản ánh tâm cảnh người dân châu thổ Sông Hồng; thơ Dương Tường đưa vào nhiều tiếng nước ngoài, thảnh thót giọt mưa dương cầm tím mộng scheherazade, vẫn là cái liếc nhìn ra thế giới, không phải là tầm nhìn sâu thẳm, xâu xé, xoáy vào thân phận làm người, chủ yếu là người nhược tiểu. Nói như vậy, không có ngụ ý rằng thơ Thanh Tâm Tuyền nhẹ tính cách dân tộc. Phân biệt dân tộc với nhân loại là phiến diện: trong thế giới có Việt Nam và trong Việt Nam có thế giới. Trong Guernica của Picasso có Bến Tre, trong tranh khắc gỗ đình làng Việt Nam có Picasso. Tôi nói thơ Thanh Tâm Tuyền trong hình thức và nội dung là một bước ngoặt trong nghệ thuật và tâm thức Việt Nam là vậy.

Tuy nhiên cũng phải ghi nhận với ít nhiều tiếc rẻ là lối thơ Thanh Tâm Tuyền không có người thừa kế. Bản thân Thanh Tâm Tuyền về sau, trong tập Thơ ở đâu xa cũng trở về với những thể thơ truyền thống. Nhưng đây là những bài thơ làm trong lao lý, trong những hoàn cảnh đặc biệt, không cho phép chúng ta suy diễn về lý thuyết. Dù sao ông đã mở ra những chân trời mới và cách tân quan niệm thi ca.

***

Câu thơ, bài thơ mới, đọc qua thấy ngay. Câu văn, cuốn truyện mới, khó nhận ra hơn. Người bình luận phải phân biện: mới so với cái gì, và mới ra sao. Nhưng điều cụ thể nhất lại là: người đọc đương thời có nhận ra nét mới ấy không?

Thưa rằng có. Nhà văn Nguyễn Quốc Trụ, 1973, trên báo Văn, số đặc biệt Thanh Tâm Tuyền đã dẫn, có một bài viết căn cơ trình bày giá trị, nghệ thuật và tính chất súc tích của truyện Bếp lửa, 1957. Ông trích dẫn cặn kẽ nhiều văn bản, nhiều tham khảo, để lại một chứng từ chính xác[2].

Tôi còn một chứng từ riêng: bạn tôi là Đinh Ngọc Mô, nhiều người biết vì có thời phụ trách mục Đố vui để học trên truyền hình Sài Gòn, quen nhau từ 1965 tại Đà Lạt, gặp lại nhau 1970 tại Paris. Lúc ấy, Mô sống vất vả, lang bang, đi đàn hát trong các nhà hàng Việt Nam để mưu sinh. Một tối về khuya, dọc Boulevard des Italiens, Mô đã đọc thuộc lòng cho tôi nghe những trích đoạn dài của Bếp lửa mà anh tâm đắc và cho là tân kỳ. Thuộc thơ Thanh Tâm Tuyền đã là khó, thuộc văn xuôi lại không dễ. Vắng tin nhau khá lâu, có người mách là Mô đã qua đời, đã tự tử bên Canada. Tôi không muốn tin, nhưng mỗi lần mở truyện Bếp lửa, là tôi tìm lại những đoạn Mô đã đọc, cho đến bây giờ sách đã vàng ố, tả tơi, rách nát như cuộc đời của chúng tôi. Trước khi kể lại chuyện này, tôi rà lại tin tức, thì bè bạn bốn bể năm châu đều xác nhận chuyện buồn. Mà tôi vẫn chưa tin, và muốn hỏi Mô: Mô ơi, thật à? Cậu ấy vui tính, hay đùa.

Bạn đọc cho là tôi lạc đề. Thân tình thì biết tôi chỉ mới lạc dòng, lạc giọng, mà không lạc đề.

***

Tiềm năng độc giả thời đó là học sinh trung học: sinh viên đại học chưa nhiều. Và chúng tôi thiếu sách để đọc. Văn chương quốc ngữ thời đó, bỏ ra một kỳ nghỉ hè, có thể đọc hết toàn bộ.

Sách Tự Lực, Vũ Trọng Phụng thì đọc cả rồi… Các tác gia ở lại miền Bắc ít được tái bản. Và chúng tôi khao khát cái mới, các truyện ngắn của Doãn Quốc Sỹ, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Thao Trường. Những “Chiếu hoa cạp điều, với Hương gió lướt đi. Thậm chí, chúng tôi còn bất công với cái cũ: tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh bán chạy được hai số, rồi thôi. Đoán già đoán non: các vị Đinh Ngọc Mô, Nguyễn Quốc Trụ, cũng như tôi, đã đọc Bếp lửa trên ghế trường trung học, trước khi hư thân mất nết ở nơi khác.

Bếp lửa là một truyện vừa, vừa một trăm trang. Thanh Tâm Tuyền viết liền mạch, rất nhanh, trong vài tháng, xong tháng 10-1956, đưa đi kiểm duyệt và xuất bản ngay[3]. Không có độ lùi để sửa chữa. Sau này, khi tái bản, ông muốn sửa chữa, nhưng không làm được và viện dẫn Malraux: người ta không viết lại được một cuốn sách. Nhưng có một truyện ngắn Đại lộ, nội dung na ná, in lại trong tập truyện Khuôn mặt, 1964.

Truyện được viết từ ngôi thứ nhất tôi. Người kể, tôi tên Tâm, cùng tên với tác giả, đi dạy học tại một trường Công giáo tại Bắc Ninh, còn tác giả dạy tư thục ở Hà Đông, khoảng 1952.

Tuy nhiên Bếp lửa không phải là tự truyện, đại khái như tác phẩm Kẻ dưng, l’Etranger của Albert Camus, bắt đầu bằng câu nổi tiếng: Hôm nay mẹ tôi mất, nhưng chính bà mẹ Camus lại sống lâu hơn tác giả. Trong Bếp lửa, Tâm mồ côi bố từ nhỏ, sau đó mồ côi mẹ, trong khi bà cụ tên thật là Thạch Thị Kim thọ rất lâu, ở Long Khánh. Tính cách mồ côi ở đây là một ẩn dụ, như ở Kẻ dưng hay Cũng đành của Dương Nghiễm Mậu sau này.

Không phải là tự truyện, nhưng Bếp lửa phản ánh tâm trạng tác giả, và một số thanh niên đồng lứa vào thời điểm trước hiệp định Genève, 1954, tại Hà Nội, và vùng phụ cận dưới sự kiểm soát của Pháp. Chủ yếu là những nét chấm phá nhẹ nhàng, nhưng rất sắc về tâm thức chính trị của con người lúc đó qua những nhân vật: ông Chính, đảng viên Quốc dân Đảng, còn hoạt động; Bảo có tham dự phong trào Ngũ xã nhưng nay đã tuyệt vọng; Đại say đắm chủ nghĩa mác-xít và chuẩn bị ra khu; Hoà nhân viên Phòng nhì; Ngọc hoàn toàn hư vô và chối từ tổ quốc… Giữa họ là những nhân vật nữ, hiền lành, vô tội, như chị em Thanh và Minh, em họ Tâm; Hạnh; Thịnh vào ra giữa hai vùng… Còn Tâm? Anh xê dịch giữa đám người đó, không thân không sơ, và nói như Meursault, nhân vật Kẻ dưng: không biết rõ mình muốn gì, nhưng biết rõ những điều mình không muốn. Khi Tâm bị ông hiệu trưởng cho thôi việc, ngạc nhiên một chút rồi rửng rưng ngay. Tôi không hỏi vì cớ gì ông muốn tôi nghỉ việc cũng như ông đã quên không nói cho tôi biết… Tôi cũng chẳng buồn quan tâm. Tôi nhẹ nhõm vô cùng và ngủ một giấc rất say” (tr. 90).

Trong thế giới ấy, quan hệ tình cảm cũng mong manh, sắc sắc không không, như giữa Tâm và Thanh, một cô em họ, cũng mồ côi cha mẹ. Đôi khi tôi nghĩ tôi có thể yêu Thanh và che chở cho Thanh, giây thân thích giữa cúng tôi không đáng kể (…) nhưng chưa bao giờ tôi nói ý nghĩ của tôi cả” (tr. 12).

Quan hệ tính dục cũng nhẹ nhàng thôi. Tâm gặp lại Hạnh, một cô bạn học cũ, đi cùng một chuyến xe chở hàng từ Bắc Ninh về Hà Nội. "Đến Hà Nội, mưa lớn hơn, chúng tôi cùng đi ăn cơm với nhau. Và đêm ấy tôi ngủ với Hạnh ở khách sạn" (tr. 72). Chấm dứt chương 4. Bước sang chương 5: "Tôi có cùng về Hà Nội với Hạnh một vài lần. Gần nhau, tôi nhận thấy chiến tranh – hay chỉ cần sự đe doạ của chiến tranh, tổng quát là sự khủng bố tinh thần – đã thổi vào máu Hạnh sự say đắm nhiệt tình trong yêu đương (…). Sau mỗi lần như thế, khi lấy lại bình thường, Hạnh có vẻ ngượng ngùng. Có một lần nằm cạnh tôi, Hạnh nắm tay tôi để lên ngực nàng nói: Anh có khinh em không?" (tr. 76).

Dĩ nhiên là các vị Nam Tào văn truyện kiêm Bắc Đẩu lịch sử sẽ có người bắt bẻ, hạch hỏi: chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, hay bảo vệ tự do, chỉ có kích thích tính dục người phụ nữ hay sao? Bếp lửa là một trước tác nghệ thuật, và Thanh Tâm Tuyền đã có lần nói: «Người nghệ sĩ đưa sinh mệnh mình để đảm bảo sự thành thật của tác phẩm», thì ắt không buồn quan tâm đến những vấn nạn ấy. Điều chúng ta ghi nhận là nét hững hờ, lãnh đạm của Tâm đã thổi dạt Bếp lửa trôi xa, không những với Dòng sông Thanh Thuỷ của Nhất Linh mà còn xa với Khu rừng lau của Doãn Quốc Sỹ hay Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc Khoan đồng hội đồng thuyền.

Một thắc mắc, nhỏ thôi: không khí Hà Nội khoảng 1950-1952 nhất định phải khác xa không khí Sài Gòn 1970-1972. Nhưng về cơ bản, tâm lý thanh niên trí thức có khác nhau nhiều không?

Ngày nay, ngọn lửa chiến tranh vẫn còn tàn phá nhiều nơi trên thế giới; và giữa tiếng kêu la thất thanh của trẻ con, vẫn có lời vinh danh Thượng Đế. Trong Bếp lửa, Thanh Tâm Tuyền đã viết «theo tôi có những lúc người ta cần giải quyết giữa người và người và Thượng Đế không nên có mặt ở lúc ấy (…) Thượng Đế đã bị lôi kéo vào tấn thảm kịch riêng tư của loài người và chỉ có thể thoát ra với sự thất bại» (tr. 67).

Tại Việt Nam, một dải đất còm cõi đau thương, năm 1956, một thư sinh mặt trắng, 20 tuổi, đã viết dõng dạc được một câu như thế, kể cũng là lời tiên tri lạ lùng và cao siêu đấy chứ?

***

Về phong cách, Bếp lửa là một tác phẩm làm mới văn chương chữ nghĩa theo nhận định của Nguyễn Quốc Trụ trong bài đã dẫn. Vậy mới, là so với cái gì, và mới ra sao?

Trong một bài viết tưởng mộ Nguyễn Đức Quỳnh, tác giả Thằng Kình, Thanh Tâm Tuyền 1974 đã viết: «Cùng với Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Thằng Kình là quyển tiểu thuyết quan trọng đối với tôi. Đó là quyển sách đã vỡ lòng, đã mở mắt (…) Tôi không phải là người của một vài quyển sách. Trước và sau khi đọc Thằng Kình, Những ngày thơ ấu, tôi đã đọc hầu hết tiểu thuyết Việt Nam, tôi hiểu được giá trị, tôi cảm được cái hay của nhiều tác giả khác nhưng chỉ có hai tác giả Nguyễn Đức Quỳnh và Nguyên Hồng gây được ở tôi lòng ngưỡng mộ. Văn chương phát sinh từ lòng ngưỡng mộ. Nên tôi không bao giờ quên ơn người đã khơi dậy lòng ngưỡng mộ nơi tôi».[4]

Một lời tình tự như vậy, ở một người ít tự sự như Thanh Tâm Tuyền là quý hoá, là một chìa khoá đưa ta vào thế giới tiểu thuyết, mối hạnh phúc đau đớn, bắt đầu từ Bếp lửa, rồi đến Khuôn mặt, Dọc đường, Cát lầy, Ung thư, Mù khơi, Tiếng động…

Đối với Thằng Kình (1942, Hàn Thuyên, Hà Nội), niềm ngưỡng mộ có lẽ dừng lại ở nội dung mới lạ của tác phẩm, thêm chút tình riêng với tác giả. Chứ nhân vật Kình, khỏe mạnh, tự tin, tích cực, rất xa với nhân vật truyện Thanh Tâm Tuyền; hành văn rậm rạp của Nguyễn Đức Quỳnh cũng xa với lối viết trần trụi trong Bếp lửa.

Gần nhau hơn là Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng viết năm 1938, khi 20 tuổi, như trường hợp Bếp lửa, dưới dạng tự truyện ở ngôi thứ nhất. Bằng giọng văn đơn giản, Nguyên Hồng kể lại tuổi thơ cơ cực, một cách thành thực, như chuyện người mẹ ngoại tình bị gia đình nhà chồng hắt hủi mà đứa con một mực yêu thương. Nhưng cơ bản thì hai truyện khác nhau: Những ngày thơ ấu là tự truyện của một người, dĩ nhiên là mang nét xã hội; Bếp lửa là truyện một thế hệ thanh niên ưu thời mẫn thế, mang nặng chất trí thức và chính trị. Nguyên Hồng viết đơn giản, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những đoạn văn chương, ví dụ ngay ở chương I (Tiếng kèn): «Những buổi chiều vàng lặng lẽ… Buổi chiều nào cũng vậy…», không hề có trong Bếp lửa. Và trong một bài báo, «Nhân nghĩ về hội hoạ», 1956, Thanh Tâm Tuyền khước từ lối «văn chương có thể đặt tên là văn chương của bài tập đọc, luận mẫu cho học trò» (Văn 11/1973, tr. 78). Từ đó, đem Bếp lửa ra giảng dạy ở học đường là việc khó, vì khó tìm ra một vài trích đoạn tiêu biểu gọi là «trích diễm». Kinh nghiệm của tôi: yêu cầu sinh viên phải đọc toàn bộ tác phẩm, rồi đưa ra những chủ đề tổng hợp, về hình thức, nội dung. Ví dụ lối kể chuyện đơn tuyến, một mạch theo dòng thời gian, không một lần quay lại quá khứ – cho dù có rơi rớt một vài kỷ niệm – về người mẹ và bà ngoại. Lối dùng từ bình dị, ưu tiên cho từ đơn âm, ít từ kép, càng ít từ Hán - Việt. Lối đặt câu ngắn, có khi cụt ngủn, có khi lược từ. Câu văn cô đúc, có lúc khó hiểu, như là lời nói nén chặt nội tâm: «Một bên đường cỏ hoang và núi đóng đồn binh» (tr. 47). «Ngọn núi bắt đầu thấy cứng mình vì nghe nắng sắp về dữ dội» (tr. 87). Câu được nhiều người nhắc: «Buổi sáng mùa đông ngây ngất vào lối 10 giờ» (tr. 11). «Buổi chiều ngất ngư chưa muốn ngã» (tr. 28).

Nhưng nét mới quan trọng là không khí chung của toàn truyện Bếp lửa, không phân biệt nội dung, tư tưởng, hình thức, nghệ thuật và ngữ pháp. Thậm chí người đọc có thể hỏi: Bếp lửa, bếp lửa nghĩa là gì?

Với tôi, có lẽ thêm vài kẻ bạn, Bếp lửa là một bài hát.

Bài hát «chỉ được nghe một lần trong đời. Bài hát xưa lắm, những người thích nó kẻ đã chết, người còn sống thì quên không nhắc lại. Riêng tôi, tôi thường thì thầm với chính mình những phút cô đơn» [5] .

Có ai đó đã viết đâu đó về âm hưởng nhạc blues trong thơ Thanh Tâm Tuyền, tôi chỉ biết ông đã thiết lập quan hệ mật thiết giữa các bộ môn nghệ thuật. Điều này, ngày xưa, nhóm Tự Lực đã làm, nhưng còn hời hợt, dù rằng nhà văn Nhất Linh, nhà thơ Thế Lữ, khởi đầu là những sinh viên trường Mỹ thuật. Thời đó, họ chỉ đặt những tác phẩm nghệ thuật bên cạnh nhau. Hoạ hoằn lắm mới có bài Nguyễn Tuân về tranh Nguyễn Phan Chánh. Ở Việt Nam, không có nhà thơ sành hội hoạ như Baudelaire, cũng không có tình bằng hữu giữa các nhà thơ như Aragon, Eluard với hoạ sĩ Picasso hay Chagall ở Pháp. Thanh Tâm Tuyền thật sự muốn bắc cầu giữa các bộ môn nghệ thuật, nhất là giữa thơ và hội hoạ, và thân thiết với các hoạ sĩ Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh, bài «Nhân nghĩ về hội hoạ» viết năm 1956 - hai mươi tuổi - ông đề tặng ba người ấy.

Hoạ sĩ Thái Tuấn kể lại rằng trong một cuộc triển lãm năm 1958, ông có bức sơn dầu vẽ một người đàn ông đội mũ đeo ống sáo trên vai, chừng mực nào đó, là một chân dung tự hoạ; ông không biết đặt tên là gì. Thanh Tâm Tuyền đề nghị gọi là «Hoá thân», Thái Tuấn rất tâm đắc. Ý nhà thơ: anh vẽ cái gì thì cũng là hoá thân vào bức hoạ, tranh nào rồi cũng thành chân dung hoạ sĩ. Nghe chuyện, tôi cứ nghĩ Thanh Tâm Tuyền mượn ý từ một tựa đề tiểu thuyết của Kafka. Đọc lại bài báo nói trên, tôi mới vỡ lẽ ông tham chiếu vào một chuyên khảo về nghệ thuật của Malraux Những hoá thân của Apollon-les Métamorphoses d’Apollon, 1951, và ông thường tâm đắc với Malraux.

Ông viết trong bài Nhân nghĩ về Hội hoạTôi công nhận nghệ thuật như một nghề như mọi nghề khác khi tôi hiểu rằng muốn làm được nghệ thuật người ta cũng cần học hỏi, luyện tập như tập sự bất cứ nghề gì. Đến đó thôi. Khi những nhà nghệ sĩ chân chính, để bảo đảm sự thành thực của tác phẩm, đã mang sinh mệnh chính mình ra thách đố, thì lúc ấy nghệ thuật không còn là một nghề nữa, nó là hành động siêu việt của nhân loại trong cuộc tìm kiếm đời sống chính đính» (Văn, số đặc biệt đã dẫn, tr. 78).

Đoạn trích văn này có thể tóm lược quan niệm và sự nghiệp văn thơ, nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền, và làm kết từ cho bài này.

Chúng tôi gửi thêm vào đó niềm kính trọng và thương tiếc khôn nguôi với một Lòng Suối Trong Xanh đã lẫn sâu vào lòng đất, trở về cõi thuỷ chung. Một dòng thơ đời đời thao thiết nuôi dưỡng Tình Yêu và Quê Hương trong mỗi chúng ta, cho mỗi chúng ta, trong thân phận làm người, làm người trong hay ngoài đất nước, luôn luôn trong nhân loại.

Trong truyện Bếp lửa, sáng tác năm hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền đã hạ một câu kết, để đời, – khi hiu hắt, khi ngời sáng, trong tâm thức thế hệ chúng tôi:

“Anh yêu quê hương vô cùng và anh yêu em vô cùng.

Đời người, vô cùng rồi cũng đến vậy thôi.
Vô cùng Thanh Tâm Tuyền.
Thanh. Tâm. Tuyền.
Thanh Tâm
Tuyền.

Ngày giỗ Trịnh Công Sơn
Orléans, 01-4-2006
ĐẶNG TIẾN
Nguồn: Văn hoá Nghệ An


______________________

[1] Thanh Tâm Tuyền, Văn, số 199, tháng 4-1972, Sài Gòn.
[2] Văn, số đặc biệt Thanh Tâm Tuyền, tháng 11-1973, Sài Gòn. Nhóm Thư Ấn Quán của Trần Hoài Thư dự tính in lại nguyên văn số báo để tặng bạn đọc, liên lạc qua e-mail This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it." target="_blank">tranhoaithu@verizon.net. Hoan hô Trần Hoài Thư.
[3] Thanh Tâm Tuyền, Bếp lửa, nxb Nguyễn Đình Vượng, 1957, Sài Gòn, Chúng tôi trích đoạn từ bản này.
[4] Thanh Tâm Tuyền, Văn, Giai phẩm, tháng 6-1974, tr. 21-22, Sài Gòn.
[5] Thanh Tâm Tuyền, «Buổi sáng ngoài bãi biển», trong Khuôn mặt, tr. 98, nxb Sáng Tạo, 1964, Sài Gòn.




Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

Nhớ về vụ án oan của Trung tướng Hữu Ước

Ba năm giời đằng đẵng, ông trải qua 4 phiên tòa và rồi cuối cùng được tuyên trắng án. Rồi ông lại trở về báo Công an nhân dân làm việc nhưng cũng chẳng được phục hồi, chẳng được bồi thường gì cả và ông phải làm lại tất cả mọi việc từ đầu.
Trung tướng - nhà văn Hữu Ước

Những ngày này, dư luận hết sức quan tâm về vụ án oan đến 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn. Đành rằng, đây là một vụ án xảy ra cách đây 10 năm và cho đến bây giờ thì những vụ án oan sai kiểu như thế này có lẽ không còn nữa. Nhưng, hầu như ai cũng bị ám ảnh rằng, tại sao một số người bảo vệ pháp luật, những người cầm cán cân công lý lại có thể thờ ơ, vô cảm với sinh mệnh của người dân đến như vậy.

Rồi đây, các cơ quan chức năng sẽ phải điều tra, làm rõ những ai gây ra nỗi oan tày đình cho ông Chấn và chắc chắn, họ sẽ phải bị xử lý. Đây cũng là bài học cho những người làm công tác điều tra, xét xử…

Nghĩ về vụ án này, tôi không thể không nhớ đến một vụ án oan khác đã xảy ra cách đây gần 30 năm: Đó là vụ án oan của Trung tướng, nhà văn Nguyễn Hữu Ước, hiện đang là Phó tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an Nhân dân. Ngày ông bị bắt là vào khoảng tháng 9 năm 1985. Khi ấy, ông là Đại úy, Trưởng phòng Thời sự Báo Công an Nhân dân.

Trong trí nhớ của tôi, lệnh bắt ông mang số 067 và chỉ có mấy dòng mơ hồ “vi phạm pháp luật”. Không có tội danh nào cụ thể.

Vậy mà người ta bắt ông rồi chuyển thẳng vào trong thành phố Hồ Chí Minh, lúc thì giam ở trại B34, lúc thì ở Chí Hòa.

Ba năm giời đằng đẵng, ông trải qua 4 phiên tòa và rồi cuối cùng được tuyên trắng án. Rồi ông lại trở về báo Công an Nhân dân làm việc nhưng cũng chẳng được phục hồi, chẳng được bồi thường gì cả và ông phải làm lại tất cả mọi việc từ đầu.

Chúng tôi đã nói rằng, vụ án oan của ông là điển hình cho việc xâm hại các hoạt động tư pháp, mà điều đáng nói ở đây, ông là một Đại úy công an, là một nhà báo, là đảng viên, là người từng chưa đủ 18 tuổi đã lên đường nhập ngũ sang Lào chiến đấu. Với một người như vậy mà người ta còn bắt lấy được rồi tống vào Chí Hòa, bị giam chung với những kẻ đầu trộm đuôi cướp, đám lưu manh chuyên nghiệp thì quả là khủng khiếp.

Nhưng việc ông phấn đấu rồi được đề bạt đến cấp hàm Trung tướng, được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thì cũng là một điển hình về ý chí của một con người và điển hình về sự đổi mới trong công tác cán bộ.

Lịch sử chắc sẽ không lặp lại một vụ như thế nữa.

Trở lại vụ án của ông. Tôi nhớ. Năm 1991, tôi đi viết về một vụ án lừa đảo. Khi cùng với các cán bộ điều tra của Công an Hà Nội hỏi cung đối tượng bị bắt thì gã lại khai ra một chuyện, ấy là hắn từng “được” giam chung với ông Nguyễn Hữu Ước. Gã còn kể, gã được “vinh dự” giao nhiệm vụ “giám sát”, không cho ông tự tử.

Sau này, khi ra tù, trở về báo Công an Nhân dân, ông kể cho chúng tôi nghe các kiểu hành hạ ông mà một số cán bộ điều tra đã nghĩ ra. Nghe ông nói mà chúng tôi cứ dựng hết tóc gáy và thầm bảo rằng, nếu mình vào cảnh như thế này, có khi bị bắt phải “vu cho bố mình là phản động” thì cũng buộc phải khai cho xong để thoát khỏi cực hình.

Cũng đã có một số vụ án khác mà cán bộ điều tra đã nghĩ ra rất nhiều trò để tra tấn phạm nhân. Nhiều người chịu không nổi đã phải tìm con đường giải thoát - ấy là tự tử.

Hiện nay, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cũng đang điều tra lại về một vụ án bắt giam sai của Công an Tiền Giang hơn chục năm trước. Báo Năng lượng Mới cũng đã có phóng sự về vụ án này và cũng đã được biết những người chịu không nổi cực hình mà phải tự tử. Nhưng Giời vẫn còn thương họ nên làm cho sợi dây họ dùng treo cổ bị đứt…

Sau này, khi đi viết phóng sự về khám Chí Hòa, tôi được một cán bộ quản giáo của trại giam - người đã từng làm quản giáo thời ông Hữu Ước bị giam ở đó dẫn đi tham quan. Ông chỉ cho tôi phòng giam nào ông Ước từng ở, chỗ nào ông Ước từng nằm. Rồi ông lại kể cho tôi nghe vanh vách chuyện ông Ước đã từng phải đánh nhau với bọn đầu gấu vì chúng cướp cơm, cướp chỗ ngủ của ông, hay cả những lần đám phạm nhân há hốc mồm nghe ông đọc “Tam quốc diễn nghĩa”.

Khủng khiếp nhất là trong thời gian ông Ước ở Chí Hòa, cứ vài tháng, các quản giáo lại nhận được lệnh từ một cấp trên nào đó chuyển ông sang phòng giam khác. Đối với phạm nhân, đang ở phòng giam này mà phải chuyển sang phòng giam khác, đó là một sự tra tấn vô cùng tinh vi, nhất là khi “chỗ ở” mới cũng là nơi giam giữ những kẻ lưu manh chuyên nghiệp, đám đầu trộm đuôi cướp và phòng nào cũng rất sẵn đám “đầu gấu, đại bàng”.  Bởi người mới vào thì phải nằm chỗ bẩn thỉu nhất, phải hầu hạ đám “đầu gấu, đại bàng” và phải bị ăn những trận đòn “ra mắt”.

Những năm tháng bị giam cầm đã gây cho ông một căn bệnh mà chúng tôi cứ gọi là “hội chứng nhà giam”.

Hàng chục năm đã trôi qua nhưng ông vẫn nằm mê thấy cảnh mình phải ăn cơm trộn cát; vẫn nằm mê thấy cảnh đánh nhau với bọn đầu gấu… Và ông cũng vẫn nằm mê thấy cảnh những cán bộ quản giáo tìm cách dúi cho ông thêm nắm cơm, miếng bánh, an ủi, động viên ông trong những tháng ngày tù tội đó.

Được trả tự do, sự đền bù duy nhất mà người ta dành cho ông là đưa ông đi khám bệnh và an dưỡng ít ngày.

Nhiều cán bộ công an đã từng gây nên nỗi oan cho ông thì vẫn lấp liếm rằng: “Nó không có tội, nhưng cũng có lỗi”. Nhưng lỗi gì thì chẳng ai chỉ ra được.

Ấy vậy mà, ông đã nghiến răng làm lại sự nghiệp của mình. Không nửa lời oán trách. Không có những phát ngôn bất đắc chí. Không tìm cách kiện tụng những người đã gây nên nỗi đau khổ tột cùng cho mình và gia đình.

Tôi đã chứng kiến khi làm Tổng biên tập Báo An ninh Thế giới, ông vẫn đến thăm hỏi, biếu quà vào dịp lễ, tết những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên vụ án oan của ông. Bởi ông hiểu rõ, những người ấy thực ra cũng chẳng thù oán gì ông nhưng thời ấy tư duy nó thế, cách làm tùy tiện, vô luật pháp là thế… Sợi dây oán thù nên cởi không nên buộc!

Kinh Dịch có câu rằng: “Vật cùng tắc biến”, nghĩa là, cái gì phát triển đến cùng rồi thì sẽ có sự thay đổi.

Vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường đã khiến cho những người quản lý của ngành y tế phải tỉnh ra và có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn các cơ sở khám chữa bệnh, làm đẹp tư nhân. Và đến lúc ấy người ta mới tá hỏa ra, lâu nay, vẫn tồn tại những cơ sở làm đẹp tư nhân hoạt động không có giấy phép.

Vụ Nguyễn Thanh Chấn cũng khiến những cơ quan bảo vệ pháp luật phải tỉnh ra và chắc chắn cũng sẽ có những biện pháp rà soát lại các vụ án có dấu hiệu oan sai hoặc có những biểu hiện xâm hại hoạt động tư pháp.

Cũng phải công nhận rằng, trong khoảng 5 năm trở lại đây, việc các cán bộ điều tra dùng nhục hình hoặc nhục hình biến tướng, hoặc bức cung, mớm cung, dụ cung phạm nhân đã được giảm thiểu rất nhiều. Nhưng, ở đâu đó, cũng vẫn còn. Mong rằng, những người làm công tác xét xử hãy nghĩ đến câu “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” và “Việc gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

NGUYỄN NHƯ PHONG
Nguồn: Petrotimes 2013


Khai ngộ với thiên nhiên: Bashô và Octavio Paz (Awakening to the nature)

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu.
Thi hào Bashô của Nhật Bản

Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world)(1), nói theo Patrick H. Dust.

Lắng nghe Matsuo Bashô là lắng nghe những vần thơ của hơn ba thế kỷ trước. Đọc Bashô giữa thế kỷ hai mươi, Octavio Paz, nhà thơ lớn Mexico cho rằng kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi) là cuộc hành hương tâm linh (a spiritual pilgrimage) khi ông tham gia chuyển ngữ nó sang tiếng Tây Ban Nha(2). Bản thân Paz cũng từng sáng tác thơ theo thể renga và haiku (liên ca và haiku) trong phong cách hội tụ và hiện đại.

Cũng như Bashô, thơ Octavio Paz thể hiện hành trình tâm linh và cái đồng cảm vũ trụ rất gần tinh thần “thiên nhân tương cảm” của Đông phương mà ông rất quen thuộc. “Tương cảm và tương ứng chỉ là cách gọi cho nhịp điệu vũ trụ”, Paz đã nói như thế (3). Sự tương cảm đó có thể xem là mặc khải thơ ca (Poetic revelation) một thứ mặc khải không cần tới một quyền lực siêu hình nào, “đó là mặc khải về chính mình mà con người tạo ra cho mình” (4). Đó là mặc khải với thiên nhiên. Vì hiền minh thơ ca cũng là hiền minh thiên nhiên (natural wisdom).

Đó là khi thơ ca học cách sáng tạo và chuyển hóa của bốn mùa, của tứ đại (đất, nước, gió, lửa) trong tĩnh lặng cũng như trong khi đối diện với sự tàn phá thiên nhiên:

“Phản chiếu cái tương thân vũ trụ, thơ ca là biểu tượng của những gì xã hội con người cần hướng tới. Trong khi đối mặt với tàn phá thiên nhiên, thơ ca cống hiến bằng chứng sống động về cái tương thân của các vì sao và các phân tử, của hóa học và ý thức… mỗi bài thơ là một bài học thực tiễn trong hài hòa và tương hợp… Bài thơ hình thành qua cái tương thân của các yếu tố, hình thức và tạo vật của vũ trụ là biểu tượng cho sự tồn sinh trên đời…

Sinh ra từ tưởng tượng của con người, thơ ca có thể chết đi nếu tưởng tượng chết đi hay tàn bại. Nếu con người quên lãng thơ ca, họ lãng quên chính mình, niềm lãng quên con người. Và quay về với hỗn mang nguyên thủy”(5). Paz đã nói như thế.

Và như thế, Paz từ cái nhìn hiện đại, Paz đã vô hình trung kế tục và phóng mở tư tưởng Bashô. Chống lại sự lãng quên thơ ca và lãng quên thiên nhiên, thi hào Nhật Bản kêu gọi “làm bạn với bốn mùa” và “đón nhận thiên nhiên, quay về với tạo hóa”.

Khi lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, Bashô tự thấy mình như là một hành giả lang thang theo gió, tựa hồ tấm lụa tả tơi phiêu lãng. Đó là ông tự xếp mình vào hàng ngũ những tâm hồn phong nhã (fuga: phong nhã, hồn thơ, bản thân nghệ thuật thơ ca) như Saigyô của thơ tanka, Sesshu của hội ca, Rikyu của trà đạo và Sôgi của thơ renga. Cảm nghiệm đó Bashô ghi lại trong tác phẩm Oi no kobun (Cập chi tiểu văn: Ghi chép nhỏ trong túi hành hương):

“Một linh hồn đã hoạt hóa tất cả tác phẩm của những người này. Đó là tâm hồn của fuga (phong nhã), kẻ nào ấp ủ nó đều đón nhận thiên nhiên và trở nên người bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, người ấy đều nhớ đến hoa; nghĩ điều chi người ấy cũng liên tưởng tới trăng. Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi loài thú. Thế nên tôi kêu gọi: Hãy vượt qua man rợ mà đón nhận tạo hóa, quay về với tạo hóa.”

Đoạn văn lộng lẫy mà uyên áo này cho thấy cái nhìn hiền minh của Bashô về thiên nhiên. Thiên nhiên không đối lập với văn hóa. Chính vì có văn hóa, có nghệ thuật, có hồn thơ (phong nhã) thì con người mới là bạn tình của thiên nhiên. Hơn nữa, tư tưởng Bashô còn sâu hơn những gì mà trích dịch bất toàn trên cho thấy.

Cái tưởng tượng thơ ca của Paz có khác gì với tâm hồn phong nhã của Bashô. Tưởng tượng ấy chết đi thì cũng là phong nhã chết đi.

Kẻ man rợ của Bashô thì khác gì niềm quên lãng con người của Paz.
Cái tương thân vũ trụ của Paz cũng rất gần với bạn bốn mùa của Bashô.

Khỏi phải nói, cả hai nhà thơ lớn đều ca ngợi cái thiên nhân tương cảm, cái sáng tạo và chuyển hóa thể hiện trong con người và thiên nhiên.

Cả hai đều hướng tới sự tồn sinh của con người trong nhịp điệu thiên nhiên, cái không khác với nhịp điệu thơ ca.

Để nói về tính sáng tạo của thiên nhiên, Bashô thường dùng từ zôka (tạo hóa). Cho nên ông nói “quay về với tạo hóa”, tức là quay về với cái huyền diệu của vũ trụ.

Trong kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi), đến thăm Matsushima (Tùng Đảo) tuyệt đẹp, Bashô đã viết: “Tạo hóa thiên công, có bút mực nào, lời thơ nào vẽ nổi và tả xiết đây?”(6).

“Tạo hóa thiên công” (zôka no tenkô) chính là tính sáng tạo huyền diệu mà Bashô muốn bắt chước trong thơ, muốn quay về với cái đó, chơi với nó (zôka zuijun: tạo hóa tùy thuận).

Cũng như thế, Octavio Paz cho rằng thiên nhiên là ngôn ngữ, là thơ ca. Mở ra ngôn ngữ chính là trở về với thiên nhiên (es volver a la naturaleza). Nhưng thiên nhiên ở đây không phải là vật chất hay tâm linh mà là năng lượng, là từ trường, rất gần ý nghĩa sinh thái. “Chúng ta ra khỏi thiên nhiên và trở về với nó” là điều ông nhận thấy khi đọc Lévi-Strauss.

Paz cho rằng vũ trụ có từ tính, là từ trường hóa. Vũ trụ là “một loại nhịp điệu đan dệt thời gian và không gian”.

Đứng trước thiên nhiên và vũ trụ mê diệu như thế, hơn ai hết các nhà thơ muốn cuộc tồn sinh của con người yêu thương nó, kết một khối tình với nó. Như Hồ Xuân Hương cho thấy trong bài thơ tuyệt diệu Đá Ông Chồng Bà Chồng:

Khéo khéo bày trò tạo hóa công
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chng
Gan nghĩa giãi ra cùng nhật nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông.

Trò chơi của Tạo hóa thiên công, trò chơi của từ trường mà các nhà thơ nói ở đây là cái kỳ diệu, huyền bí, tinh tế, thiện xảo, công phu, tài hoa, ẩn tú trong sáng tạo và chuyển hóa của tự nhiên.

Trở về ở đây là về với cái linh thiêng của sáng tạo chứ không phải về với đồng quê hay chốn lâm tuyền để hái cúc, trồng lan ở ẩn mà nêu cao tư cách “quân tử”.

Bashô và các nhà thơ chỉ muốn học cái cách mà thiên nhiên hay sinh thái đã sáng tạo. Như Goethe ở Đức đã nói: “Tác phẩm vĩ đại của Nghệ thuật là tác phẩm vĩ đại của Thiên nhiên”.

Thơ ca và nghệ thuật không phản ánh thiên nhiên mà là vận động trong tinh thần sáng tạo của thiên nhiên. Họa sĩ kỳ tài Paul Klee trong thế kỷ hai mươi trong tinh thần đó mà nói với một người bạn đang dạy nghệ thuật:

“Hãy dẫn sinh viên đến Thiên nhiên, vào trong Thiên nhiên! Để họ học cảm nghiệm một nụ hoa hiện thành thế nào, một cái cây mọc thế nào, một con bướm mở cánh thế nào, làm sao cho các bạn ấy sẽ trở nên phong phú, biến đổi, hào hứng như bản thân Thiên nhiên. Đón nhận đường lối sáng tạo tự nhiên mà biến tạo hình thức. Đó là trường học tuyệt nhất.”

Đối với Bashô, Paz cũng như họa sĩ Klee, phải là văn hóa, phải là thơ ca nghệ thuật mới có thể là thiên nhiên, rất khác với quan niệm nhị đối thường có giữa thiên nhiên và văn hóa, cũng như thiên nhiên và con người.

Phê bình sinh thái đương nhiên đồng tình với những nghệ sĩ thượng thặng ấy và dị ứng với loại tư tưởng “làm chủ và sở hữu thiên nhiên” kiểu Descartes.

Con người dường như không muốn hiểu rằng Thiên nhiên làm ra con người chứ làm gì có con người làm ra Thiên nhiên. Và chỉ có thể con người cần Thiên nhiên chứ Thiên nhiên cần chi con người.

Trong thiên nhiên, vai trò của con người không phải là chủ nhân. Đó phải là người bạn như Bashô đòi hỏi, “bạn của bốn mùa”. Đó phải là người tình, như Paz gợi ý.

Tương quan với thiên nhiên như thế có thể là một tương quan mật thiết, sắc dục hay từ tính (a magnetic relationship) nghĩa là thu hút nhau, mơn trớn nhau và có thể xuyên thấm nhau.

Như bài haiku của Bashô về đầm Kisagata:

                Đầm Kisagata
                Nàng Tây Thi nằm ngủ
                Hoa buồn ngủ trong mưa.

                                (Kisagata ya
                                ame ni Seishi ga
                                nebu no hana).

Dưới mưa, đầm Kisagata, nàng Tây Thi và hoa buồn ngủ (hoa hợp hoan) như cùng nhau thiếp ngủ. Cảnh ấy “ngập đầy đôi mắt” nhà thơ, mơn trớn nhà thơ.

Và khổ thơ về quẻ Hằng của Paz:

                Như rừng nằm trong giường lá
                Em nằm ngủ trong giường mưa
                Em hát ca trong giường gió
                Em hôn trong giường những tia lửa ngời.

                                (Como el bosque en su lecho de hojas
                                tú duermes en tu lecho de lluvia
                                tú cantas en tu lecho de viento
                                tú besas en tu lecho de chispas)

Nhà thơ Paz muốn “sờ nắn bằng tư tưởng và suy tư bằng thân xác” và vần thơ trên cho thấy điều đó. Nằm ngủ, hát ca và hôn trong mưa, trong gió, trong lửa. Tư tưởng thật sự biết sờ nắn và thân xác thật sự biết suy tư.

Với Bashô, tiếp xúc và hiểu biết thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận: “Muốn biết cây tùng, hãy đi tới cây tùng”. Đi tới là tiếp xúc, là mơn trớn, là thâm nhập vào sự vật, vào thiên nhiên. Và cảm nghiệm Nước, Đất, Gió, Lửa bên ngoài ta cũng như bên trong ta.

Nước, cổ mẫu đầu tiên, trải nghiệm đầu đời của ta. Lòng mẹ, máu, sữa, mưa, sông, biển, nước mắt,…

Haiku mùa thu của Bashô:

                Chén trăng đầy
                sóng thơm mùi rượu
                biển xanh say.

                                (Sokai no
                                nami sake kusashi
                                kyo no tsuki)

Trăng có thể được dùng làm chén mà múc rượu từ biển mùa thu ngát hương: rượu tình.

Với Paz, thơ ca là nước, nước chảy tràn.

                Cuối cùng hãy là một Lời…
                một giọt nước trên khao khát môi.
                …
                nước, nước cuối cùng trôi,
                lời của người dành cho người.

                                (Ser al fin una Palabra…
                                un poco de agua en unos labios ávidos.
                                …
                                Agua, agua al fin
                                palabra del hombre para el hombre).

Nước kết nối con người với cội nguồn, con người với con người. Nước là thơ ca, là tình yêu cuộc sống.

Đất thì phong nhiêu, là mẹ đất. Theo Paz, mẹ đất luôn luôn trinh nguyên. Nhưng sinh sản vô tận hoa trái trần gian.

Một bài haiku của Bashô trình bày một cuộc chơi: hoa rụng về cội.

                Xuống đất ư
                cánh hoa về cội rễ
                dường như giã từ.

                                (chi ni taore
                                ne ni yori hana no
                                wakare kana)

Bài thơ thuộc mùa xuân cho dù nói về giã từ và cái chết. Vì hoa lại tan mình vào đất, một lúc nào đó lại tái sinh thành hoa mới trên cây. Cây đã nhập hoa trở lại vào thân mình. Vòng luân hồi của sinh thái là thế.

Đất thì lặng lẽ và cây cũng thế. Paz nói lên cái vô ngôn đó trong một bài haiku của mình:

                Cây tần bì
                đêm qua dường sắp nói
                nhưng rồi không nói ra.

                                (Anoche un fresno
                                a punto de decirme
                                algo -callóse)

Có nhiều cách nói. Và không nói cũng là một cách nói. Do đó ta có thể nghe đất và nghe cây. Không thể nghe bài ca im lặng của đất và cây có thể là một cách mất gốc, không còn là hoa của đất.

Đất có thể kết hợp với trời trong mưa và lúc ấy mọi sinh linh trông khác đi, như một bài haiku của Bashô cho thấy:

                Mưa mùa hạ trôi
                kìa chân chim hạc
                ngắn lên lần hồi.

                                (Samidare ni
                                tsuru no ashi
                                mijikaku nareri).

Chân chim hạc ngắn đi khi nước dâng nhưng nói thế mà không phải. Chim hạc biết rõ chân mình, biết bầu trời và nước, biết mùa hạ và mưa theo cách của nó, theo bản năng sinh thái. Chim hạc đứng một mình nhưng đâu phải một mình. Hiện thời, đất, nước và bầu trời làm ra nó.

Thiên nhiên là một thế giới tương tùy và tùy duyên mà sinh khởi, trong đó bất kỳ một sinh thể nào cũng có mặt trong cái khác trong nguyên lý tương tức (interbeing) không có chi ngoại lệ.

Tư tưởng Phật giáo cũng như hiền minh sinh thái nhìn thấy không có gì là biệt lập, một mình.

Một mình không phải là một mình hiện hữu mà là “một mình với”. Con hạc không bất động. Đứng yên là một cách khác, bay với mưa mùa hạ. Cái đứng yên đó là kết tụ ngàn lần đã bay và ngàn lần sẽ bay.

Trước Bashô, Nguyễn Trãi cũng đã có cái nhìn hiền minh này:

                Lẻ có chim bay cùng cá nhảy
                Mới hay kìa nước nọ hư không.

Nhiều thế kỷ trước, thiền sư Nhật Bản Dôgen cũng đã nói trong Chánh Pháp Nhãn Tạng(Shobogenzo):

“Từ nước, cá làm nên đời sống của mình, và từ trời, chim cũng thế. Đời sống ấy chim cá làm ra. Đồng thời đời sống làm ra chim cá. Bởi thế, cá, nước và đời sống, cả ba sáng tạo lẫn nhau”.

Và hình ảnh cánh hạc biển của Nguyễn Du:

                Hải hạc diệc hội vũ
                Bất dữ thế nhân tri.

                                (Biển xanh cánh hạc múa chơi
                                Cần chi hạc múa cho người đời hay.)

Cái quan trọng là mọi hiện tượng đời sống sáng tạo lẫn nhau, chứ không có ưu quyền đặc lợi cho riêng cái nào. Đất và nước, đất và trời tương phản mà tương hợp.

Như lời trong sách Thái Căn Đàm: “Nếu chân tính của ta có sức mạnh sáng tạo của bản thân Thiên nhiên tạo hóa thì dù cho đi đâu, ta đều thấy cá nhảy và nhạn bay”.

Đất, trời, nước, chim, cá… và ta thở cùng hơi thở, tương tùy, tương duyên, tương hợp, tương tức,…

Đất tự nó là một sinh thể. Con người không chỉ sống trên đất mà còn là đất. Thế nên Paz viết:

                Chỉ có đất
                mà tôi biết và biết tôi.

                                (Única tierra
                                que conozco y me conoce).

Với Octavio Paz, gió được xem là “hơi thở sáng tạo của đời sống. Gió có thể ném ta ra khỏi chính mình hay ném ta vào chính mình”.

Lang thang trong gió thu gió đông, Bashô cảm thấy:

                Xơ xác dãi dầu
                gió xuyên thân xác
                vào tận hồn sâu.

                                (Nozarashi o
                                kokoro ni kaze no
                                shimu mi kana).

Cùng diễn tả hơi thở dữ dội của gió, đến giữa thế kỷ hai mươi, nữ sĩ Setsuko viết:

                Đất trời
                rung chuyển cùng hơi thở
                bày trận tuyết rơi.

                                (ame-tsuchi no
                                iki aite hagheshi
                                yuki furasu).

Gió vừa sáng tạo vừa tàn phá, vừa là sắc vừa là không, vừa đến vừa đi đồng chơi, vừa chơi vừa chết đồng thời.

Gió thổi mây bay. Nhưng chính là gió bay. Yếu tính của gió là bay và bay và nó có thể giải thoát từ đã đến thơ ca ra khỏi trọng lực, như những vần thơ của Paz cho thấy:

                Thế giới cũ của đá
                cất mình lên và bay

                                (El viejo mundo de las piedras
                                se levanta y vuela).
                …
                Ngày mở bàn tay
                bay ra ba áng mây
                và những vần thơ này.

                                (El día abre la mano
                                tres nubes
                                y estas pocas palabras).

Mây bay gió thổi. Nhưng ngày thật sự mở ra với lửa. Với Paz, thơ ca là “ngôn ngữ của lửa” (lenguaje de incendios) và lửa cũng là tâm linh, như có thể thấy qua vần thơ sau đây của ông:

                linh hồn không sống trong hình thể nào,
                nhưng làm cho mọi hình sắc cháy
                với một ngọn lửa bất diệt huyền linh.

                                 (espíritu que no vive en ninguna forma,
                                mas hace arder todas las formas
                                con un secreto fuego indestructible).

Lời thơ của Bashô trong một đêm mùa xuân ẩn giấu một ánh lửa vô hình của nến, của hương và của u huyền:

                Một đêm mùa xuân
                trong góc Phật đường
                bóng ai quỳ mông lung.

                                (Haru no yo ya
                                komoribito yukashi
                                dô no sumi).

Một hình ảnh lửa có thể nhìn thấy trong nước qua bài haiku khác của Bashô:

                Dòng Mogami ấy
                dìm mặt trời đang cháy
                vào trong biển xanh.

                                (Atsuki hi o
                                umi ni iretari
                                Mogamigawa).

Lửa mặt trời vẫn cháy trong dòng sông ấy, trong biển cả ấy và vẫn cháy trong thơ ca, trong đá, trong cỏ, trong gió, trong đất và trong con người.

Thơ ca đã kết buộc thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, ôm ấp đất, nước, gió, lửa bằng tình yêu nồng nàn.

Mỗi ngày của chúng ta được kết dệt bằng vũ điệu của các nguyên tố ấy như lời thơ của Paz:

                Những nguyên tố quấn quít nhau
                đan dệt y trang của một ngày chưa biết.

                                (Los elementos enlazados tejen
                                la vestidura de un día desconocido).

Cái ngày chưa biết đó, cái ẩn giấu đó chính là cái mê diệu mà thiên nhiên mặc khải cho thơ ca, sự mặc khải mà Bashô và Paz lắng nghe không ngừng. Lắng nghe hình sắc và lắng nghe cả hư không. Thơ Bashô:

                Từ cành cao
                hư không rơi xuống
                trong vỏ ve sầu (7).

                                (Kozue yori
                                adani ochi keri
                                semi no kara).

NHẬT CHIÊU
Theo NVTPHCM

Chú thích:

(1) Patrick H. Dust, Editor: Ortega y Gasset and the Question of Modernity, The Prisma Institute, Minneapolis, 1989, p.51
(2) Octavio Paz: Covergences, Trans. Helen Lane. HBJ, New York, 1987, p.248
(3) Octavio Paz: Children of the Mire, Trans. Rachel Phillips, Harvard University Press, Cambridge, 1974, p.63.
(4) Octavio Paz: The Bow and the Lyre, Trans. Ruth Simns, McGraw-Hill, New York, 1975, p.121
(5) Octavio Paz: The other voice, Trans. Helen Lane, HBJ, New York, 1992, p.159,160.
(6) Matsuo Bashô: Oku no hosomichi/ The Narrow Road to Oku, Song ngữ Nhật Anh, Trans. Donald Keene, Kodansha, Tokyo, 1996, p.78,79.
(7) Những trích dịch không đánh số trong bài viết chúng tôi thực hiện khi dựa vào các tài liệu sau đây:
- Jason Wilson: Octavio Paz, A study of his poetics, Cambridge University Press, London, 1979
- The Poems of Octavio Paz, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. E. Weinberger, New Directions, 1998
- Octavio Paz, Selected Poem, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. Tomlinson, Penguin Books, 1979
- Bashô The Complete Haiku, Sách song ngữ Nhật – Anh, Trans. Jane Reichhold.



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều