Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TIẾN ĐẠT: VÀO ĐỜI TỪ CỬA HẸP VĂN CHƯƠNG

Nhắc đến nhà văn Tiến Đạt, nhiều người yêu văn chương biết đến anh qua tác phẩm Tôi vào đời. Tác phẩm này sau đó được dựng thành phim Vào đời. Có thể nói, Tiến Đạt đã thực sự “vào đời” bằng cửa hẹp văn chương.
Nhà văn Tiến Đạt

Sau hai mươi năm cầm bút kể từ cuốn sách đầu tay, Tiến Đạt viết được: Có con chim lạ trong thành phố (tập truyện ngắn), Tội lỗi tự nhiên (tập truyện ngắn), Thể xác lưu lạc (tiểu thuyết), và mới đây là tập truyện ngắn: Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân và tập du ký Lữ khách gió bụi xa gần (NXB Văn hóa Văn nghệ). Hai mươi năm cho ra lò chỉ vài cuốn sách nhưng cũng đủ làm nên diện mạo một nhà văn Tiến Đạt.

Từ gái điếm đến mỹ nhân

Truyện ngắn Tôi vào đời giống như một tự truyện của Tiến Đạt viết về đời sống sinh viên tỉnh lẻ vào thành phố nhập học. Những chàng trai vừa rời làng quê, để có tiền ăn học đã phải làm nhiều công việc vô danh. Nhân vật trong Tôi vào đời làm thêm bằng nghề chạy xe ôm, phương tiện là chiếc xe 67 còn lại sau chiến tranh, mà khách hàng ruột là những cô gái điếm.

Hai mươi năm trước, Tiến Đạt học ĐH Luật TP.HCM ở ngã tư Bình Triệu (Q. Thủ Đức). Hẳn nhiên, gần trường ĐH thường có nhiều dãy phòng trọ cho sinh viên thuê. Trong những dãy phòng trọ chật hẹp, tồi tàn này, không chỉ có sinh viên mà còn có nhiều tầng lớp dưới đáy xã hội khác đang trú thân chờ mong một ngày đổi đời. Những người sống lâu năm ở Sài Gòn hẳn còn nhớ, khu Bình Triệu là nơi có rất nhiều cô gái hành nghề bán thân sinh sống. Bởi cách cây cầu Bình Triệu là bến xe Miền Đông khá phức tạp bởi dân tứ chiến giang hồ từ các miền Trung, Bắc đổ về Sài Gòn hàng ngày.
Tập truyện Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân của Tiến Đạt

Chàng sinh viên Tiến Đạt đã sống trong môi trường như thế, và có lẽ chính “cái thuở ban đầu” ấy đã theo anh mãi trong các sáng tác sau này. Truyện của Tiến Đạt thường miêu tả những nhớp nhúa của cuộc sống nhưng luôn để lại những dư vị an lành trong lòng người đọc. Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân lần này cũng vậy nhưng ngòi bút Tiến Đạt đã công phu hơn qua trải nghiệm của thời gian.

Nhà văn Trần Nhã Thụy, một người thân với Tiến Đạt cả trong văn và ngoài đời, nhận xét về tập truyện Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân: “Lúc nào cũng vậy, truyện hay tiểu thuyết của Tiến Đạt đều có thao tác khảo sát bên ngoài và bên trong, như nhận diện hai mặt của cuộc sống. Nhưng Tiến Đạt không thuần đuổi theo thiên hạ, hay trôi theo dòng đời mà qua đó truy đuổi, soi rọi tâm trạng cá nhân mình. Sau những khốc liệt bao giờ cũng là ước nguyện được trở về bình an, được mộng một giấc lành. Do đó, truyện ngắn của Tiến Đạt tuy mô tả nhiều khía cạnh nhớp nhúa của xã hội, rốt lại vẫn để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng đẹp cùng với những chia sẻ cá nhân không màu mè giả tạo”.

Vừa đi chơi vừa kể chuyện

Tiến Đạt may mắn hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa, khi anh tốt nghiệp ĐH xong liền được Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) nhận vào làm. May mắn bởi, với một người viết, có điều gì khiến họ hạnh phúc hơn là được đi?! Gần như Tiến Đạt đã đi khắp mọi nơi trên quả đất này. Hẳn nhiên, anh đi vì công việc của người làm du lịch nhưng thông qua đó cũng là các chuyến “thu lượm” thông tin, hình ảnh của người làm nghề viết.

Tập du ký Lữ khách gió bụi xa gần của Tiến Đạt không có cái dữ dội mang tính “PR” như một vài cuốn sách khác, kiểu như: đi bộ xuyên Việt khi trong túi không có đồng nào, đi khắp thế giới với vài trăm USD trong túi…Nhưng du ký của Tiến Đạt, ngoài giới thiệu cảnh quan đẹp, văn hóa lạ của những vùng đất, còn mang đến cho người đọc sự suy ngẫm thông qua góc nhìn của một nhà văn.

Tiến Đạt chia sẻ về tập du ký này: “Cuốn sách này, chỉ là tập hợp của những bài viết mang tính ngẫu hứng, và dậy lên niềm xúc cảm về những vùng đất tôi từng đi qua. Vì, còn có nhiều nơi từng đặt chân đến, nhưng thật khó khi trải lòng ra trang viết. Có thể, còn chờ ủ thêm chất men, hoặc phải quay trở lại khơi nguồn mạch chảy suy tư du ký. Biết đâu, sẽ nằm trong dự án những cuốn sách tiếp theo, khi cuốn sách này bắt nhịp được tần sóng cảm xúc của độc giả - những người bạn thân thiết - mà tôi hiểu, cũng như tôi, luôn mang theo bên mình trái tim của lữ khách”.

HOÀNG NHÂN
Nguồn: TTVH



Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TRẦN NHÃ THỤY: LÀM THƠ TẶNG VỢ RỒI VỀ… NẤU CƠM

Được độc giả biết đến với những tập truyện ngắn, tản văn đặc sắc, và một vài tiểu thuyết gây được tiếng vang, đã chuyển thể thành phim nhưng với nhiều anh em làm báo Sài Gòn, nhà văn Trần Nhã Thụy lại là người thích làm thơ, có những câu thơ rất hay, rất thú. Đặc biệt, anh thường làm nhiều thơ về vợ, người phụ nữ quê đất võ Bình Định nhưng rất dịu dàng. Người phụ nữ không chỉ là một nửa cuộc đời mà còn mang đến hạnh phúc cả phần đời còn lại cho anh, cùng hai cậu con trai kháu khỉnh và một gia đình hạnh phúc, để anh mặc sức “ngoại tình” với chữ nghĩa đêm đêm.
Nhà văn Trần Nhã Thuỵ

Gã giang hồ mê chơi nhưng… nhớ nhà

Như lần làm thơ về vợ, Trần Nhã Thụy đã viết thế này, “Cùng nhau một chặng đường trần/Mình đưa tay nắm những lần ngã đau/Đắng cay nuốt đã nhiều rồi/Thì thôi nước chảy qua cầu ngày xanh”. Dường như, với một người viết văn như anh, những câu thơ chân thành và đắm đượm nhất chính là thơ về vợ, người đã gắn bó với anh từ những ngày mới chân ướt chân ráo mưu sinh ở mảnh đất phồn hoa này. Dù chưa từng kể hết những cơ cực trên đường đời nhưng tôi phần nào hiểu được hoàn cảnh của đôi vợ chồng trẻ ấy. Sống bằng ngòi bút cả nghĩa bóng và nghĩa đen, nuôi hai con nhỏ, ở trong một căn phòng thuê lợp tôn đâu đó ngoại thành. Dần dần, anh chị mua đất, rồi dựng nhà và hồi cuối năm ngoái, căn nhà lại được hoàn chỉnh cho ngăn lắp, to đẹp hơn một chút nữa để những ngày hè oi bức, anh không phải ở trần trên gác viết văn mà mồ hôi lẫm chẫm như chính Trần Nhã Thụy từng tâm sự đâu đó. Có lẽ, thời gian nhiều năm ấy, với vô vàn khó khăn mà những người tỉnh lẻ lập nghiệp ở thành phố phải đổi mặt, nếu không có sự cảm thông, chia sẻ, gắng gượng thì tình yêu không thể nào dìu dắt người ta bước tiếp được. Và, sau nhiều những cay đắng nuốt sâu vào trong lòng ấy, anh chị càng hiểu, càng yêu và thương nhau hơn.

Nhưng, làm người cầm bút anh ý thức rằng. Cuộc sống dù cay đắng hay hạnh phúc thì vẫn phải sống, mà còn cố gắng sống tốt hơn. Vì vậy, anh chọn cách mỉm cười với tất cả mọi thứ, với thơ và đời. Như anh từng viết: Chiều chiều vo gạo nấu cơm/Ngồi trong xó bếp nghe thơm nỗi buồn. Có lẽ, đó là câu thơ tự đáy lòng, thốt chân thực về cảm xúc của anh. Như lần anh bật lên, sau những buổi sáng tập thể dục ở con đường nhỏ trước nhà. Người ta đi Mỹ đi Tàu/Còn mình quanh quẩn cái cầu Gò Dưa. Những câu thơ của Trần Nhã Thụy không nhiều, không cầu kỳ bóng bẩy nhưng cứ làm người ta nhớ mãi, ám ảnh như uống ly cà phê thơm ở một góc quán thơ mộng đâu đó không bao giờ quên. Và khá đặc biệt, bạn bè chỉ đọc thơ anh ở trang facebook cá nhân chứ ít bao giờ anh đưa lên báo, ngoài một lần các đồng nghiệp cũ ở tờ Tuổi Trẻ in một chùm giới thiệu mà thôi.

Thú thật, tôi ít thấy ai tài hoa mà lại chung thủy như anh. Có lẽ đó là cách để anh giữ gìn cuộc sống hôn nhân gia đình. Và thật kỳ lạ, không biết đùa hay thật nhưng dù là người am tường khá nhiều lĩnh vực, Trần Nhã Thụy bảo anh không biết dùng thẻ…ATM, nghĩa là tiền trong tài khoản tất cả đều do vợ giữ, bạn bè các báo chi trả nhuận bút, lương thưởng anh đều không biết. Hỏi thêm, anh cười hóm hỉnh, mình thì được vợ nuôi, tiền ăn sáng, ăn trưa hay cà phê đều có vợ đưa cho mỗi ngày mà chiều chiều lại đón con về ăn cơm vợ nữa thì cần chi tiền? Vậy mà lần nào ngồi nhậu với anh em, bè bạn, khi tính tiền thì anh đều giành trả, bảo mình…mới có tiền!

Cách đây ít bữa, trong dịp đại hội nhà văn thành phố, Trần Nhã Thụy được đông đảo đồng nghiệp tín nhiệm bầu làm Trưởng ban kiểm tra Hội Nhà văn TP HCM. Anh bảo, mình cả đời ở nhà cơm canh, làm ô-sin cho vợ con thì nay lại được làm ô-sin cho anh em trong hội, không biết có mấy năm tới, có làm được gì cho mọi người không. Hình như, sâu thẳm trong anh, cái chức danh ấy là vì bạn bè, vì anh em tình nghĩa nên Trần Nhã Thụy nhận lời chứ với anh, nó không phải là mục đích của người cầm bút.

Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly

Tôi quen anh cũng qua những bài báo. Dần dà, anh em không hẹn nhưng thi thoảng vẫn ngồi bên nhau, ở một quán quen bên bờ kênh Nhiêu Lộc, lặng lẽ nhìn dòng nước phía xa xa, ngắm con kênh từng trong xanh, rồi ngầu đục và lại trong xanh, như những thăng trầm hưng thịnh của thành phố non trẻ này. Cũng như tôi, dù có một căn nhà, một gia đình lẫn cuộc sống khá ổn định giữa Sài Gòn nhưng trong anh chưa bao giờ thôi khắc khoải về nỗi nhớ quê, vùng đất Quảng Ngãi nắng gió sinh ra, nuôi dưỡng anh suốt một tuổi thơ khốn khó. Anh vẫn kể, mình đam mê nhiều thứ. Đó không phải là tính cách mà phần nhiều do đòi hỏi của công việc khiến anh luôn tỉ mỉ, cặn kẽ tất cả những gì mình đặt bút viết, dù là một cái tản văn nho nhỏ in báo hay một cuốn tiểu thuyết vài trăm trang giấy. Ví như viết về người chơi đàn, anh kỳ công quan sát, học hỏi cách chơi đàn. Có khi anh tới tận xưởng đàn, tìm hiểu và chơi thử. Rồi viết về những người đi hát, anh cũng kỳ công vào quán karaoke nghe hát, cảm nhận bằng tất cả cơ học của giọng hát chứ không đơn thuần là âm điệu. Đó không chỉ đơn giản là sự đam mê, là tinh thần trách nhiệm, là hứng thú với trang viết của mình mà hơn tất thảy, với Trần Nhã Thụy, đó là trách nhiệm của mình với con chữ, với độc giả mỗi khi đặt bút trước trang giấy.

Với những người làm báo trẻ có chút nấn níu với văn chương ở thành phố này, nhiều người coi Trần Nhã Thụy là người anh trong cuộc sống, người thầy trong cầm bút và đối thủ trên…bàn nhậu. Dường như, trong làm báo, viết văn hay đời thực, anh đều để lại những ấn tượng khá riêng với người đối diện. Một nét riêng lặng lẽ, trầm trầm của người đã trải qua nhiều biến cố cuộc đời. Anh kể, mình làm báo đã hơn hai mươi năm, kinh qua nhiều cơ quan nhưng phần vì cái cái tôi quá lớn, phần nữa có khi chẳng vì lý do gì khiến anh ít khi nào trụ lâu ở một nơi nhất định, dù nghề báo đã nuôi sống anh, và gia đình lẫn cả văn chương. Vài năm trở lại đây, anh làm trưởng đại diện cho một tờ báo thị trường khá lớn nhưng ít người biết. Ai hỏi, anh bảo mình chỉ là “thằng viết dạo”, rồi cười. Có lẽ, Trần Nhã Thụy là vậy, anh ít khi nhận về mình những xưng danh, chức tước mà cứ vui vẻ ngước nhìn cuộc đời, như một đứa trẻ tò mò muốn tìm những trái chín trên cao vậy. Cái tâm thế luôn hàm ơn tất thảy mọi thứ xung quanh mình của người thành danh cùng văn chương nhưng dường như lại đi bên lề văn chương khiến Trần Nhã Thụy lúc nào cũng thong thả, thảnh thơi và ít bị cuốn vào vòng phù hoa ảo vọng. Anh viết nhiều, mà thật lạ là lại ít kỳ vọng, chả ham nổi tiếng. Đôi lần ngồi cà phê, tôi vẫn cười. Người như anh, văn như anh, đất Sài Gòn giờ hiếm lắm. Hiếm bởi cái tình với anh em, với đồng nghiệp khi văn chương đang ngày một mất đi tính nhân bản vốn có của nó, là làm đẹp cho cuộc đời. Ngay chính nhiều người cầm bút đang hằn học, đua ganh với nhau. Sống với đồng loại nhiều người còn ác lắm, cầm bút mà làm gì?

Rồi, như trong một lần tâm sự rất thật với chính mình và bè bạn, anh viết “Đời tôi là những vỉa hè/Cà phê cà pháo ngồi nghe chuyện đời”. Nếu biết nhiều về anh, có lẽ ai cũng hiểu điều này bởi sau hơn 20 năm cầm bút ở Sài Gòn, anh đã quá am hiểu, tường tận con người và vùng đất này. Tuy nhiên, điều băn khoăn nhất trong cuộc đời Trần Nhã Thụy vẫn là quê nhà. Và ước mơ ám ảnh anh, lại là sau này được về quê, được sống giữa một vùng tuổi thơ, trong căn nhà có mấy câu cau khẳng khiu mà năm nào cũng trĩu quả, có đồng lúa xanh xanh trước cửa mà lần nào về quê cũng đương thì con gái… Thế nên, anh viết “Bạn bè dăm đứa bôn ba/ Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly”.

ĐOÀN ĐẠI TRÍ
Nguồn: Tinh hoa Việt



Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TRẦN KIM TRẮC - ĐẠI THỤ CỦA VĂN CHƯƠNG NAM BỘ QUA ĐỜI

Theo thông tin từ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, nhà văn Trần Kim Trắc đã qua đời vào ngày 17-11-2018 tại nhà riêng trên đường Cống Lở, phường 15, quận Tân Bình. Tuy nhiên, vì lý do riêng nên gia đình không phát tang; vậy nên công chúng mới được thông báo cách đây hai ngày.
Nhà văn Trần Kim Trắc

Khi hay tin nhà văn Trần Kim Trắc, một trong những đại thụ của văn chương Nam bộ đã qua đời, hầu hết những người yêu mến ông đều không tránh khỏi cảm giác bất ngờ. Nhà văn Trần Kim Trắc sinh năm 1929 tại Chợ Gạo, Tiền Giang. Ngoài tên thật, ông còn sử dụng bút danh NT và Trần Kim dưới những tác phẩm của mình. Sự nghiệp văn chương của nhà văn Trần Kim Trắc được bắt đầu từ lúc ông 25 tuổi với truyện ngắn đầu tay được đăng báo là truyện Cái lu, đạt giải nhì giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam ngay sau đó.

Dù đến với văn chương khá muộn nhưng nhà văn Trần Kim Trắc có một quá trình lao động văn chương chăm chỉ và đều tay. Ông có nhiều tác phẩm đã xuất bản như: Cái lu(truyện ngắn, 1954), Cái bót (truyện ngắn in chung, 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung, 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn, 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết, 1996), Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn, 1997), Học trò già (truyện ngắn, 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn, 1998),  Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn, 1999)…

Nhà văn Trần Kim Trắc từng đạt các giải thưởng như: giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1954 với truyện ngắn Cái lu, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 với tập truyện ngắn Ông Thiềm Thừ.
Nhà văn Trần Kim Trắc bên người vợ của mình

Đặc biệt, vào năm 2012, lúc đó đã bước sang tuổi 83 nhưng nhà văn Trần Kim Trắc vẫn cho thấy sức lao động bền bỉ và dẻo dai bằng việc tham dự cuộc thi viết truyện ngắn chủ đề “Con người và cuộc sống hôm nay” do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức. Truyện ngắn Sài Gòn đắc địa của ông đã đạt đồng giải nhì (không có giải nhất) cùng với nhà văn Trương Anh Quốc.

Vào tháng 11-2015, với những giá trị quan trọng mà văn chương Trần Kim Trắc mang lại, NXB Trẻ đã ký hợp đồng mua bản quyền trọn đời tác phẩm của ông. Theo đó, bắt đầu từ tháng 11-2015, đơn vị này độc quyền sử dụng 19 tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc với khoản phí trả trước là 100 triệu đồng cùng số tiền nhuận bút trên mỗi tác phẩm được xuất bản, không tính phần trả trước. Ngoài ra, trong hợp đồng có điều khoản: sau khi nhà văn qua đời, gia đình ông tiếp tục hưởng nhuận bút các tác phẩm của ông do NXB Trẻ ấn hành.

Ông Nguyễn Minh Nhựt, Giám đốc NXB Trẻ chia sẻ về lý do mua bản quyền trọn đời tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc: “Nhà văn Trần Kim Trắc là một trong những nhà văn lớn, viết rất nhiều tác phẩm trong đó có nhiều tác phẩm viết về Nam Bộ cũng như viết về giới trẻ. Về mặt văn tài, ông là nhà văn lớn nhưng thái độ, lối sống của ông rất khiêm tốn, là bài học lớn đối với người làm nghề. Xuất phát từ những vấn đề đó, NXB Trẻ có một nguyện vọng đề đạt xin mua tác quyền trọn đời bộ tác phẩm của ông. May mắn thay NXB Trẻ được ông đồng ý giao quyền”.

Trước sự ra đi của nhà văn Trần Kim Trắc, ông Nguyễn Minh Nhựt không giấu được xúc động: “Tôi và các cán bộ, nhân viên của NXB Trẻ đều rất buồn khi những đại thụ đã từng gắn bó với NXB Trẻ lần lượt đã ra đi như nhà văn Sơn Nam, nhà văn Trang Thế Hy rồi lần này là nhà văn Trần Kim Trắc. Phía NXB không biết nói gì hơn ngoài sự chia buồn gửi đến gia đình nhà văn. Chúng tôi sẽ cố gắng chăm chút, xuất bản để những tác phẩm của ông sẽ còn ở lại với nhân gian, phục vụ độc giả”.

HỒ SƠN
Nguồn: SGGP



Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

AN BÌNH MINH - THÊM MỘT MẢNG TRẦM TÍCH VỀ HẬU CHIẾN

Tiếp sau thành công của một loạt truyện ngắn, cùng với việc rinh về giải Ba (không có giải Nhất) Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ IV của Hội Nhà văn Việt Nam (2011-2015) cho cuốn “Dư chấn 3,5 độ richter”, cứ ngỡ đâu nhà văn An Bình Minh sẽ “xả hơi”. Nhưng không, hóa ra ông vẫn lặng lẽ thu mình cày ải và vẫn thủy chung với truyện ngắn.
Nhà văn An Bình Minh

15 truyện trong tập “Chuyện tình Xiêm Riệp” ra mắt bạn đọc lần này vẫn là sự tiếp nối mạch nguồn của một nhà văn từng một thời mặc áo lính, bên cạnh những chuyện “cập nhật” đời sống hôm nay, là mảng đề tài đề tài chiến tranh (chiếm gần một nửa trong tập truyện). Nhà văn An Bình Minh, tên khai sinh là Bùi Bình Thiết, tuổi Mậu Tý (1948). Từ quê hương Liên Bặt, Ứng Hòa, Hà Nội, ông nhập ngũ năm 1965. Từng là lính cao xạ, rồi văn công Phòng không - Không quân; sau ngày đất nước thống nhất, ông đi học rồi chuyển ra làm báo, viết văn.

Được hỏi vì sao ông vẫn thủy chung với mảng đề tài chiến tranh và người lính, nhà văn An Bình Minh không ngần ngại trả lời cần phải viết để trả nợ ký ức. Đó là những trận chống lại cuộc tập kích chiến lược bằng “siêu pháo đài bay B.52” của Mỹ trên đất Bắc; là đồng đội mới hôm trước vẫn cùng nhau nói cười vô tư, xúm xít quanh con chó tên Đốm (Tôi và Đốm), ria mép còn măng tơ, nhưng lại có thể bắn một lúc 21 quả đạn pháo trung cao mỗi quả nặng gần 30 kilogam - cái con số mà chiến sĩ Hồng quân Liên Xô cao lớn đã lập kỷ lục tại thung Rua trong cuộc chiến tranh Vệ quốc, để rồi hôm sau chỉ còn lại một “ống bơ không đầy” trong hầm pháo, thịt xương bay tung tóe khắp nơi. Ký ức của người lính là những đồng đội vừa ra khỏi cuộc chiến 10 năm (1965-1975) lại hòa vào đội quân tình nguyện sang đất nước Campuchia giúp bạn để rồi chỉ còn dòng tên trong các buổi phát thanh “Nhắn tìm đồng đội”...

“Chuyện tình Xiêm Riệp”, tên một truyện ngắn được lấy làm tên chung của cả tập sách, kể về những người lính lớp sau của tác giả và đồng đội. Thuấn một chàng trai vừa học xong Đại học Y, chưa qua thực tập lấy bằng đã nhập ngũ theo lệnh Tổng động viên 1979. Anh không lên biên giới phía Bắc, đánh quân Trung Quốc xâm lược mà được điều động sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn. Thuấn được bổ sung vào Trạm quân y Tiểu đoàn đặc công. Trong trận tập kích vào trại tù nhốt thân nhân của những người bị khép tội “phản bội chế độ” Khmer đỏ, đơn vị Thuấn đã giải thoát cho hơn 200 người, trong đó có cô gái trẻ Pơrăm. Trong khi hầu hết những người dân Campuchia được quân tình nguyện Việt Nam cứu sống đều dắt díu nhau về quê thì cô gái tiều tụy có tên Pơrăm cứ bám riết lấy tiểu đội cứu thương của Thuấn không chịu rời. Hỏi ra mới biết Pơrăm không còn chỗ nương tựa, bố mẹ và người anh trai của cô đã bị Khmer đỏ hành quyết. Lũ coi trại tù định lấy Pơrăm làm quà dâng lên ăng-ka, để “thượng cấp thỏa mãn thú tính trên thân xác con gái của kẻ thù”. Nếu cứ để Pơrăm lang thang trở về quê không chốn nương thân, chắc hẳn cô sẽ lại sa vào tình cảnh cũ, đi vào ngõ cụt, tương lai chờ đón rất tăm tối? Tình thế chẳng đặng đừng, buộc Thuấn phải để Pơrăm tá túc cạnh Trạm quân y Tiểu đoàn, nơi anh vừa được đề bạt trạm phó.
Tập truyện ngắn “Chuyện tình Xiêm Riệp” của An Bình Minh

... Sau hơn nửa năm họ sống gần nhau, một bên là anh Bộ đội nhà Phật (tên của người dân Campuchia đặt cho quân tình nguyện Việt Nam) tốt bụng, chân thật, chưa một mảnh tình vắt vai và cô gái trẻ xinh đẹp, thông minh, chăm chỉ cần mẫn giúp chăm sóc thương binh và dạy tiếng Khrme cho bộ đội để rồi cái điều “phải đến đã đến”. Họ yêu nhau, khi bộ đội Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ rút về nước, Thuấn trở lại sống cùng Pơrăm trong ngôi nhà của bố mẹ cô ở Xiêm Riệp.

Sau 20 năm nhọc nhằn mưu sinh, họ đã có được một mái ấm hạnh phúc với hai con gái một con trai, kinh tế sung túc. Pơrăm bằng sự thông minh khéo léo của mình đã sớm trở thành cô chủ nhỏ xinh đẹp của Công ty cá Biển Hồ có chi nhánh xuất khẩu gần khắp cả nước. Tưởng chừng như mọi thứ đã viên mãn thì đúng lúc ấy, nàng Pơrăm bất ngờ đòi ly dị. Đến lượt Thuấn trở nên thân cô thế cô và gần như mất tất cả, bởi các con anh đều lấy họ mẹ để được học lên cao…

Trải qua nhiều dằn vặt, giằng xé, bác sĩ Thuấn quyết tìm cho ra nguyên - nhân - ly - hôn để giúp anh yên lòng ở lại Campuchia giữ gìn dòng máu của mình. Thuấn không tin Pơrăm vì tham vàng bỏ ngãi mà quên nghĩa tình xưa và hơn thế vẫn muốn lưu giữ ký ức về một cô gái tóc rối năm xưa, giữa rừng bám theo anh không dời nửa bước... Bởi thế dẫu đã tìm ra được cái nguyên nhân lạnh lùng và đau đớn kia, anh vẫn tự dối lòng khỏa lấp. Pơrăm đã là một bà chủ nhỏ xinh đẹp, hấp dẫn. Trong công việc làm ăn, kinh doanh cô thường xuyên đi đây, đi đó, tiếp xúc với nhiều đại gia trẻ cùng quê cũng mới nổi như cô. Những điều thuận lợi đó là điều kiện cần có đủ để cô “xét lại” cuộc hôn nhân dị chủng của mình...

Câu chuyện được bố cục trong một không gian, thời gian khá chặt chẽ. Nó mở đầu bằng chính cái kết thúc với một chút có hậu. Thuấn sống trong ngôi nhà tuềnh toàng ở biên giới phía đông Campuchia. Cuộc tình của người đàn ông Việt là chuỗi hồi ức diễn ra trong sự ngóng trông, thấp thỏm để cuối cùng anh được nói chuyện qua điện thoại với đứa con trai gọi về từ Hà Nội khi vừa đặt chân xuống sân bay... Dường như tác giả muôn thông qua câu chuyện này để gửi gắm đến bạn đọc một thông điệp lớn hơn rất nhiều so với thân phận của tình yêu đôi lứa, rằng mọi thứ sẽ rất dễ bị người đời nguôi quên, nếu như nó không được luôn nhắc nhớ. Đó cũng là bài học cảnh tỉnh cho những ai hãy còn chút ảo tưởng mơ mộng, rằng không có sự vật nào lại không vận động, biến đổi. Mọi thứ đều có thể…

Cùng với mảng truyện về đề tài hậu chiến, An Bình Minh còn có những tác phẩm phản ánh cuộc sống đương đại khá sắc sảo như: “Ly thân thời 4.0”, “Vợ chồng hề”; “Công trình thế kỷ”, “Ngôi nhà trên đỉnh Thung Lau”, “Gió thoảng”, “Về thôi con”, “Ok! Bố”... với giọng văn dí dỏm, lý giải tình cảm cuộc sống với một chút triết lý nhẹ nhàng, sâu lắng.

Từng làm đủ nghề trong quân đội, Nhà văn An Bình Minh kinh qua chiến đấu trên nhiều chiến trường. Vốn sống của ông về mảng đề tài chiến tranh trầm tích phong phú, còn nhiều hứa hẹn. Trước đó, ông đã có hơn 20 năm làm báo, làm phóng viên, biên tập viên, đến chỉ đạo xây dựng nội dung một tờ báo. Trong mảng đề tài cuộc sống mới, ông có nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết gây được ấn tượng trong lòng bạn đọc và đồng nghiệp. Không hẳn một lời khuyên, nhưng tôi vẫn ước giá như ông mạnh dạn phóng bút như đã từng dũng mãnh xông pha ở chiến trường, chắc hẳn sẽ còn nhiều tác phẩm văn học viết về mảng đề tài này hấp dẫn hơn.

NGUYỄN MINH NGỌC
Nguồn: Blog Văn chương phương nam



THƯƠNG NHỚ 'ÔNG GIÀ NAM BỘ' TRẦN KIM TRẮC

Sáng 4.1, khi gia đình làm lễ cúng 49 ngày cho nhà văn Trần Kim Trắc tại một ngôi chùa ở Q.3, TP.HCM thì thông tin ông mất mới được xác nhận làm bất ngờ giới văn chương và độc giả yêu mến ông. Cuộc ra đi của một nhà văn “ở ẩn thị thành'' cũng lặng lẽ đúng như tính cách...
Nhà văn Trần Kim Trắc

Sống chính là đang viết...

Cùng với những cây bút thương hiệu của văn chương phương Nam như: Sơn Nam, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng... nhà văn Trần Kim Trắc (hội viên Hội Nhà văn VN và Hội Nhà văn TP.HCM) được xem là một cây đại thụ của văn học Nam bộ.

Ông sinh năm 1929 tại Chợ Gạo (Tiền Giang) rồi lên sinh sống tại Sài Gòn. Ngoài tên thật, nhà văn còn có các bút danh là NT và Trần Kim. Truyện ngắn Cái lu của ông từng đoạt Giải thưởng Hội Văn nghệ VN (1945 - 1954). Mặc dù có một thời gian dài gián đoạn việc viết lách do phải đi làm trái nghề để mưu sinh: thợ sơn tràng (khai thác gỗ), phu bốc vác, làm ruộng, chế biến thực phẩm và cuối cùng là nuôi ong lấy mật... nhưng khi trở lại với văn chương thì chính những trải nghiệm của cuộc sống vất vả khiến ông có một bút lực tràn trề. Hàng loạt tác phẩm tiếp nối nhau ra đời: Cái bót (truyện ngắn, in chung 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết 1996), Học trò già, Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn 1998), Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn 1999), Lý lắc Nam bộ (tản văn 2015)... đã nói lên sức viết mạnh mẽ của nhà văn.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng uy tín về văn học nghệ thuật: Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Con người và cuộc sống hôm nay do Hội Nhà văn TP.HCM và Báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức năm 2012, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn VN năm 1995 với tập Ông Thiềm Thừ. Đặc biệt, truyện Ừ, đi, ừ được Sân khấu Hoàng Thái Thanh chuyển thể thành vở kịch Sài Gòn có một ngã tư diễn từ tết năm 2018 cho đến nay vẫn thu hút người xem.

Tổng biên tập - Giám đốc NXB Trẻ Nguyễn Minh Nhựt cho biết: “Chúng tôi luôn trân trọng những cây đa cây đề như Sơn Nam, Toan Ánh, Trang Thế Hy và Trần Kim Trắc. Vì vậy, mà tự NXB chủ động đến tận nhà riêng gặp, trình bày ý nguyện muốn mua các tác phẩm của ông trọn đời và được đồng ý ngay chứ ông cũng không tìm đến đâu. Cảm động là ông luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, khiêm tốn và vui vẻ. Ông nói tưởng sách in xong rồi thì thôi, giờ in lại nữa thì thích quá. Nhà văn chẳng quan tâm nhiều đến tiền bạc mà nghe sách đến được nhiều người đọc là mừng rồi. Ông già lớn tuổi nhưng viết về giới trẻ rất hay, nhất là chuyện tình cảm tình yêu thì vô cùng sâu sắc”.

Còn nhà thơ Trần Hoàng Nhân thì không thể nào quên những kỷ niệm với “Ông già Nam bộ”. “Trong khi mọi người gặp nhau hay nói chuyện huyên thuyên thì nhà văn ngồi im ru, nghe xong rồi tủm tỉm cười. Có lúc tôi buột miệng hỏi: “Cuộc đời này ông nghiệm ra điều gì?”. Ổng trả lời: “Tôi học được một câu trong Truyện Kiều là Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau và một câu trong Lục Vân Tiên: Nực cười hai chữ nhân tình éo le là đủ rồi”. Tôi nghĩ cuộc đời ông Trần Kim Trắc có nhiều cái để mình học hỏi: khiêm tốn, sâu sắc. Tôi nhớ nhà văn có câu nói rất hay “tôi đang sống tức là tôi đang viết”, chứ không phải “tôi đang viết tức là tôi đang sống” như quan niệm của một số nhà văn hiện nay đâu, nên dù có lúc hơn 30 năm ông ngưng viết nhưng khi cầm bút lại thì sáng tác rất hay là vì thế…”, Trần Hoàng Nhân chia sẻ.

Nhớ mãi ông già lý lắc nam bộ

Anh Võ Anh Tuấn - cháu ruột của nhà văn Trần Kim Trắc cho biết: “Ngày 10.11.2018, ông bị suy hô hấp nặng. Tới trưa 17.11.2018, bệnh tình trở nên nguy kịch, ông phải thở bằng máy cho đến 16 giờ 30 chiều thì ông đi. Vì quá neo người, chỉ có cậu ruột ở ngoài Bắc vào phụ, ngày hôm sau lại đúng đám cưới của tôi nữa nên gia đình tiến hành khâm liệm ông ngay tại bệnh viện. Hôm sau tôi đưa ông đi hỏa thiêu rồi gửi vào chùa theo đúng ý nguyện của ông là không muốn làm gì rình rang…”. Theo anh Võ Anh Tuấn, hiện tro cốt của nhà văn Trần Kim Trắc đang được gửi tại chùa Hưng Phước (Q.3, TP.HCM).

Nhiều văn nghệ sĩ bày tỏ nỗi thương tiếc và đau buồn trước sự ra đi đột ngột của nhà văn Trần Kim Trắc. Nhà thơ Lê Minh Quốc bày tỏ tình cảm thương nhớ “ông già” Lý lắc Nam bộ - như tên tập tản văn của Trần Kim Trắc, khi nhắc đến sự gần gũi chân thành của ông. “Tôi nhớ mỗi khi ra tác phẩm mới, nhà văn không nề hà mang sách đến tận cơ quan ký tặng khiến tôi thực sự cảm động. Là nhà văn lớn thuộc thế hệ đàn anh đi trước nhưng ông cư xử với thế hệ sau rất gần gũi và trân trọng, đó là điều thật đáng quý… Một nhà văn Nam bộ có đặc điểm độc đáo là kể chuyện thời kháng chiến rất hay và dí dỏm đã không còn hiện diện trên cõi đời này nữa. Nhớ ông quá...”, nhà thơ bùi ngùi.

LÊ CÔNG SƠN
Theo Thanh Niên



NGƯỜI HÙNG THẦM LẶNG

Mùa xuân năm 2015, tôi lên xã Khâu vai, huyện Mèo Vạc, Hà Giang cùng đoàn đánh giá tác động của các dự án hạ tầng do Chính phủ Ireland tài trợ cho các xã thuộc Chương trình 135.

Cách thành phố Hà Giang khoảng 165 km, nhưng phải mất 6 tiếng ô tô của chúng tôi mới tới thị trấn và phải mất gần 2 tiếng cho đoạn đường 40 km từ Mèo Vạc lên trung tâm xã Khâu Vai. Sau khi làm việc với ủy ban nhân dân xã, chúng tôi đi bộ khoảng 3 giờ đồng hồ để đến được một bản, nơi có hai bể chứa được dự án tài trợ. Ở đây, vào mùa khô, phụ nữ và trẻ em gái phải đi bộ nửa ngày để lấy được 20 lít nước về nấu ăn.

Cạnh nhà văn hóa là ngôi trường cấp một đơn sơ, nơi có một cô giáo 50 tuổi đang dạy học. Cô Tươi kể, bể nước có hai tác động tích cực là học sinh sẽ có nước rửa tay, chân trước khi bước vào lớp học trong 5 tháng có nước. Còn 7 tháng còn lại trong năm, mặt bể là sân chơi cho trẻ em vì nó bằng phẳng.

Nhà cô ở thành phố Hà Giang, chồng làm bộ đội, hai con đã lớn và lập gia đình. Suốt 15 năm qua, cô đi xe máy về thăm nhà vào chiều thứ 6 và đầu giờ chiều chủ nhật lên lại trường với học sinh. Mỗi chiều đi mất khoảng 7 tiếng đồng hồ. "Sao chị không nghỉ việc hoặc xin chuyển công tác về thành phố cho gần nhà, đỡ phải đi lại vất vả?", tôi hỏi. "Chỉ tại mình thương lũ trẻ ở đây, thấy chúng nó tội nghiệp và thiệt thòi quá", cô Tươi nghẹn ngào trả lời. Khi tôi còn bối rối chưa biết nói gì thì vẻ mặt và ánh mắt cô bất chợt đầy hứng khởi: "Trong suốt 15 năm qua, chưa có một học sinh nào của mình học hết cấp ba nhưng mà năm vừa rồi có một cậu người Mông vừa đỗ đại học. Mình mừng lắm và thấy rất hạnh phúc".

Nhưng sau khi cậu học trò Mông đỗ đại học, thì không có tiền ăn học. Cô Tươi đã bắt xe khách về Hà Nội, đi tìm việc và xin được cho cậu vào làm ở một quán bia hơi. Ngoài ra, cô cảm thấy mình không có "thành tích" gì đặc biệt trong 15 năm cắm bản.

Trước các vấn đề của hệ thống an sinh, người ta dễ dàng bật ra giải pháp "đầu tư". Trước những vấn đề của giáo dục, nhiều độc giả phía dưới các bài viết đưa ra lời kêu gọi "đầu tư cho giáo dục" bằng ngân sách. Nhưng câu chuyện của cái bể nước giữa cao nguyên đá nói lên rằng trong bối cảnh nước ta, nhiều khi một khoản tiền không thể là giải pháp cho mọi vấn đề. Giáo dục sẽ không thể thành công, nếu không có sức người và tình người.

Giáo dục phổ thông của trẻ em dân tộc ít người đã có những bước tiến vượt bậc, đóng góp quan trọng vào tiến trình hoàn thành "Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ" và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Khoảng cách về tỷ lệ đi học của học sinh dân tộc thiểu số so với học sinh người Kinh ở cấp tiểu học đã không còn và còn rất nhỏ ở cấp trung học cở sở. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi của trẻ em các dân tộc như Tày, Thái, Mường, Khmer, Xơ Đăng đều trên 90% vào năm 2015. Đặc biệt, tỷ lệ này của trẻ em dân tộc Mông đã tăng vượt bậc từ 74% năm 2009 lên 92% năm 2015.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhập học ở cấp trung học cơ sở của các dân tộc này cũng tăng rất nhanh trong giai đoạn 2009 đến 2015. Tỷ lệ nhập học của học sinh dân tộc ít người ở cấp ba tuy có thấp hơn nhiều so với  học sinh dân tộc Kinh nhưng cũng có những bước tiến bộ nhảy vọt và ngày càng thu hẹp khoảng cách như Mông - từ 5,8% lên 33%; Xơ Đăng – từ 7,6% lên 42%.

Câu chuyện của cô giáo Tươi và những gì chứng kiến ở Khâu Vai là một trong những lý do có thành công trên. Vài năm trước đó, cũng vào một lần đi công tác ở Hà Giang, tôi đã chứng kiến cảnh hơn 20 cô giáo cắm bản nhân dịp về tập huấn nghiệp vụ đang ăn, uống và hò hét trong trạng thái say khướt. Phải đến tận khi gặp cô Tươi, tôi mới hiểu, họ được quyền say như thế - như một ngày xa xỉ, bởi rất hiếm khi có dịp gặp được những đồng nghiệp cùng cảnh ngộ, những người biết rõ một ngày làm người dạy học của họ là thế nào.

Những thành tựu trên các báo cáo cuối năm không thể có được nếu thiếu đi sự hy sinh vô cùng to lớn của rất nhiều người hùng thầm lặng như cô Tươi ở Khâu Vai - những người lặng lẽ gieo mầm tri thức cho trẻ em dân tộc ít người trên những mảnh đất khô cằn dẫu biết trong hàng trăm hạt giống, có thể chỉ có một cậu người Mông đỗ đại học.

Đó cũng là những người tạo cảm hứng cho học sinh về một niềm vui mang tên sự hiểu biết. Họ nên được ghi nhận, trân trọng nhiều hơn bởi tất cả chúng ta.

PHÙNG ĐỨC TÙNG
Nguồn: VNEX


NGÔ THUÝ NGA & NỐT LẶNG ƯU TƯ CỦA NGƯỜI THƠ TRẺ

Vừa rồi Ngô Thuý Nga tặng tôi tập thơ vừa mới in xong. Đây là lần đầu tiên tôi đọc Ngô Thuý Nga qua Nốt lặng (NXB Hội Nhà văn TP.HCM 2015) của nhà thơ trẻ này vốn trước đây được biết đến là cây bút viết văn xuôi.
Nhà thơ Ngô Thuý Nga

Phải nói rằng Nốt lặng là tập thơ về những thân phận, tâm tư, cảnh đời có những điều gì đó của lãng mạn trêu đùa tình yêu cứ trôi qua đời con gái của mình hay của ai đó mà người viết bày tỏ sự tình. Ngôn ngữ của Ngô Thuý Nga trong tập thơ này nó lãng du và bồng bềnh cảm xúc:

Cũng chỉ là nốt lặng tuổi hai mươi
Cũng chỉ là những cào xé trong lòng người con gái
Mang những nỗi niềm đi hoang
Mang những rỗng rễnh cuộc đời về làm nơi nương tựa
Bởi đứng đâu cũng thấy mình thừa

                                    (Thơ tặng người dung)

Nhà thơ đã đốt cháy nỗi niềm trong sự tuột tay và chỉ có người dưng ấy mới được tặng cái phần quà của nỗi đau rồi cũng nhạt ở người con gái. Thân phận và nỗi niềm hoang hoải là nốt lặng buồn, đã cào xé trong tâm can đày đọa. Sao người dưng lại làm khổ nhau thế nhỉ?

Ngồi trên vũng nắng chớm đông
Gió xõa tóc lên chiều rũ rượi
Em đưa bàn tay hong mùa
Sờ lên trái tim chông chênh nỗi nhớ
                         
           (Quên cài cửa vô thường)
    
Thế mà câu thơ vẫn chông chênh nỗi nhớ, quả là điều kỳ lạ trong yêu đương. Ngô Thuý Nga đã sử dụng ngôn ngữ của người trẻ đương đại viết lên hoàn cảnh chiều rũ rượi, trong tâm tư nghĩ về phía ấy mà không ủy mỵ. Với tình yêu ngày nay và cách gieo lên những con chữ thực tiễn đời thường, mà người đọc và viết lớp đi trước chưa có được:

Có đôi lần anh vén váy em làm gối
Ngủ vùi sau cơn say hư ảo đời người
Đêm vẫn ngọt
Anh vẫn say
Em đi về rất vội

              (Phố núi ngọt)
Tập thơ Nốt lặng của Ngô Thuý Nga

Nếu có thì rất ít, mà họ vẫn đắn đo cho tròn trĩnh ngôn từ. Người trẻ bây giờ đã xa đi những ràng buộc của niêm luật thường tình, tìm đến cái mới lạ nhưng vẫn rất thơ:

Đàn bà có khi như cơn bão
Cuồng điên xé lòng mình đổi lấy an nhiên cho những điều không thật
Cấu rách bản năng để nắm tay người chơi trò cút bắt
Già mất một cuộc tình vừa bắt đầu những vết son

                                      (Ngược sáng)

Hình như thơ Ngô Thuý Nga trong Nốt lặng là những mất mát trong tâm hồn người con gái như lời ru buồn cứ chực chờ vỡ òa ở con tim bé nhỏ:

Ta lặng im bên nhau
Em trệu trạo nhai bóng đêm đổ ập bên song cửa
Đáy mắt anh rơi giữa khoảng trống hai chỗ ngồi chưa kịp ấm
Ta trầm ngâm
Nghe thinh không vỡ òa

Em cởi áo mình trả áo cho anh…

                       (Trả áo cho anh)
     
Nỗi buồn ấy còn thể hiện ở những bài thơ như Giấc mơ không màu: “Người đàn ông có dĩ vãng già nua /Có muôn ngàn mặt nạ khiến em nhìn vào đâu cũng thấy mình như vỡ”; rồi: Em lật tung ký ức tìm một cái ôm dài/ Chỉ nhìn thấy khoảng trống mênh mông còn sót lại (Nhặt mưa làm nước mắt); và:

Cắn đôi sợi tóc sót lại trên gối
Mới biết mình ảo vọng
Giữa nỗi buồn màu huyết dụ bẻ cong. 

                   (Nỗi buồn màu huyết dụ)
  
Không thể kể hết nỗi niềm trong Nốt lặng của nhà thơ được. Hình như nhà thơ đã và đang trải qua nỗi niềm trước sóng gió cuộc đời mà âm điệu, cấu tứ của những bài thơ cứ canh cánh một nét buồn rong ruổi.

Em hoang vỡ chỗ nằm thiếu bóng anh thao thức
Chiếc chăn bông chẳng ấm nỗi đêm dài

                                        (Cho anh)

Đọc Nốt lặng của Ngô Thuý Nga ta thấy một nỗi ưu tư của người thơ trẻ, như thấy cái vô tư buồn của yêu đương lứa đôi mà nhận cho riêng mình nốt lặng cuộc đời. Nốt lặng của Ngô Thuý Nga là cung trầm của đời sống yêu thương với bút pháp dìu dặt và những cái mới của ngôn ngữ, thi ảnh, làm nên một nét riêng của cô. Nốt lặng cũng nên dừng ở đây vì lẽ đời cần nhiều niềm vui và hạnh phúc và biết cất đi nỗi buồn. Có lẽ mai sau đọc Ngô Thuý Nga, tôi hy vọng niềm vui sẽ được nhân lên bởi những nốt son dịu vợi đang chờ phía trước.

NGUYỄN VŨ QUỲNH
Theo NVTPHCM



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều