Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

CÀNH ĐÀO CUỐI CÙNG CỦA VĂN CAO

Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, khắp phố phường Hà Nội lại tràn ngập sắc hoa. Hoa trong quầy, hoa trong quán, hoa bán vỉa hè, hoa gánh trên vai, trên xe đạp, trên xe máy len lỏi vào khắp ngõ ngách của đường phố.
Nhà thơ, nhạc sĩ Văn Cao

Khắp các cửa ô đều trở thành những chợ hoa với hàng trăm loại hoa đua sắc mà không thể kể hết được. Hoa là một nhu cầu, một yếu tố tinh thần không thể thiếu của người Hà Nội trong những ngày Tết. Chơi hoa, chơi cây cảnh là một thú chơi tao nhã và tinh tế từ xa xưa của người Tràng An ngàn năm văn hiến.

Nhạc sỹ Văn Cao là một người yêu thích hoa. Ông còn là họa sỹ, phải chăng vì thế mà ông có phần yêu các sắc màu rực rỡ của hoa mà tạo hóa ban tặng thế gian này hơn những con người bình thường chăng?

Trong nhà Văn Cao luôn có một lọ hoa đặt trên nóc đàn piano tùy theo mùa của các loài hoa. Mùa xuân có hoa lay ơn, mùa hè có hoa sen, mùa thu có hoa cúc… Song có lẽ thứ hoa ông thích nhất là hoa đào, thứ hoa chỉ nở một năm một lần vào đúng những ngày Tết cổ truyền của dân tộc.

Có lẽ vì thế trong nhiều tác phẩm của mình ông đều nhắc đến loài hoa đó. Trong bài “Thiên thai” ông viết “… Thiên thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian, có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần…”.

Hay trong bài “Tiến về Hà Nội”, ta lại thấy“… Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về, như đài hoa xuống cành nở năm cánh đào, chảy dòng sương sớm long lanh…”.

Chính vì thế, cứ đến Tết, dù bận mấy, ông đều đi chợ hoa truyền thống tại phố Hàng Lược, đắm mình trong rừng hoa khoe sắc giữa lòng phố cổ Hà Nôi để quên đi những ngày tháng vất vả lo miếng cơm manh áo.

Len lỏi trong dòng người dòng đời là hình ảnh một nhạc sỹ già thân hình gầy guộc, chống ba toong với đôi mắt sáng, kiên trì chọn mua một cành đào ưng ý nhất…

Tôi còn nhớ cái Tết năm Ất Mùi (1995). Mùa xuân năm đó rét hơn mọi năm. Sức khỏe của cha tôi -Văn Cao đã yếu nhiều nhưng nghe tin cô con gái ở Ba Lan về ăn Tết với gia đình, ông vui lắm.

Đã lâu lắm rồi gia đình chưa có một cái Tết đông đủ con cháu. Sáng 27 Tết, một người bạn mang đến biếu cha tôi cành đào bích to như một cái nơm, nụ hoa nhiều nhưng lá trông không được tươi. Nhìn cành đào, cha tôi có vẻ không ưng lắm.

Một lúc sau ông bảo cậu em tôi đèo lên chợ hoa Hàng Lược. Ông thích chơi đào phai. Với ông đào phai đẹp hơn đào bích vì nó có dáng tự nhiên không bị uốn nắn, lộc lá nhiều, sắc hoa phớt hồng khép nép e lệ như một thiếu nữ bước vào tuổi dậy thì.

Gần trưa mới thấy ông về, trên tay ông là một cành đào bích có thế rất đẹp. Tôi hơi ngạc nhiên hỏi: “Sao năm nay bố lại mua đào bích? Đã có một cành đào bích rồi mà”.

Ông nở nụ cười bảo: “Năm nay rét, đào phai kém lắm. Bố phải tìm mãi mới chọn được cành đào này. Năm nay em Hương nó về, chơi đào bích cho không khí gia đình vui tươi hơn”.

Buổi chiều hôm đó cô em tôi đến. Nhìn thấy hai cành đào, nó reo lên: “Đẹp quá. Bố mua những hai cành cơ à? Con mới về còn mải đi trả quà cho mọi người nên chưa đi sắm Tết được”.

Cha tôi cười: “Bố mua có một cành thôi còn một cành người ta biếu, bố cho con một cành đấy, thích cành nào thì con đem về chơi Tết. Lâu lắm rồi con mới về ăn Tết với gia đình, có cành đào trong nhà thì mới ra không khí ngày Tết”.

Cô em tôi sướng quá, nó cứ tần ngần định chọn cành đào thế cha tôi mua nhưng rồi lại lấy cành đào được biếu vì hiểu rằng cha tôi thích đào thế.

Nhiều năm sống gần gũi Văn Cao, tôi hiểu rõ thú chơi đào của ông. Theo Văn Cao, đào đẹp đầu tiên là ở cái dáng, cái thế của cây, của cành, sau mới là hoa và lá. Muốn hoa đẹp, phải chọn những cành nhiều nụ, nụ to và mập thì hoa mới đẹp, chơi được lâu.

Có những năm, cha tôi chọn được cành đào hoa nở đẹp qua tận rằm tháng giêng. Cành đào cha tôi mua về năm đó quả là rất đẹp, nụ to và nhiều, xen với lá xanh tươi mơn mởn, trên cành mới nở dăm bảy bông hoa to và đỏ thắm. Cha tôi ngắm cành đào và tỏ vẻ ưng ý lắm. Ông  bảo: “Cành đào này nụ nhiều có thể chơi được qua rằm…”.

 Nhà tôi có một cái lọ sành to, cao khoảng 2 gang tay chuyên để cắm đào, tôi đổ nước vào và bê cho cha tôi. Văn Cao lấy cành đào ra, cẩn thận châm lửa đốt cháy một đoạn gốc để hãm hoa nở chậm.

Đặt cái lọ vào một góc phòng khách đối diện cửa ra vào, ông thận trọng cắm cành đào và chèn gốc cẩn thận rồi xoay cho thế của cây đào đúng vị trí đắc địa nhất. Ông sợ nhất những cành đào nở tung tóe, chưa hết Tết hoa đã úa tàn.

Đối với ông nếu năm nào đúng giao thừa sang ngày mùng 1 Tết mà đào nở ra đều khắp các cành thì năm đó sẽ gặp nhiều may mắn.

Bữa cơm chiều 30 Tết đối với dân tộc ta rất thiêng liêng. Nó là bữa cơm hội tụ toàn gia đình, cả năm mới có một lần để tưởng nhớ đến tổ tiên, dòng họ. Nhưng ở gia đình tôi, cha tôi thường mời thêm một số người bạn, họ là những người không có gia đình hoặc vì điều kiện phải sống xa nhà…

Cha tôi bảo: “Bố mời các chú ấy đến ăn tết với gia đình ta cho vui. Không khí ấm cúng, có đông đủ con cháu trong nhà sẽ làm vợi đi nỗi nhớ nhà, nhớ quê, bớt đi nỗi cô đơn trong những ngày Tết. Bố cũng vui hơn vì có bạn uống rượu”. Tôi hiểu lòng cha tôi.

Nhưng Tết năm đó không thấy cha tôi mời bạn. Cả gia đình tôi quây quần bên mấy mâm cỗ, con cháu ríu rít thay nhau chúc sức khỏe ông. Cha tôi vui lắm, có lẽ nhiều năm rồi ông mới lại có được một cái Tết vui vẻ và đầm ấm như thế. Ông ngồi nhấm rượu với mấy miếng pho mát cô em tôi mang từ Ba Lan về. Đôi mắt ông sáng lên, hài lòng nhìn lũ cháu cười nói, ăn uống thoải mái, vô tư…

Đêm 30 Tết cành đào của ông nở bung ra hàng chục bông hoa đỏ thắm. Con cháu đã nhà nào về nhà nấy còn lại mình ông lặng lẽ ngồi nhâm nhi ly rượu, ngắm hoa đào nở, chờ đón giao thừa.

Sáng mồng 1 Tết, mãi gần trưa hai vợ chồng tôi mới lên nhà chúc Tết cha mẹ. Vừa bước vào nhà tôi đã ngẩn người nhìn cành đào. Mới tối qua, cành đào nở đẹp như tranh vẽ, vậy mà sáng nay hoa đã héo rũ.

Cha tôi lặng đi, đôi mắt thoáng một chút thất thần nhìn tôi, ông bảo: “Chốc nữa con mang cây đào ra ngoài sân, đêm nay có hơi sương nó tươi lại thì may”. Lát sau cô em tôi đến, vừa bước vào mồm đã oang oang: “Bố biết không cây đào bố cho con hôm nay nở đẹp lắm, ai cũng khen”. Cha tôi cười nhẹ: “Đào mà nở đẹp vào sáng mồng một thì năm nay số con sẽ gặp nhiều may mắn trong công việc làm ăn”.

Những ngày Tết vui vẻ rồi cũng qua đi, cô em tôi trở về Ba Lan, anh em chúng tôi lại trở về với cuộc sống thường nhật. Tuy nhiên, tôi vẫn tôi vẫn áy náy về cành đào héo vào đúng ngày mồng một tết của cha tôi.

Sau tết không lâu, lên thăm cha tôi, ông vẫn khỏe, tôi cảm thấy yên tâm. Hai cha con ngồi tâm sự, ông bảo: “Hôm vừa rồi bác Trúc Lâm đến chơi, xem tử vi cho bố. Bác bảo năm nay bố có cái hạn ốm đau, bác dặn bố đừng vào viện”…

Rồi cha tôi cười: Tao mà ốm là mẹ mày bắt đi bệnh viện ngay, ở nhà bà ấy không hầu được… Con người ta có số đấy”.  Mùa xuân năm ấy cha tôi vẫn sống vui vẻ và khỏe mạnh. Ông vẫn đi đây đó thăm thú bạn bè. Tôi cũng quên đi mọi chuyên.

Không ngờ cuối tháng thì cha tôi phải vào Bệnh viện Việt Xô vì bệnh cũ tái phát. Hai tuần sau vào ngày 10-7-1995, ông ra đi, để lại cho gia đình chúng tôi một khoảng trống không thể bù đắp. Cho đến bây giờ cứ mỗi khi tết đến xuân về, anh em chúng tôi lại mang một cành đào đến mộ thắp nhang mời ông về ăn Tết với gia đình, con cháu.

Nhạc sỹ Văn Cao đã ra đi, bỏ cõi trần gian để về với chốn thiên thai - cái cõi Đào Nguyên ấy luôn“… Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần”… Phải chăng, Thiên thai là cõi mơ của Văn Cao.

VĂN THAO
Theo VNCA



Thứ Năm, 7 tháng 2, 2019

BÙI HỮU NGHĨA - “RỒNG VÀNG” CỦA ĐẤT ĐỒNG NAI

Ai đã từng một lần về vùng sông nước Cửu Long đều khắc ghi câu ca:

Đồng Nai có bốn rồng vàng
Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi.

Hay:
      
Vĩnh Long có cặp rồng vàng
Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Thần (tức Phan Thanh Giản).

Nghĩa thi chính là Bùi Hữu Nghĩa - con Rồng vàng của đất Đồng Nai, Vĩnh Long, rồng vàng trong lòng nhân dân Nam Bộ. Cho đến nay các ông Lộc họaLễ phúSang đàn là những ai thì ít người biết và chưa xác định được quê quán, tài năng của họ ra sao. Còn Phan Thanh Giản, tài thơ, người đầu tiên đỗ Tiến sĩ ở Nam Bộ, có học vị cao nhất cũng phải xếp sau Bùi Hữu Nghĩa, đủ thấy danh hiệu Rồng vàng mà nhân dân phong tặng cho Cụ thật cao quý và xứng đáng.
Tượng đồng danh nhân Bùi Hữu Nghĩa

Bùi Hữu Nghĩa sinh năm Đinh Mão (1807) tại thôn Bình Thủy, huyện Vĩnh Định thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Đến triều Minh Mạng (1836) đổi là thôn Bình Thủy, tổng Định An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang, và hiện nay là phường Bình Thủy thuộc Thành phố Cần Thơ. Cụ sinh ra trong một gia đình làm nghề chài lưới và tài thơ phú đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Cụ đỗ Thủ khoa kỳ thi Hương ở Gia Định tháng 2 năm Ất Mùi (1835) - năm Minh Mạng thứ XVI. Vì vậy nhân dân thường gọi Cụ một cách thân mật là Thủ Khoa Nghĩa. Năm Bính Thân (1836) ông ra Huế thi Hội, nhưng rớt vì phạm húy nhẹ, bị vua Minh Mạng bắt giữ ba ngày, rồi được tha. Tiếp theo là những năm tháng thăng trầm trên con đường hoạn lộ: Lúc làm Tri huyện Phước Chánh (Biên Hòa), khi làm Tri huyện Trà Vang (Vĩnh Long), rồi bị giáng chức làm Thủ ngự đồn Vĩnh Thông (Châu Đốc), sau đó lại được thăng chức Phó quản cơ, rồi Quản cơ cho tới khi từ quan về ở ẩn (1858). Trên 24 năm làm quan, Cụ luôn nêu cao nghĩa khí, đứng về phía nhân dân chống lại bon quan lại tham nhũng, nêu cao tinh thần trọng nghĩa khinh tài, giữ vững sĩ khí đúng như một vế câu liễn ghi ở đền thờ Cụ: Cương dũng đả cường hào, sĩ khí thiên thu bất hủ.
    
Con đường làm quan của Cụ chính là để có điều kiện đem tài năng giúp dân, cứu nước. Cụ luôn phất cao cờ nghĩa, chiến đấu trực diện với kẻ thù cho tới khi cáo quan về nhà dạy học, làm thuốc, sáng tác thơ văn. Ý chí ấy trước sau như một, theo đạo lý của kẻ sĩ : Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã/ Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng (thấy việc nghĩa mà không làm không phải là người dũng cảm, gặp người khác lâm nguy mà không cứu, không phải là người anh hùng). Mặc dù đã từ quan nhưng Cụ vẫn bí mật giúp nghĩa quân Phan Tôn, Phan Liêm (con Phan Thanh Giản) mở rộng thế lực ở Cần Thơ và Vĩnh Long trong những năm 1867-1868, bí mật làm cố vấn cho nghĩa quân Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự ở Cần Thơ (1869). Tấm lòng yêu nước vì dân của Cụ giữ trọn cho tới khi lâm bệnh và mất ngày 21 tháng Giêng năm Nhâm Thân (tức ngày 29/ 2/ 1872- năm nhuận tháng 2 có 29 ngày), thọ 65 tuổi. Hiện nay khu bia mộ nhà thơ nằm tại phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích văn hóa – lịch sử năm 1994. Rất nhiều địa phương đã lấy tên Cụ để đặt tên cho các trường học, đường phố, tỏ lòng tri ân Uống nước nhớ nguồn.
    
Thơ văn của cụ Nghi Chi - Bùi Hữu Nghĩa để lại cho chúng ta ngày nay không nhiều lắm do khói lửa chiến tranh tàn phá. Nhiều bài, nhiều giai thoại còn tồn nghi. Ông Phạm Duy Tư, nguyên Hiệu trưởng trường PTTH Bùi Hữu Nghĩa ở TP Cần Thơ đã công sưu tầm, hiệu đính, chú giải và tập hợp được một số thơ văn, giai thoại thành cuốn Giai thoại và thơ văn Bùi Hữu Nghĩa (Ban Khoa giáo tỉnh Cần Thơ (cũ) Xuất bản tháng 2/1994). Với 18 giai thoại, 39 bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, văn tế cùng một số bài thơ khác ca ngợi Bùi Hữu Nghĩa… đã là tài liệu quý, có độ tin cậy cao cho chúng ta làm tư liệu. Ngoài số thơ văn và câu đối, Cụ còn có vở tuồng nổi tiếng Kim Thạch Kỳ Duyên, còn hai vở Tây Du và Mậu Tòng chưa sưu tầm được. Đề tài trong thơ văn Bùi Hữu Nghĩa rất phong phú, đa dạng. Từ cảnh thôn quê dân dã đến cảnh rừng núi, thành thị, chốn cung đình,  đều có mặt trong thơ. Mỗi lời thơ, áng văn như thấm đượm nỗi thương ghét rạch ròi theo tuyên ngôn nghệ thuật mà Nguyễn Đình Chiểu- bạn Cụ, đã từng tuyên bố:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Sĩ khí của Cụ giữa cơn nước lửa không hề vơi:

Xông cơn nước lửa dư trăm trận
Công nghiệp nay đà đáng mấy thoi 

                        (Đũa bếp)

Cụ vạch mặt bọn quan lại xu nịnh, độc ác, đục khoét của dân làng. Lòng dạ chúng như cây vông lộp xộp, nhưng chứa đầy gai góc:

Da thịt càng già càng lộp xộp
Ruột gan chẳng có, có gai chông 

                    (Cây vông)

Bọn chúng là loài cáo vườn hoang chỉ giỏi mượn oai hùm, tâm địa trâng tráo như Ái Châu trong Kim Thạch Kỳ Duyên toát lên cái vẻ bề ngoài lòe loẹt, đáng ghét:

Nhởn nhơ, áo áo, khăn khăn
Nha nhuốc, vòng vòng, chuỗi chuỗi.

Tên quan trùm thì nghe quan rụt cổ, thấy lệ lắc đầu. Tên quan huyện Lợi Đồ có chân tướng thảm hại như ruồi bu đuôi ngựa nhưng luôn mồm khoe mẽ, hoạch hoẹ:

Nghênh ngang đầu dọc trăm quan
Đỏng đảnh miệng khua chín bệ

Cụ xem bọn chúng như cây bần chẳng có sức chống đỡ nhà lớn mà lại vênh váo làm dáng, chẳng khác gì loài cò, loài khỉ:

Quyến luyến bầy cò bay sập sận
Chiêu qui bầy khỉ tới vần lân

Cụ cũng đã sát cánh cùng Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt tấn công tới tấp, vạch mặt tên phản nước Tôn Thọ Tường bằng những vần thơ đanh thép, rực lửa:

                               Hùm nương non rậm đang chờ thuở
                               Cáo loạn vườn hoang thác có ngày.
    
Nhưng phải tới bài Ai xui Tây đến, chất thép trong thơ Bùi Hữu Nghĩa mới phát nổ như đại bác bắn vào thực dân Pháp và bọn tay sai:

                                Ai khiến thằng Tây tới vậy cà?
                                Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba
                                Hẳn hòi ít mặt đền nợ nước
                                Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà.
                                Đá sắt ôm lòng cam với trẻ
                                Nước non có mắt thấy cho già
                                Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa
                                Báo quốc cần vương dễ một ta?

                                   (Đăng trên Mítsơlavê của Pétrutký – Sài Gòn 1889)

Bài thơ đã được dịch ra tiếng Pháp làm cho kẻ thù ăn không ngon ngủ không yên một thời. Ai khiến thằng Tây tới vậy cà? là một câu hỏi tu từ không cần trả lời mà người đọc vẫn tìm ra kẻ cõng rắn cắn gà nhàrước voi dày mả tổ chính là Nguyễn Ánh và triều đình nhà Nguyễn tham sống sợ chết. Phái chủ hòa chiếm số đông trong triều do Tôn Thọ Tường cầm đầu, cùng với vua Tự Đức luôn luôn sợ sức mạnh của Chủ nghĩa tư bản phương Tây. Quan lại thì Hẳn hòi ít mặt đền nợ nước / Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà. Bọn mũ cao áo dài ấy Khi bình làm hại dân ta / Túi tham mở rộng chẳng tha miếng gì / Đến khi hoạn nạn gian nguy / Mặt trông ngơ ngác chân đi gập ghềnh (Chính khí ca – vô danh).
    
Sau năm 1867, cả Nam Kỳ lục tỉnh rơi vào tay thực dân Pháp, cụ Phan Bội Châu, nhà chí sĩ yêu nước cũng phải than vãn:

                                      Than ôi lục tỉnh Nam Kỳ
                            Ngàn năm cơ nghiệp còn gì nữa không?

Nhưng người trung nghĩa ở Nam Kỳ không phải ít, mà sau này họ đã tập hợp lại thành phong trào tỵ địa rồi phong trào cần vương yêu nước. Lúc bấy giờ vua Hàm Nghi mới 12 tuổi, Tôn Thất Thuyết đứng đầu phái chủ chiến, đề xướng phong trào này. Cụ Nghi Chi Bùi Hữu Nghĩa đã tự hỏi mình mà cũng là kêu gọi những sĩ phu giàu lòng nghĩa khí:

                                          Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa
                                          Báo quốc cần vương dễ một ta?

Cụ vẫn hy vọng một ngày kia sẽ có một vị minh lương tập hợp phong trào, rửa nhục cho nước. Dù tuổi đã cao, Cụ vẫn dốc lòng báo quốc:

                              Hùm nương non rậm đang chờ thuở
                              Cáo loạn vườn hoang thác có ngày.

Và tin tưởng mãnh liệt:

                            Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây
                            Đâu để giang sơn đến nỗi này?     

                                                    (Thời cuộc)

Ước mơ cháy bỏng tâm can của Cụ là nước nhà được độc lập, người dân được sống thanh bình:

                         Nước non ví mà như cũ được
                         Trong tuần say mãi sướng hơn không?

Nếu chất thép trong thơ Cụ luôn loé sáng, rực lửa thì chất tình càng chứa chan hơn. Hai yếu tố ấy luôn hòa quyện vào nhau trong trái tim của người nghệ sĩ- chiến sĩ. Trong thơ Bùi Hữu Nghĩa có tiếng thét căm hờn quân cướp nước, lũ bán nước, và có cả tiếng khóc xót thương cho những người dân vô tội bị giết hại trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Bài Quá Hà Âm cảm tác là tiếng lòng của Cụ trước những đống xương vô định, những vũng máu bầm ứ, vẽ nên bức tranh ảm đạm, dật dờ có sức cảm thông lớn, sức tố cáo cao tội ác dã man do quan quân triều đình nhà Nguyễn gây ra (Thời Minh Mạng – Thiệu Trị):

Mịt mù mây đen kéo tới sầm
Đau lòng thuở nọ chốn Hà Âm 
Đống xương vô định, sương phau trắng
Vũng máu phi thường cỏ nhuộm thâm
Gió trốt dật dờ nơi chiến lũy
Đèn trơi leo lét dặm u lâm
Nghĩ thương con tạo sao dời đổi
Dắng dỏi đêm trường tiếng dế ngâm.

Với bài thơ này, Cụ như một chứng nhân của lịch sử. Bài thơ là bức tranh tang thương, trời không trăng sao, tối sầm, chỉ có mây đen mịt mù, từng cơn gió thổi xoáy, một bãi tha ma khổng lồ với ánh sáng leo lét của đèn trơi (dân gian thường gọi là ma trơi). Những đống xương vô tội trắng phau, cỏ cây trong màn đêm như được nhuộm thắm bằng những vũng máu bầm thâm. Đó là vũng máu phi thường của nghĩa quân và của những người dân vô tội bị sát hại, mãi mãi mang màu sắc ảm đạm của cõi u lâm. Đó là bản cáo trạng quan quân triều Nguyễn, và cũng là nỗi lòng xót xa đau đớn của trái tim nhân đạo cao đẹp của Cụ.

Bùi Hữu Nghĩa không những là người chiến sĩ hết lòng vì dân vì nước, mà còn là một người chồng rất mực thủy chung, người cha thương yêu con vô hạn. Ở chùm thơ Vịnh ngũ luân có bài Phu- Phụ nói về quan hệ vợ chồng. Tác giả đã không xếp thứ bậc theo đạo Nho quy định kiểu tam cương, ngũ thường, mà xếp Phu (vợ) lên trước Phu (chồng), đủ thấy sự tôn trọng của Cụ đối với người phụ nữ. Cụ có một quan niệm tiến bộ về đạo vợ chồng là phải cùng nhau chia sẻ ngọt bùi, và gắn bó thuỷ chung:

                        Khi nghèo đồng chịu, giàu đồng hưởng
                       Kết tóc trăm năm mới đặng lòng.
     
Ở vở tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên, Cụ đã ngợi ca Kim Ngọc, bộc lộ tình thương, lòng biết ơn đối với vợ là Vô Hà, đã chăm sóc mình lúc ốm đau và nuôi mình ăn học:
    
Thương những vợ phong tư, gặp lúc chồng tật bệnh / Hổ bấy mặt dày mày dạn, tiếc thay mình ngọc vóc ngà… / Hổ phận chồng khó nổi cầm lòng, thương thân vợ càng thêm hổ mặt / Chừng ấy dầu an vóc ngọc, ơn kia đáng đúc nhà vàng.

Hình bóng của Vô Hà và Kim Ngọc đã in đậm nét vào mối tình sâu nặng của Cụ với vợ là bà Nguyễn Thị Tồn.
     
Bà Tồn cương trực nghĩa khí, thương chồng con hết lòng. Khi Cụ bị kết án tử hình ở vụ Láng Thé, bà Tồn đã lặn lội ra tận triều đình Huế để gióng trống kêu oan ở tòa Tam Pháp. Mẹ vua Tự Đức là Thái hậu Tù Dũ đã cảm động và tặng bà bốn chữ Liệt phụ khả gia. Vua Tự Đức đã xóa án tử hình cho Bùi Hữu Nghĩa, giáng chức, đày đi làm lính thú ở biên thùy An Giang. Khi về tới nhà, bà Tồn đã bệnh nặng và mất. Bùi Hữu Nghĩa đã viết những lời văn đầy nước mắt qua đôi câu đối thờ vợ, vừa ca ngợi công đức của bà Tồn vừa xót xa ân hận với mình:
    
Tớ nghèo mình lo giúp, tớ oan mình lo kêu, chòm xóm đều khen mình đáng vợ. Mình đau tớ chẳng nuôi, mình chết tớ chẳng táng, non sông cười phận tớ làm chồng
    
Ở bài Văn tế vợ lời lẽ chứa chan nỗi đau và tình đằm thắm thiết tha. Ông hết lời ca ngợi tính nết của vợ hiền:
    
Ăn ở kiệm cần, giàu không khoe, khó cũng không dua, mua nghĩa chác nhơn, trước chẳng phai, sau chẳng lạt, hoặc “Chồng vợ đều không cha mẹ, em luống thân phận lẻ loi / Cậu cô hòa cửa anh em, tình vui thuận lời không chếch mác”.
   
Tiếng khóc vừa ai oán vừa như ghen với đất trời:
   
Đất chẳng phải chồng, sao gởi thịt xương cho đặng / Trời không mất vợ, thử xem gan ruột làm sao?.
    
Tai ương liên tiếp đến với Bùi Hữu Nghĩa, thật phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Đứa con gái đầu lòng Bùi Thị Xiêm mất tại Phước Long lúc mới ba tuổi, đứa con trai thứ hai là Bùi Hữu Vàng cũng không nuôi được. Lúc ông lâm nạn đứa con trai thứ ba Bùi Hữu Tú mới chín tuổi, bà Tồn phải gởi người thân là ông Quản Kiệm trông nom để bà ra Huế kêu oan cho chồng. Cụ đã nêu được hoàn cảnh ấy trong bài tế:

Con chín tuổi thơ ngây, một bóng em bao đành nhắm mắt tầm tiên / Chồng trăm bề lo lắng một mình, bậu bao nỡ sắp lưng cỡi hạc … Đêm khuya hãy nâng niu một trẻ, nghĩ từ con ruột tợ kim châm / Ngày ra vào vắng vẻ không em, nhớ từng chặng gan dường muối xát.

Ba năm sau, khi Cụ ra thăm mộ vợ, vẫn cảm thấy như bà ở đâu đây:

                           Đã chẵn ba năm mới đặng thăm
                           Màn loan đâu vắng bặt hơi tăm
                           … Có linh chín suối đừng sao lãng
                           Thỉnh thoảng về thăm lúc tối tăm.    

                                             (Đề nhà mộ vợ)
      
Khi con gái mất, Cụ cũng có một bài văn tế thấm đẫm nước mắt và lòng tiếc thương:
     
Thảo với cha, lành với mẹ như bát nước ỷ không xao / Ra cùng xóm, ở cùng làng, ước hột cơm đà chẳng cắn / Chị hay niềm, em hay nở, ai mà chẳng dấu chẳng yêu / Ăn bữa trước, lo bữa sau, mẹ đà khỏi dò, khỏi dặn.

Và đây là lời thầm thì như tiếng nói giữa hai cõi âm dương của người cha nói với con:

Đường ra lối vào còn đó, con đi đâu cho cỏ mọc xanh / Thúng may rổ vá còn đây, con đi đâu cho mốc meo đóng trắng?

Với hai bài văn tế vợ và con, cùng với Quá Hà Âm cảm tác cũng đủ thấy cái tình vời vợi của Cụ với người thân và với mọi kiếp người.
     
Được đào tạo từ nơi cửa Khổng sân Trình, nhưng ở Bùi Hữu Nghĩa không có sự tôn thờ hai chữ trung quân một cách mù quáng. Trong thơ Cụ, ta không thấy có chỗ nào gắn đất nước với vua chúa và nhà nước phong kiến, mà chỉ nói đến trách nhiệm của mình trước vận mệnh dân tộc, như các bài: Thời cuộc, Tức sự, Ngọa bệnh, Ký thá, Ai xui Tây đến?… Bùi Hữu Nghĩa cũng không coi phụ nữ là nữ nhi thường tình như một số bậc túc Nho khác. Qua một số bài văn tế và vở tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên ông đã ngợi ca thiên chức của người vợ, người mẹ, người em gái.

Đối với việc học tập, Cụ luôn khuyên học trò:

                             Dẫu có ruộng vườn năm bảy mẫu
                             Sao bằng kinh sử một đôi pho.

Đặc biệt Cụ xác định cho họ một thái độ học tập đúng đắn, tránh lối học thụ động, nhồi nhét, tránh xa mọi sự quyến rũ khác:

                             Có công đi học phải lo toan
                             Chơi bời hoa nguyệt đừng mơ tưởng
                            Học hỏi vàng thau phải đắn đo.

Với đạo quân thần Cụ quan niệm:

                           Minh lương hai chữ vầy trên dưới
                           Nước trị, nhà an, bốn biển vui.

Đạo cha con phải:       Cha lành, con thảo tiếng thơm còn.

Đạo vợ chồng phải:    Khi nghèo đồng thực, giàu đồng hưởng
                                Tình nghĩa trăm năm ở hết lòng

Đạo anh em phải:      Sanh cùng một cội, cùng xương thịt
                                Sống thác nương nhau, cứng vực mềm

Đạo bằng hữu phải:  Dàm dáo nương nhau ở lấy tình
                               … Giúp lời nhân nghĩa tiếng càng xinh.

Đối với đời, Cụ luôn ấp ủ hy vọng:

                         Mong ước non sông như thuở trước
                        Đất trời say ngất một tao ông    

                                             (Tức sự)

Với triều đình, Cụ là một vị quan thanh liêm chính thực. Với dân tộc, Cụ là một công dân yêu nước, luôn lấy dân làm gốc. Với gia đình, Cụ là một người cha kính mến, người chồng thủy chung. Với bạn be, anh em, Cụ là một người bạn tốt, người anh hiền, người em quý. Tấm lòng trung nghĩa của cụ như phơi ra giữa trời đất, đúng như một vế câu đối ở mộ Cụ: Trung can đồng ái quốc, nghĩa khí hiệp ưu gia.
     
Cụ Nghi Chi Bùi Hữu Nghĩa đã trở thành hào khí Đồng Nai, là Rồng vàng của đất Chín rồng, là niềm tự hào của nhân dân cả nước. Người thi sĩ – chiến sĩ ấy bằng lưỡi gươm và ngòi bút lông đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, là một nghệ sĩ lớn trên nhiều lĩnh vực: nhà quân sự, nhà thơ, nhà văn, nhà soạn tuồng, nhà giáo, nhà thuốc… Tất cả nghị lực và tâm hồn của Cụ vằng vặc sáng ngời hai chữ Trung Nghĩa.
     
Thơ văn của Cụ mang hơi thở của vùng sông nước Cửu Long, thấm đượm chất dân gian với nhiều thành ngữ, tục ngữ được dùng rất sáng tạo:

                  Mụ lớn đừng nói ớt nói tiêu
                  Dì nhỏ chớ cà riềng cà tỏi
              … Những tưởng thuốc linh thời đã lạt
                 Hay đâu nước lã khuấy nên hồ
    
                                  (Kim Thạch Kỳ Duyên)

Hay:  Miệng hùm hay nói liếngan sứa đã chạy ngay.

Rất nhiều điển tích, điển cố của Trung Hoa đã được Cụ Việt hóa theo cách cảm, cách nghĩ của người Nam Bộ. Đối với tục ngữ, thành ngữ có khi Cụ dùng nguyên vẹn, có khi tách ra một vế xen vào lời văn : Ngọn đèn gió bạt, Dầu dãi nắng mưa, ăn cần ở kiệm, giàu không khoe, khó không đua, ruột tợ kim châm, gan dường muối xát, gió nữ, mưa ngâu… Đôi khi Cụ còn vận dụng lối lẩy Kiều hoặc lối kể chuyện dân gian, vừa đọc vừa kể Vân Tiên. Từ câu Kiều của Nguyễn Du: Kiều càng sắc xảo mặn mà / So bề tài sắc lại là phần hơn, thì Cụ viết ở bài Vịnh Kiều:

                             Nghĩ Thúy Kiều tài sắc kém chi ai
                             Sắc có một mà tài biết mấy?

Chính vì thế mà thơ văn của Bùi Hữu Nghĩa có sức sống lâu bền trong lòng người đọc nhiều thế hệ.
         
Đã hơn một thế kỷ trôi qua, kể từ ngày Cụ ra đi, những vần thơ và tấm lòng trung can nghĩa hiệp của Cụ vẫn chói sáng, thúc giục bao thế hệ cầm bút, cầm súng và để lại cho chúng ta nhiều bài học làm người. Phần mộ của nhà thơ từ năm 1872 đến nay đã được trùng tu bốn lần, bất chấp sự dòm ngó của kẻ thù trong thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1942, 1964, 1975, 1987). Bia đá cũ còn nguyên hàng chữ: Đại Nam – Hiển Khảo giải nguyên Bùi phủ quân chi mộ. Tết vu Nhâm Thân niên, chính nguyệt, niệm nhất nhật – Nam Bùi Hữu Tú kính lập. Trước mộ Cụ có đền thờ ghi hai chữ lớn làm bài vị: Trung Nghĩa. Năm 2011, TP Cần Thơ đã xây dựng lại khu tưởng niệm mới trên nền khu mộ cũ mở rộng, với tổng kinh phí gần 58 tỷ đồng, bao gồm các hạng mục: Nhà thờ khu mộ; khu trưng bày, nhà bia; nhà khách, nhà làm việc; sân đường nội bộ, cây xanh, hoa kiểng, nhà nghỉ chân và một số hạng mục phụ trợ khác. Riêng khu nhà thờ khu mộ códiện tích lên 960m2. Công trình hoàn thành trước ngày giỗ lần thứ 140 của Cụ (21/1 âm lịch - 2012).
         
Nhớ tới Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa là nhớ tới Rồng vàng của đất Cửu Long, nhớ tới người chiến sĩ đi tiên phong trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp bằng ngòi bút và bằng hành động thiết thực. Chất thép và chất tình luôn thấm đẫm trên mỗi trang thơ, trang đời của Cụ.

LÊ XUÂN
Nguồn: NVTPHCM


“TRÌ BIỆT” TRONG BÓNG CHỮ CỦA LÊ ĐẠT

Khái niệm trì biệt - tiếng Pháp différance và tiếng Anh differance - là khái niệm do Jacques Derrida đề xuất, được hình thành từ sự kết hợp giữa từ difference (nghĩa là sự khác) và deferral (nghĩa là sự trì hoãn), là một trong những khái niệm cốt lõi thuộc hệ thống triết học của Jacques Derrida.
Nhà thơ Lê Đạt

Khái niệm này có vai trò rất quan trọng trong tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism), còn gọi là hậu cấu trúc luận (poststructuralism) hay giải cấu trúc (deconstruction) trong nghiên cứu văn học, văn hoá. Derrida đưa ra khái niệm này vào năm 1968 trong tiểu luận La Différance, vốn kế thừa tư tưởng từ công trình Về kí tự luận(Of Grammatology) in năm 1967.

Irena R. Makaryk trong cuốn Bách khoa thư về lí thuyết văn học đương đại: Khuynh hướng, học giả, thuật ngữ cũng đề xuất những nội hàm tương tự: “Différance là thuật ngữ được Jacques Derrida sử dụng để kiến tạo nên sản phẩm của những cái khác và trì hoãn nghĩa vô tận mà thuộc về ngôn ngữ hay bất cứ hệ thống biểu nghĩa nào được hiểu như là một hệ thống của cái khác. Đây là thuật ngữ mà nhờ nó, có lẽ Derrida trở nên nổi tiếng nhất và thực tế, có lẽ đây là cái “phi khái niệm” (non-concept) quan trọng nhất trong trước tác của ông. Là chủ đề của tiểu luận La Différance (1968), thuật ngữ này từng giữ vai trò quan trọng trung tâm trong Về kí tự học (Of Grammatology, 1967) và được sử dụng trong những thông điệp kết thúc của cuốn Lời và hiện tượng (Speech and Phenomena, 1972)”(1).

Vận dụng khái niệm này, chúng tôi thử giải mã thi phẩm Bóng chữ của Lê Đạt.

Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
                 mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
              bóng chữ động chân cầu

(Lê Đạt, Bóng chữ, Nxb Hội Nhà văn, 1994)

Đây là một trong những thi phẩm hiếm, tiêu biểu bậc nhất cho thi đàn Việt sau 1975 và thơ ca hậu hiện đại Việt Nam. Dễ nhận thấy Bóng chữ không giống với bất kì một tiền thi nào. Sự khác lạ của nó đến ngay trong cảm quan phi lí khi cái nhan đề nói về “chữ”, đúng hơn là “bóng chữ”, nhưng nội dung thì toàn là chuyện “anh” và “em” trong nỗi nhớ một phía, cô đơn.

Vẫn là yêu đương, nhung nhớ, chia xa rồi thấy nhớ…, cái chuyện nhớ này thì rất thường, tình yêu nào mà chả thế, nhưng Lê Đạt biến cái sự nhớ đó thành “thấy”. “Thấy” mang nghĩa của “nhớ”. Đồng thời, đó không chỉ là “nhớ” mà còn là “hiểu”, là nhận thức rõ về em. Dùng “thấy” đã là trì biệt trong chuỗi diễn ngôn, mà lại cấp cho nó thêm nhiều khả năng nghĩa mới đã tạo nên sự trì biệt đa tầng, diễn tả độc đáo cái sự khổ tâm của nỗi nhớ cứ trì níu, day dứt của kẻ luỵ tình.

Nếu như ở câu thơ đầu, trì biệt diễn ra nhờ sự thay chữ và đặt chữ quen vào chỗ lạ, thì ở câu thơ thứ hai có sử dụng lối “liền kề ngẫu nhiên” của phong cách Đa đa: thơ, thiếu, nhỏ. Về nghĩa, đây là ba tính từ cùng diễn tả cái sự chưa lớn của người nữ. Việc điệp lại nghĩa từ ba chữ cũng là phép trì biệt. Chúng xâm lấn nhau để tạo một không gian bao la đến huyền thoại của tuổi mới lớn, chưa trưởng thành đến mức đánh mất đi vẻ yêu kiều của sức sống thanh tân và cũng không còn trẻ thơ của cái thuở chưa biết gì. Rõ ràng người nữ đó đã biết yêu, đã biết gieo vào hồn thi nhân khoảnh khắc rung động tình. Một cõi tình trong trắng. Cái hay của diễn ngôn này còn là diễn tả được hình ảnh lùi khuất trong không-thời gian. “Nhỏ” khác với “thơ” ở chỗ, nó không chỉ là thơ thiếu mà còn là khuất dần đi, nhỏ đi, gợi hình, diễn tả cái cảm giác níu kéo hình bóng cũ trong vô vọng. Cái đẹp mong manh cả hình, cả tính đó cứ dần chìm khuất.

Cũng vẫn thủ pháp thay thế và liền kề ngẫu nhiên, câu thứ ba đã tạo nên điểm nhấn hình thể của thơ. Dáng hình người thiếu nữ hiện lên rõ hơn trong nỗi nhớ. Ta cùng bắt đầu từ “về”. “Về” ở đây không có nghĩa là “về lại” như cách hiểu bấy lâu, mà “về” diễn tả sự “đi xa”. Có nghĩa là em đi đâu đó, em về lại nhà em, chứ không phải em về với ta. Diễn giải này đã cho thấy sức mạnh của sự trì biệt nghĩa. Nếu nói em “đi” thì sẽ tạo cảm giác đứt đoạn, dứt khoát, nhưng nói em “về”, thì cái âm “ê” thêm dấu huyền đó cứ kéo dài mãi ánh nhìn. Thi nhân đắng đót dõi theo bóng hình cho đến khi bóng hình đó “nhỏ” dần đi, “trắng” xoá cả khung trời huyền nhiệm, khuất lối trong đời thực để hiện lên đau đáu trong tâm tưởng của miền nhớ thương.

Vẫn là chuyện hồi tưởng (Lê Đạt thường làm thơ hồi tưởng). Quá khứ với ông là nỗi đau nhưng cũng là cái đẹp miên viễn không thể loại trừ. Trắng, đầy, cong là ba tính từ liền kề, điệp cấu trúc với thơ, thiếu, nhỏ, chỉ có khác về cách biểu nghĩa, mỗi chữ có một nghĩa độc lập, không cùng trường nghĩa. Một lối điệp cấu trúc theo giải cấu trúc, một sự liền kề ngây ngô thần thánh, để diễn tả ít nhất ba bóng hình, ba tâm cảm: khung cửa, em và ta. Trước hết đó là cái bóng của khung cửa. Một khung cửa cong, khi em đi chỉ còn lại sự trống vắng ngập đầy. Thi nhân gọi đấy là “khung nhớ”. Người nhìn khung cửa nhớ hay chính khung cửa đó nhớ bóng hình em? Hay nỗi nhớ làm trĩu nặng đến cong cả khung cửa? Ở đây dường như không có sự lựa chọn nghĩa rõ ràng mà thi nhân đồng hiện cả hai nỗi nhớ đó, người và khung cửa đều nhớ, nhớ đến hoang hoải một cuộc tình.

Thứ hai, cái không gian trắng, đầy, cong đó là không gian hình thể nữ. Xét trong mối tương quan với câu thơ thứ hai hay với toàn bộ thơ Lê Đạt, thì cái sự trắng đầy cong đó ẩn dụ cho chuyện xác thịt trai gái. Một ẩn ức kiểu Freud, phát lộ theo lối ít ngờ nhất. Hiểu theo hướng này thì trắng đầy cong đã vẽ nên một khuôn hình tuyệt mĩ. Chỉ có sức sống tràn sinh lực của tuổi xuân thì thiếu nữ mới có khả năng ám ảnh dai dẳng đến thế. Một tuyệt tác được vẽ bằng ngôn từ vô thức ẩn hiện sau nỗi nhớ thành khuôn. Lần này, chủ nhân của nỗi nhớ đích thực là thi nhân. Cái chuyện xác thịt, thoạt nghe thì vô lí nhưng nếu nối với câu thơ tiếp thì ta sẽ thấy việc nắng mưa của trời được viện dẫn một cách khéo léo tài tình:

Mưa mấy mùa
                   mây mấy độ thu


Mây tạo ra mưa. Mưa là biểu tượng của hủy diệt và tái sinh. Mây mưa gợi chuyện kế tiếp giống nòi. Có sự xuống dòng như là khoảng nghỉ. Chuyện mây mưa là lẽ thường của đất trời và khi con người ta yêu nhau, lấy nhau (có lẽ ở đây chỉ là khát vọng) thì tất không thể tránh được lẽ đời đó. Một cách vô thức, chuyện hình thể trong thơ đã dẫn đến chuyện xác thịt trong trầm tích thơ. Tính chất đa tầng trì biệt này là bản thể bất di dịch của thơ trác tuyệt. Sự trì biệt luôn thường trực trong câu chữ. Nhiệm vụ của thi nhân là đánh thức chúng dậy, khơi gợi nơi người đọc những đường dẫn về bao nẻo kí ức nhiệm màu.

Lê Đạt là thiên tài kí ức. Một dấu hiệu kí ức nữa không thể bỏ qua là “thu”. “Thu” là thơ, thơ của quá khứ, của thực tại lẫn tương lai. “Thu” muôn đời trì biệt. Mây mưa thu nhẹ lắm, tan loãng lắm khiến tâm hồn người phiêu bồng trong cảm giác đắm say hoà quyện giữa đất, trời, người. Điệp từ “mấy mùa”, “mấy độ” diễn tả cái sự nhiều năm tháng, cái sự dằng dặc thời gian. Có lẽ đó không là thời gian thực mà là thời gian của nỗi nhớ. Dẫu vừa mới chia tay gần đây thôi thì nỗi nhớ cơ hồ đã nhiều tháng năm trĩu nặng.

Thứ nữa, chữ “trắng” trong thơ là đối tượng trì biệt nhiều nhất. Trắng là trắng trong, là trẻ, là trống vắng, là mất mát, là hư vô… Trắng vốn là màu trung gian nên sức trì biệt của nó mạnh hơn bất cứ màu nào. Thêm nữa, nó lại được gắn với tâm hồn, hình hài thiếu nữ, nên khiến cho cái đẹp đó, cái kí ức đó, cái sự day dứt đó mãi lan toả hồn thơ. Ở cái không gian thứ ba này, trắng đồng nghĩa với cõi trắng tâm hồn. Câu thơ gợi tứ rất hay: nỗi nhớ mang màu trắng, màu của tinh khiết, vẹn toàn. Trắng như cái thuở ban đầu ấy, chứ không phải là trắng khăn tang như trong thơ Nguyễn Bính: Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi, hay trắng lãng quên của Chế Lan Viên: Biệt li màu rách xé/ Lãng quên không có màu. Trong sự trì biệt với các cách dụng “trắng” trước đây, “trắng” của Lê Đạt đã tái hiện cả một trời chữ nghĩa mà sức lan toả vẫn chưa thể đoán định được điểm dừng.

Không gian thơ dịch chuyển từ khung cửa xốn xang nỗi nhớ ra trời thu với mây mưa rồi đến vườn thu. Tình thực mà nói, ta khó có thể quả quyết đó là vườn thu. Nhưng bởi câu trên nhắc đến thu thì khu vườn ấy cũng trì biệt trong tâm thức người đọc về một mảnh vườn toả hương thu. Vẫn là kĩ thuật trì biệt chữ, “thức” ở đây vừa là “thức dậy” vừa là “thao thức”. Câu thơ bị kẹt trong cái tứ “vườn thức một mùi hoa”, được hiểu như khu vườn dậy lên mùi hoa, khu vườn được đánh thức bởi mùi hoa, nhưng cái dụng công tài tình của Lê Đạt là cài thêm hai chữ “đi vắng” khiến cho cái cảm thức tươi vui hạnh phúc ban đầu đó rơi tõm vào vùng thương nhớ. Nó đã biến nghĩa thơ từ thao thức mùi hoa hiện hữu đến thao thức vì nhớ, vì trông chờ mùi hoa đã không còn: Em là hoa đã xa.

Hoa đi vắng, tương ứng với em đi vắng. Khi em vắng rồi thì còn đây chỉ là mây mưa thu buồn, ngay đến cả mùi hoa cũng đâu còn nữa. Tứ thơ vẫn tuân thủ cấu trúc cổ điển: mây, gió, thu, hoa…, nhưng lại được giải cấu trúc trong chính con chữ của nó. Cách làm của Lê Đạt là cấp thêm nghĩa cho chữ bằng cách sử dụng chữ sáng tạo theo cách đặt chúng vào những ngữ cảnh bất thường, tuy vẫn là lối nhân hoá truyền thống - “vườn thức” tương ứng với “ta chờ”: Em vẫn đây mà em ở đâu. Gieo sự phi lí “vẫn đây” nhưng lại hỏi “ở đâu”, nhà thơ đã tài tình ẩn đi nỗi nhớ mong khắc khoải của kẻ si tình. Cái còn lại là kỉ niệm, là kí ức, không hề phai tàn theo năm tháng, nhưng chủ nhân của những kỉ niệm đó thì đã rời xa, có thể rời xa vĩnh viễn.

Câu hỏi thảng thốt em ở đâu đó về một bóng hình động, khuất lấp trong miền kí ức gợi dẫn đến một sự tồn tại vĩnh hằng - bến Âu Lâu:

Chiều Âu Lâu
         bóng chữ động chân cầu


Âu Lâu huyền thoại vốn nổi tiếng với bến phà chuyển quân trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Đã từng nhiều lần đi vào thơ nhạc, nhưng phải đến Lê Đạt, Âu Lâu mới trở nên nổi tiếng với tư cách là một hình tượng thơ bất hủ. Ắt hẳn, chẳng mấy nữa, cái địa danh Âu Lâu này sẽ sánh ngang với lầu Hoàng Hạc của Thôi Hiệu.

Không nói “bến”, nói “thuyền” mà nói “cầu”, từ “bến” đến “cầu“ là cả sự dịch chuyển không chỉ không gian mà còn cả cảm thức thẩm mĩ. Cái Lê Đạt cần là sự neo đậu, là cái vững bền ngàn năm để lắng nghe tình người miệt mài sóng vỗ. Vậy nên, ông mới phó thác “bóng chữ” dấu yêu của mình cho cái chân cầu trong buổi chiều Âu Lâu nhiều duyên nợ.

Từ “khung nhớ” đến “chân cầu” là cả một sự dịch chuyển không gian xa, gợi nhắc đến không gian tâm trạng, nơi thời gian luôn dừng lại, luôn bị trì biệt, khiến chuyện ngày qua cứ ngỡ như hôm nay. Trên dòng thời gian trì biệt đó, bởi nỗi nhớ về cái đẹp luôn day dứt nên thi nhân đâu nhận ra sự sai khác về thời gian. Thoắt cái, năm tháng thoi đưa. Hình dấu xưa chìm trong tàn phai nỗi nhớ. Chỉ còn lại buổi “chiều” trên dòng sông, đầy nắng gió. Thi nhân không nói “gió”, nhưng cái cách động chân cầu thì ắt hẳn không thể thiếu gió để lay chuyển. Trì biệt chữ đã đánh thức thêm chữ trong vùng tri nhận của con người.

Cần biết, cái làm động chân cầu kia lại trừu tượng hết chỗ nói: bóng chữ. Bài thơ bắt đầu bằng chuyện em - anh, nhưng kết thúc lại là bóng chữ. Có sự song hành của một nhất thể trì biệt: bóng chữ - bóng em. Nếu em là hiện thân của cái đẹp, thì chữ là kí tự cho cái đẹp đó, nhưng theo cách của Derrida chứ không phải của Saussure, một lối ghi trì biệt, một sự trùng lấp: chữ là em và em cũng là chữ. Không thể chia tách chữ và em. Cái đẹp của em cũng chính là cái đẹp của chữ. Vậy nói bóng chữ là để nói bóng em. Mọi hiện tồn đều không thể không cần chữ. Em trong ta chỉ còn là bóng hình vậy thì chữ trong thơ cũng chỉ là bóng chữ.

Bài thơ có bảy câu với hai câu ngắt dòng, mỗi câu bảy chữ, trừ câu thứ hai sáu chữ và câu cuối tám chữ. Nếu chia bình quân thì đấy vẫn là câu bảy chữ. Câu thơ bảy chữ là “đặc sản” của Đường thi, nhưng đã được Việt hoá đến mức bất kì nhà thơ nào khi sáng tác cũng đều khó có thể bỏ qua cấu trúc cốt lõi này, Thơ mới là một minh chứng. Bài thơ của Lê Đạt xét từ cấu trúc câu, sử dụng từ, kết hợp chữ…, đều cho thấy một sự giải cấu trúc thơ Đường. Hơn thế nữa,Bóng chữ còn giải cấu trúc cả Thơ mới.

Trường từ vựng li biệt chiếm ưu thế trong Bóng chữ. Ta có: chia xa, về, nhớ, độ thu, đi vắng, ở đâu. Trường nghĩa này tạo nên một khung cảm xúc nền, tạo nên đối trọng trì biệt cho toàn bộ các kí hiệu thơ khác. Nó hình thành cảm xúc yêu, xa và nhớ. Đây là phổ nghĩa gốc của chữ thơ để khiến mọi cái bóng của chữ đều hắt lên khung cảnh bi tình đó. Thêm nữa, cách điệp vần cũng tạo nên thế mạnh trì biệt. Điệp vần “âu” (trong Âu Lâu, chân cầu) gợi nỗi buồn sâu kín, trầm lắng, ngay cả khi tác giả lấy “động” với hàm ý giảm thiểu đi sự trống vắng, tĩnh lặng đến khắc khoải.

Hoá ra là, qua bóng chữ, Lê Đạt đã dựng lên một chuyện tình nồng thắm, tha thiết và khắc khoải nhớ mong ngay cả khi tất cả đều là quá vãng. Nhờ bóng chữ, Lê Đạt đã bất tử hoá cái duyên tình chung chiêng kia. Mới hay, nghĩa của thơ Lê Đạt là nghĩa bóng hoặc diễn giải hình tượng hơn, tìm trong bóng chữ ra nghĩa. Những chiều kích xê dịch đó đã tạo nên khoảng trống của việc sử dụng một cấu trúc sáng tạo để vượt qua một cấu trúc đã được định hình, phong kín trong tập quán.

Vì thế cái tiếng “động” trì biệt kia đã trở thành hồn thiêng của bài thơ và thậm chí của cả gia sản thơ Lê Đạt. Thơ ông thường ngắn, tối giản khả năng biểu đạt, nhưng có khả năng tạo nên những chữ-không-phải-nó, khiến chữ thơ ông không còn là khô cứng với những nét nghĩa ai cũng biết, mà luôn là sự thay đổi, hoán chuyển nghĩa bất tận trên hành trình trì biệt ngôn từ.

GS.TS LÊ HUY BẮC

____________
1. Irena R. Makaryk, Encyclopedia of Contemporary Literary Theory, University of Toronto Press, Toronto, 1997, p. 534.

Nguồn: VNQĐ


NHÀ VĂN TRẦN NHÃ THỤY: CON NGƯỜI... TÌM ĐẠO

Là người cả đời gắn bó với nghề viết, viết văn, viết báo, viết phê bình, làm xuất bản sách trực tiếp một thời gian cho một công ty sách tư nhân, hiện đang là trưởng đại diện của chi nhánh miền Nam NXB Hội Nhà văn, kiêm cả trưởng ban Ban văn Trẻ - Hội Nhà văn TP HCM, và phụ trách thêm một tờ báo… Nhà văn Trần Nhã Thụy luôn trong tình trạng quá tải công việc…
Nhà văn Trần Nhã Thụy

Gặp Nhà văn Trần Nhã Thụy giữa buổi trưa, giữa quận 1 nắng gắt, trong ngôi nhà nhỏ đầy cây xanh của chi nhánh NXB Hội Nhà Văn, khi anh đang mải miết chuẩn bị cho buổi gặp mặt CTV của NXB Hội Nhà văn. Phải mất rất nhiều chờ đợi, mới có thể bắt đầu phỏng vấn. Chúng tôi trò chuyện về cuộc đời anh, về con đường văn chương, tư tưởng sáng tạo…

Nhà văn Trần Nhã Thụy: Tôi sinh ra và lớn lên ở Quảng Ngãi. Nơi tôi ở là một thị trấn nhỏ, có một chút nhộn nhịp của chợ búa, quán xá; phía trước mặt nhà. Nhưng từ sau lưng nhà trở ra là một cánh đồng lúa mênh mông. Cho nên, trong bối cảnh đó, có người sẽ bước lên phía trước, tức vào phố thị; còn tôi thì rút lại phía sau, tức hay lang thang ngoài cánh đồng. 

Lứa chúng tôi lớn lên trong thời bao cấp, cả xã hội lạc hậu, nghèo túng. Hình ảnh nhà tranh, vách đất, đèn dầu…; không phải là hình ảnh trong văn thơ, mà đó là đời sống thật. Tôi từng sống trong một ngôi nhà như vậy. Cũng may, hồi đó tôi còn quá bé, chưa cảm nhận hết nỗi lo toan vất vả của cha mẹ; chỉ thấy tâm hồn mình thấm đẫm thiên nhiên. 

Ngay từ bé, tôi là người rất yêu thiên nhiên. Nói có thể nhiều người không tin, nhưng tôi cắt cỏ, cắt lúa, cuốc đất… rất giỏi giang thậm chí giỏi hơn nông dân chính hiệu; mặc dù gia đình tôi không phải là một gia đình thuần nông. 

Đến bây giờ, tôi vẫn thương thớ tuổi thơ tôi. Và, tôi vẫn luôn khẳng định rằng: cuộc đời con người đẹp đẽ nhất vẫn là những năm tháng tuổi thơ. Nếu tuổi thơ mà được tắm mình trong không gian làng quê thì không gì hạnh phúc bằng. 

PV: Vậy trong muôn vàn điều đẹp đẽ của tuổi thơ ấy, ký ức nào theo anh đậm đà đến bây giờ?

- Có vô vàn những kỷ niệm tuổi thơ. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ. Bởi tuổi thơ ở nông thôn là tuổi thơ dữ dội, tuổi thơ côi cút, dù có gia đình bên cạnh. 

Chúng tôi lớn lên vừa sau chiến tranh (tôi sinh năm 1973, năm 1975 thì thống nhất đất nước), làng quê còn rất nhiều bom đạn. Trên đường đến trường, có bạn vô tình dẫm phải trái mìn nổ chết ngay tại chỗ. Có bạn nghịch ngợm lấy đá ném qua ném lại, không ngờ đó là đầu đạn M79, thế là nổ đùng, phải chở đi bệnh viện thị xã cấp cứu. Tôi nghe người lớn nói, đầu đạn M79 bình thường không nổ, thậm chí dùng búa đập cũng không nổ, nhưng khi nó quay đủ vòng quay gì đó thì sẽ nổ tung. Tức là cú nổ đầy bất ngờ. Đầu đạn M79 rửa sạch thì vàng chóe đẹp vô cùng, cứ như những thỏi vàng ròng. Chính tôi đã bụm một bụm những “thỏi vàng” trước bụng áo để mang về nhà. Ba tôi thấy vậy thì lập tức mang đi bỏ trên dông (tức trên quả đồi, ở quê tôi người ta gọi là dông), rồi quay về bẻ roi quất cho tôi một trận nên thân.  

Bọn trẻ chúng tôi chơi trò trốn tìm, thỉnh thoảng vẫn chui nhầm vào những hầm tránh bom, còn nồng nặc mùi lựu đạn hơi cay (quê tôi gọi là mù cay, tức cay mù mắt), thế là lào nhào chui ra, vừa chạy vừa chùi nước mắt. 

Sau này, lớn lên, đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tôi thấy dường như không gian nông thôn trong tác phẩm của ông cũng phảng phất như quê tôi. Đặc biệt Nguyễn Huy Thiệp rất giỏi, tinh tế khi mô tả cái bầu sinh quyển làng thôn. Tôi vẫn nhớ những đêm đi soi cá đồng cùng với ba. Hai cha con xách một cái đèn măng – sông, soi trên mặt nước; cứ như thế chân lội từ cánh đồng này đến cánh đồng khác. Chúng tôi đi từ tầm 8 giờ tối đến 2 giờ sáng. Khi giật mình dừng lại, thấy mình đứng ở giữa mênh mông, hoang vắng rợn người. Cũng là một cánh đồng, nhưng nó không còn là cánh đồng của làng mình. Nó như một chuyến đi xuyên biên giới. Một chuyến đi xa kỳ vĩ nhất trong cuộc đời. Chúng tôi giật mình, rồi lầm lũi quay trở về. 

À, xin được nói thêm, tuổi thơ của chúng tôi rất… ít nói. Dường như mỗi ngày chúng tôi chỉ nói vài từ hay vài ba câu. Bây giờ thì người ta nói nhiều quá. Nói không kịp nghĩ. 

Giữa làng quê vừa mang mùi khói bom đạn, lại cũng đầy màu sắc ảo huyền ấy có những dấu hiệu nào liên quan đến con đường văn chương sau này của anh không?

- Lúc nãy, chị có hỏi kỷ niệm nào đáng nhớ nhất? Thật ra thì nhớ nhất hay nhớ nhì nó phụ thuộc vào tâm trạng, vào sự phục hồi trí nhớ. Nhưng có lẽ nhớ nhất vẫn là kỷ niệm lần suýt chết đuối. 

Hồi đó, tôi còn là một đứa trẻ chăn bò. Và, như bao đứa trẻ chăn bò khác, chúng tôi sống hoang dại ngoài cánh đồng, trên nương rẫy. Mùa nắng ấm, chúng tôi lùa bò ra ngoài đồng, dắt chúng gặm cỏ trên những bờ vùng bờ thửa, trên kênh thủy lợi và dong bò vào những gò mả lớn để tụ tập chia phe chơi đánh trận giả. Mùa đông mưa dầm dề thì lùa lò lên dông, chui vào những cái mả lớn có mái che để trú ẩn, đào trộm khoai lang, nhóm lửa nướng ăn.

Khi đi chăn bò, trong một lần tập bơi cùng đám bạn, chẳng may tôi bị hút ra ngoài khúc mương sâu, tôi “giã gạo”, uống đầy nước vô bụng rồi chìm dần. Tôi nghĩ mình đã chết. Nhưng may mắn tôi được cứu sống vào giờ chót. Những kỷ niệm đó, về sau này, tôi có viết trong truyện ngắn Những bước chậm của thời gian. 

Nhưng có thể nói, tôi không phải là một nhà văn “hiện thực xã hội”, mặc dù tôi có thể tự hào nói mình có rất nhiều vốn sống, nhiều chất liệu thực tế để viết. Hồi xưa và ngay cả bây giờ cũng vậy. Tôi quan niệm văn chương là hư cấu. Văn chương nên được bắt đầu từ tâm trạng thật hơn là câu chuyện thật. Ví dụ, khi nghe ai đó khoe rằng: “Truyện này được viết từ câu chuyện có thật 100%” thì tôi tụt hứng ngay và có thể là chẳng bao giờ đọc. 

À, thật ra thì hồi bé tôi rất ham đọc sách, nhưng chẳng bao giờ muốn viết văn hay trở thành nhà văn gì đâu. Tôi ước mơ sau này sẽ thành một ông chủ, kiểu như chủ một trang trại hay chủ một xưởng bánh kẹo gì đó đại loại. Vì quê tôi ngày đó rất nổi tiếng về mía đường, bánh kẹo. Nói chung, tôi luôn ước muốn được sống như một người bình thường. 

Con đường văn chương của anh bắt đầu như thế nào?

- Càng về sau thì tôi càng thấy rõ ràng văn chương nó thấm vào tôi từ lúc nào, rồi đến một lúc nó… chảy ra mà thôi. Chứ thành thật mà nói, tôi không có ý định trở thành nhà văn, cũng không có cái khát khao viết lách để được nổi tiếng, để lưu danh trong đời, hay để “trả nợ” gì gì đó như nhiều nhà văn vẫn tuyên bố. 

Nếu chị để ý sẽ thấy, ngay từ lúc còn rất trẻ tôi đã không tham gia vào bất cứ một bút nhóm nào. Ngay cả bây giờ, dù có tham gia vào vài tổ chức nghề nghiệp, nhưng thực chất tôi vẫn là nhà văn… một mình. Đó là quan niệm từ xưa nay của tôi. 

Cũng xin nói thêm, khi tôi cầm bút thì bạn bè tôi nổi tiếng ghê lắm. Nhiều cây bút trẻ nhưng đã là “bạn tri kỷ” với những nhà văn gộc, như Trần Dần, Lê Đạt, Nguyễn Duy…Tôi cũng muốn lắm, nhưng vốn nhát, lại thấy mình chả có tài cán gì, cho nên cứ lặng lẽ. Lặng lẽ miết cũng thành quen và thấy cũng có cái hay của nó. 

Dù không muốn thì cuộc đời anh cũng gắn bó với văn chương. Anh có thể chia sẻ những diễn biến về tư duy, cảm xúc của anh từ những trang viết đầu tiên?

- Gần đây, tình cờ tôi gặp nhiều bạn trẻ ở lứa tầm 30. Họ là những trí thức, có học hành nghiêm túc, có cống hiến nhất định cho xã hội. Nhưng khi nói về điều mà họ băn khoăn nhất thì họ nói về bản thể, về việc đi tìm chính mình. Nói nôm na, hầu hết họ đều mắc những vấn đề về tâm lý. Thì tôi chợt nhận ra rằng, ngay từ khi còn rất trẻ (từ 15 đến 20 tuổi), tôi thường đắm chìm vào những suy nghiệm cuộc đời, tôi thường đặt ra câu hỏi: Cuộc đời, rốt cuộc là gì?; Ý nghĩa cuộc đời, là gì vậy?. Đó là những câu hỏi siêu hình, nhưng nó cứ “ăn nằm” với tôi hằng ngày. 

Rốt cuộc thì ý nghĩa cuộc đời là gì? Đến giờ này tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời thích đáng. Nhưng tôi không còn loay hoay với nó nữa. Tôi sống bớt lý thuyết, bớt “làm màu” hơn. Tôi nghĩ cứ sống thôi, lý luận chả để làm gì, cũng chả giải quyết được gì. 

Cho nên, nếu nhìn lại, với một chút thao tác gọi là khảo sát, sẽ thấy văn chương của tôi viết ra từ nỗi buồn. Buồn quá mà viết văn. Chứ tôi viết văn không phải vì nghèo hèn, viết để kiếm tiền, mặc dù đến giờ vẫn nghèo hèn và vẫn có nhu cầu kiếm thật nhiều tiền. 

Viết văn với tôi là nhu cầu tự thân. Không viết không được. Đơn giản vậy thôi. 

Đến bây giờ, anh đã có định hình về mục đích trên con đường văn chương của anh?

- Không. Không hề có mục đích gì cả. Hay nói đúng hơn, mục đích duy nhất là viết ra nó, còn lại không có gì quan trọng nữa. Nói chị không tin, tôi chưa từng lưu giữ bất kỳ một văn bản nào, ngoài những cuốn sách đã xuất bản thì giữ mỗi cuốn 1 bản để làm kỷ niệm. Còn những truyện đăng báo, những bài viết về tôi, tôi cũng có xem qua, nhưng rồi… hững hờ ngay sau đó (Cười).
Anh từng nói: “Nhà văn, không thể lấy gì khác để khỏa lấp hay biện minh, ngoài trang viết, ngoài tác phẩm để lại của mình”. Nói rõ hơn, nhà văn chỉ có tác phẩm mới minh chứng được cho chính bản thân?

- Tôi có anh bạn thân là bác sĩ -TS Y khoa, sau một chuyến đi Nhật về có kể cho tôi nghe câu chuyện về một người lao công người Nhật, vào giờ tan tầm, vẫn cố nán lại, cúi xuống, chăm chú đưa chiếc khăn vào chỗ góc bàn để lau cho sạch vệt bụi. Sự chăm chú gần như quên lãng thời gian và mọi người xung quanh. Và như vậy, chiếc bàn được sạch sẽ đến chỗ cuối cùng, chỗ mà chỉ có người lao công mới biết được. Và, bạn nói, chỗ đó chính là giá trị của người lao công. 

Câu chuyện thật sự gợi cho tôi suy nghĩ về giá trị của mỗi người. Nhớ có lần, ngồi với một bạn trẻ, tôi có nói đại ý rằng: xã hội mình lạ lắm, dường như chẳng ai bằng lòng với công việc mình đang làm. Giáo viên thì suốt ngày toan tính chuyện mánh mung. Nhà văn thì suốt ngày ngóng chuyện làm giàu. Còn mấy ông làm ăn thuộc loại business thì lại … khoái làm thơ cho nó sang (!) 

Vậy giá trị thật sự của mỗi người nằm ở đâu. Tôi mạo muội đưa ra suy nghĩ của mình như thế này: Giá trị của một cầu thủ là đá bóng hay. Còn anh ta có đẹp trai hay không cũng chẳng có gì quan trọng. Giá trị của một anh lái taxi là thông thạo đường xá, lái xe an toàn. Còn ảnh có nhặt của rơi hay không chỉ là điểm tính thêm. 

Có nghĩa là, trong giá trị cũng có thể chia: giá trị chính và giá trị phụ. Mỗi người phải hiểu giá trị chính của mình nằm ở đâu. Giá trị của một người cha là nuôi nấng và che chở con cái mình. Giá trị của một người làm sếp là trả lương đầy đủ và đúng ngày cho nhân viên. Chứ không như nhiều ông suốt ngày khoe mình là thiên tài làm báo mà báo bán không ai mua, tiền nhuận bút đã thấp còn nợ dầm dề không trả.

Giá trị của một người thầy là dạy nên học trò giỏi chứ không phải giỏi chửi học trò dốt... 

Cuối cùng giá trị của một nhà văn là viết nên những tác phẩm hay phục vụ bạn đọc. Anh có thể giàu có hoặc quyền lực, nhưng những giá trị đó không thể thay thế giá trị văn chương của chính anh. Anh cũng không thể tạo nên giá trị cho mình bằng cách bày trò hãm hại làm giảm giá trị của người khác. Tôi nhận thấy trong sinh hoạt văn chương đầy rẫy sự nhỏ nhen, đố kỵ. Chính sự đố kỵ đã biến nhiều người trở thành kẻ độc ác, mà chính họ cũng không nghĩ mình đã thành như vậy.

Anh đã minh chứng điều trên bằng hơn 10 tác phẩm của mình?

- Ồ không, tôi không việc gì phải chứng minh cả, và tôi viết văn cũng chẳng để chứng minh gì cả. Tuy nhiên, nếu muốn hiểu về tôi, thì cũng nên đọc qua những tác phẩm của tôi một chút. Thời buổi này, người ta thường đánh giá nhà văn không bằng tác phẩm, mà bằng những kênh khác, nơi khác. Ví dụ, tôi từng bị nhiều bạn “hỏi khó” đại loại rằng: “Sao vấn đề này, câu chuyện này, không thấy anh viết gì trên facebook hết vậy? Có phải anh hèn, anh sợ không?”

Ồ, tôi cũng hèn, cũng sợ đủ thứ chứ. Nhưng không vì thế mà tôi không viết. Tôi cũng là người làm báo, tôi xử lý thông tin sau mặt báo, tôi viết bài bình luận đăng trên tờ báo của mình. Và, không việc gì tôi phải “khoe” điều đó trên trang facebook cả. Vả lại, bạn tài giỏi thì bạn cứ viết đi, viết cho cả thế giới đọc, bạn “đá móc” tôi làm gì cho mất thời gian? Hơn nữa, có thể bạn không biết, những điều mà bạn đang nghĩ, đang quan tâm, thật ra tôi đã viết từ lâu rồi. Nói tóm lại, đừng nên phán xét ai khi chúng ta chưa biết rõ về họ. 

Giữa bộn bề công việc, anh vẫn viết đều, vậy anh có thể chia sẻ làm thế nào để anh luôn giữ được nhịp sáng tạo trong mình?

- Thật ra thì dù làm gì, cuối cùng tôi vẫn yêu mến công việc viết văn nhất. Cho nên, đôi khi, sau những “lạc lối” thì mình cũng tìm cách quay trở lại. Như đã nói ở trên, tôi tự hào mình có nhiều vốn sống, sự trải nghiệm; bên cạnh đó tôi cũng duy trì việc đọc sách, học hỏi thường xuyên. Cho nên, trong tôi lúc nào cũng có nhiều dự án văn chương. Chỉ là thu xếp được chút thời gian thì viết ra mà thôi. 

Mới đây, nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan có hỏi tôi rằng: “Mấy năm gần đây thấy ông hoạt động xã hội nhiều quá, vậy còn hứng thú viết văn không?” Tôi trả lời ngay rằng hoạt động xã hội không hề dập tắt đam mê sáng tác mà ngược lại là đằng khác. Tôi nhớ nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng nói: “Hãy sống đi rồi hãy viết”. Khi vốn sống đầy ắp thì chuyện viết sớm muộn gì cũng đến mà thôi. 

Khi đọc văn của anh có thể thấy anh thường cẩn trọng khi giữ nhịp điệu trong cách kể và văn của anh cũng giàu nhạc tính?

- Tôi đánh giá cao lao động nhà văn. Tôi không thích những nhà văn cẩu thả. Nếu anh ra chợ mua một miếng thịt heo, thì ít ra anh cũng làm món luộc, chứ không thể bắt… bạn đọc nhai món thịt sống. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần từng nói: “Viết văn cũng giống như… xắt thịt, phải xắt sao cho miếng thịt trông đẹp mắt”. Một nhà văn mà thua cả bà hàng thịt thì… hỏng quá (Cười)

Còn cái nhạc tính mà chị nhận ra, tôi cảm ơn và hạnh phúc vô cùng. Thật ra, thì khi mình viết bằng câu chữ của tâm trạng, tự câu chữ đã có nhạc tính, chữ nọ nối chữ kia, câu nọ nối câu kia. Nó tương tự như những cú đỗ domino, nhẹ nhàng thôi, nhưng hiệu ứng vô cùng. 

Cũng có thể thấy anh chú trọng vào việc làm đẹp và sáng khi sử dụng từ ngữ! 

- Lẽ dĩ nhiên tôi rất chú trọng vào việc dùng câu chữ. Nhưng nhiều khi mình cũng đành bất lực khi không thể điều khiển câu chữ được. Nói cho cùng, không phải là viết cái gì mà là viết như thế nào. 

Vậy qua các tác phẩm đã viết, anh có thể cảm nhận được điều anh muốn truyền tải  thông qua văn chương?

- Đây là một câu hỏi quá khó đối với tôi. Thật ra thì tôi chỉ là một anh nhà văn quèn, nhà văn hạng hai mà thôi. Tôi không có tham vọng hay muốn truyền tải thông điệp gì thông qua văn chương để gửi đến nhân loại cả (Cười). Tôi chỉ nghĩ rằng: “Mình chỉ sống một cuộc đời, mà cuộc đời thì hữu hạn và chán ngắt, chỉ có sáng tạo mới có cơ hội bước ra những giới hạn và giúp mình sống thú vị hơn”. Tôi viết vì những suy nghĩ nhỏ bé vậy thôi. Nói như vậy không có nghĩa là tôi cứ viết “hồn nhiên như cô tiên”. Tôi cũng “cài cắm” vài thứ trong đấy, nhưng nó là gì thì tôi để cho bạn đọc tìm kiếm và… phán xét. 

Anh thường sáng tác trong hoàn cảnh nào và cảm xúc của anh khi ngồi trước trang viết?

- Tôi có thể viết ở bất kỳ đâu, giữa đám đông hoặc giữa rừng già hoang vu. Nhưng tôi thường viết nhất là trong những tiệm cà phê, vào những buổi sáng và tiếp tục vào buổi chiều. Tôi ít khi viết vào buổi tối. 

Thật ra thì tôi là người luôn trì hoãn việc viết, cực chẳng đã lắm, khi… chịu hết nổi thì mới viết (Cười). Nhưng tôi luôn duy trì việc ghi chú cho những gì muốn viết, sắp viết. 

Cảm xúc của tôi mỗi khi ngồi viết là như thế này: “Mình lại viết văn nữa à? Sao phải như thế này?”

Viết văn với anh là việc tự nhiên như hơi thở, là việc đương nhiên không thể ngừng, vậy anh cân bằng thế nào giữa viết văn và các công việc khác? Cân bằng với bản tính nghệ sĩ và là người quản lý?

- Thật ra thì tôi là một người bình thường, chỉ có viết văn là không được… bình thường mà thôi. Cho nên, bản thân tôi có thể làm tốt rất nhiều việc: chăm con, đi chợ nấu ăn, sửa chữa nhà cửa… Tôi chưa từng làm “sếp” to (mà có thì tôi cũng không dám làm), nhưng thường được tin cậy vào vai trò leader (trưởng nhóm) tôi là người có khả năng giải quyết những việc cụ thể.

Tôi nghĩ nhà văn thì nên có chất nghệ sĩ, có tâm thế nghệ sĩ, tức bay bổng, không phán xét. Nhưng tôi rất sợ những ai “nghệ sĩ tính” quá, tức sống vô tâm, vô tình, vô trách nhiệm. 

Ngoài việc viết văn, anh còn làm báo, từng có thời gian phụ trách phần giới thiệu bình luận những tác phẩm văn chương của đồng nghiệp, điều này có ảnh hưởng tới việc sáng tác ra sao?

- Chẳng giấu gì, hồi trẻ tôi đọc rất nhiều sách công cụ, sách lý luận phê bình. Tôi thấy mình cũng có thể lãnh hội được và có tư chất phê bình. Đến bây giờ tôi vẫn đọc sách công cụ nhiều hơn là sách văn chương. 

Nhưng rồi tôi vẫn không chọn nghề phê bình, vì đơn giản tôi thấy sáng tác thú vị hơn. Phê bình có lẽ dành cho những ai không có… năng lực sáng tác (Cười). Hoặc ai đó muốn làm “đại ca”. Tất nhiên, chỉ nói vui thôi. Phê bình không đơn giản. Tôi nghĩ phê bình cũng như làm thầy, phải thông tuệ và phải trí tuệ mới đảm đương nổi. Cho nên, ở đời này có hai việc tôi không bao giờ dám làm, đó là: đi dạy và viết phê bình. 

Còn việc viết giới thiệu tác phẩm, hay bình luận ngắn thì… quá dễ dàng đối với tôi, như lấy món đồ trong túi ra mà thôi (Cười). Nó không ảnh hưởng gì đến sáng tác của tôi cả. 

Anh từng viết: “So sánh có vẻ hơi khập khiễng, nhưng cá nhân tôi thấy rằng con đường trở thành một nhà văn đúng nghĩa cũng giống như con đường tu của đạo Phật. Nghĩa là chúng ta cũng phải đi theo từng bước: Văn -Tư -Tu - Tín -Nguyện -Hành  tức Nghe - Nghĩ -Sửa Mình -Tin - Nguyện/ Dấn thân -Hành động (…) Nếu ai đi đúng đường như vậy, một cách bền bỉ, chắc chắn sẽ thành công”.  Anh có thể giải thích rõ nghĩa hơn điều này?

- À, nó là thế này, Văn -Tư - Tu được gọi là Tam học. Văn trong giáo lý nhà Phật thì Văn gọi là Nghe, bởi ngày xưa chỉ toàn nghe, truyền khẩu; nhưng thật ra Văn cũng có nghĩa là Đọc, là học hỏi, là… nghe ra điều hay lẽ phải. Chứ Nghe không phải là… nghe ngóng, hóng hớt. Nói chung đây là các bước thực hành để tu đạo, làm người. 

Ở VN mình, con người ta dường như chỉ trở nên tử tế từ tuổi 60, tức từ khi về hưu, và khi già cả sắp chết mới tìm đến đạo. Thật ra thì tất cả có thể mờ mịt, tan tác, nhưng Đạo vẫn luôn sáng rõ, luôn tồn tại. Một người có Đạo khác với một kẻ vô Đạo. 

Tôi chỉ nói vậy thôi, bằng trải nghiệm cá nhân mình, chứ không dám dạy bảo ai.  

Xin cảm ơn anh và chúc anh một Năm Mới tràn đầy hoan lạc với những sáng tạo hay mới.

NGUYỄN QUỲNH TRANG thực hiện
Nguồn: Tinh Hoa Việt



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều