Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

NHÀ THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN: HỒN TA ĐẸP NHƯ TÌNH TA THẢM QUÁ!

Có thể nói thơ và chuyện tình của Nguyễn Tất Nhiên trở thành một hiện tượng nổi bật tại miền Nam vào những năm đầu thập niên 1970.
Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên và bạn bè

Ông làm thơ hay – điều đó là hẳn nhiên, nhưng chuyện tình được “rêu rao” trong thơ ông khiến dư luận hết sức chú ý. Nguyễn Tất Nhiên yêu rất thật và thơ ông cũng phản ánh quá thật những tâm tình nóng hổi khi yêu làm cho giới bạn đọc, nhất là học sinh, sinh viên đều có những đồng cảm sâu sắc.

Duyên của tình ta con gái Bắc.

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952, tại Biên Hoà (Đồng Nai). Năm đệ tứ (lớp 9), ông để ý đến một cô bạn học người Bắc, tên Bùi Thị Duyên rất xinh đẹp. Chính vào năm đó, Nguyễn Tất Nhiên bắt đầu làm thơ. Thật đáng kinh ngạc, những bài thơ đầu tay đã có sự cuốn hút lạ thường nên chỉ vài năm sau đó ông đã sớm nổi danh. Với những bài thơ này – chủ yếu viết cho Duyên, Nguyễn Tất Nhiên đã tập hợp in thành tập mang tên “Thiên tai” khi học lớp đệ nhất (lớp 12) và thân hành mang đi bán tại các lớp trong trường.

Khi tập thơ phát hành, Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng ngay, và vì thế ở Biên Hoà, người ta bắt đầu đồn thổi về chuyện tình Duyên – Nhiên khắp nơi. Sau này, Bùi Thị Duyên kể:

“Tụi này biết nhau từ hồi nhỏ, lúc đó còn ngây thơ, tôi chưa nghĩ gì, còn Nguyễn Tất Nhiên có nghĩ gì hay không thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14 – 15 tuổi. Tôi được Nhiên tặng một quyển thơ mà như anh nói chỉ có 3 bản chính đặc biệt (trong số 100 bản), một cho Nhiên, một bản cho tôi, và một bản cho một người quan trọng nào đó. Tôi biết sự hình thành quyển thơ là từ tôi mà ra chứ không phải không, nhưng thật ra chúng tôi chẳng có gì hết, bạn bè trong lớp ai cũng biết. Dĩ nhiên là tôi rất xúc động vì một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã gặp và nói với Nguyễn Tất Nhiên rằng mình chỉ là bạn thôi, nếu Nhiên muốn đi xa hơn nữa thì tôi không gặp Nhiên đâu. Sau đó anh ấy cũng công nhận chỉ muốn là bạn, nhưng thật ra nói thế cho qua để mà còn tiếp tục được gặp tôi”.

Cũng cần được nói thêm, ở Biên Hoà thời ấy có rất nhiều nhà thờ. Là người theo đạo, Bùi Thị Duyên hay đi lễ, và những buổi sáng hay chiều, anh chàng làm thơ si tình Nguyễn Tất Nhiên thường ngồi trong quán cà phê bên đường để ngắm nhìn người đẹp đi ngang qua. Ắt hẳn đã nhận ra tình mình chỉ là đơn phương, thơ của ông viết cho Duyên đa phần là thở than, trách móc, có khi rất… dữ dội. 

Bài thơ đầu tiên ông làm cho Duyên đã có tên là “Khúc tình buồn”, sau đó nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bản nhạc “Thà như giọt mưa” hầu như ngày nào cũng được phát trên Đài phát thanh Sài Gòn, được giới học sinh, sinh viên mua, chép, chuyền tay nhau với tất cả sự thích thú vốn có cũa tuổi trẻ:

“Thà như giọt mưa
Vỡ trên mặt Duyên
Để ta nghe thoáng
Tiếng mưa vội đến
Những giọt run run
Ướt ngọn lông măng
Khiến người trăm năm
Đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên
Đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên
Đau khổ muôn niên”.

Với cái tên Duyên được “rêu rao” trong ca từ một cách thê thiết như thế, cảm xúc của người nghe như được nhân lên gấp bội, cho nên bản nhạc cũng như tên tuổi của Nguyễn Tất Nhiên nhanh chóng được lan truyền rất rộng rãi.

Tiếp sau bản nhạc đó, và ngoài tập thơ “Thiên tai”, Nguyễn Tất Nhiên còn tiếp tục làm nhiều thơ “ai oán” cho Bùi Thị Duyên. Như bài “Duyên của tình ta con gái Bắc” với những câu… ấn tượng:
.............
Nghe nói em vừa thi rớt Luật
Môi trâm anh tàn héo nụ xa vời
Mắt công nương thầm khép mộng chân trời
Xin tội nghiệp lần đầu em thất vọng!
(Dù thật sự cũng đáng đời em lắm
Rớt đi Duyên, rớt để thương người!)
...........

Thế nhưng, dường như trái tim của Bùi Thị Duyên vẫn không hề mềm sũng trước những bài thơ ướt át đó, thậm chí ngược lại đã có nhiều hờn trách từ phía gia đình bà dành cho nhà thơ tài hoa si tình. 

Cả dư luận, trong khi thán phục, tìm đọc thơ của Nguyễn Tất Nhiên cũng bắt đầu tỏ ý phê phán ông “độc ác” với người-tình-không–trái- tim Bùi Thị Duyên. Để đến nỗi, khoảng năm 1973, Nguyễn Tất Nhiên thật sự mệt mỏi (chữ của ông hay dùng trong thơ) với cuộc tình tuyệt vọng của mình và làm bài thơ coi như là bài cuối cùng dành cho Duyên, trong đó ông “dũng cảm” tự nhận mình là một “tên quái đản”, là người “cầu danh vọng trên nước mắt người tình” như một tạ lỗi:

Năm năm trời... ta làm tên quái đản
Cầu danh trên nước mắt của người tình
Năm năm trời có nhục có vinh
Có chua, chát, ngọt, bùi, cay, đắng...
Có hai mái đầu chia nhau thù oán
Có thằng ta trút nạn xuốn vai em!
Năm năm trời... có một tên Duyên
Ta ca tụng, rồi chính ta bôi lọ
Tình ta đẹp nhưng tính ta còn nít nhỏ
Nên lỗi lầm đã đục màu sông
Nếu em còn thương mến tuổi mười lăm
Xin nuốt hận mĩm môi cười xí xóa
Hồn ta đẹp nhưng đời ta thảm quá
..........
(Tạ lỗi cùng người)

Em hiền như ma soeur.

Cũng trong thời kỳ Nguyễn Tất Nhiên học đệ nhất (lớp 12) và xuất bản tập thơ “Thiên tai”, ông có chú ý đến một cô bạn học chung trường khác tên là Nguyễn Thị Minh Thuỷ.

Minh Thuỷ không đẹp bằng Bùi Thị Duyên nhưng cũng xinh xắn, dễ thương, học giỏi nhất trường, có thể nói là tài năng toàn diện, đặc biệt là hết sức dịu dàng. Đã biết chắc rằng tình yêu mình dành cho Duyên là vô vọng, Nguyễn Tất Nhiên tỏ ra săn đón Minh Thuỷ hơn. Vốn có bản tính dịu dàng, Minh Thuỷ không tỏ ra từ chối tình yêu của nhà thơ mà chỉ im lặng nửa nhận nửa không. Cứ mỗi khi tan trường, đang đi bên cạnh cô bạn học, nhác thấy chiếc Honda của Nguyễn Tất Nhiên lạng lại từ xa là Thuỷ vội đẩy bạn ra phía ngoài, còn mình đi bên trong để tránh tiếp xúc trực tiếp. Những lần như thế, thư từ, quà cáp của nhà thơ được cô bạn nhận giúp và sau đó chuyển lại cho Thuỷ. Bà kể về thời đó: “Có lần anh ấy dúi vào tay bạn tôi một cái bọc và nói trước khi phóng xe đi: “Thuốc bổ óc đó, một cho Dung (tên bạn tôi) và một cho Thuỷ, ráng thức để mà học thi”. Tôi cũng cảm động, vui vui một chút. Anh chàng làm thơ mà cũng biết điệu đó chứ”.

Tuy vậy, khi thấy “hiện tượng” mối tình Nhiên – Duyên rộ lên cả trường, cả tỉnh, cả miền Nam, Minh Thuỷ cũng rất dè chừng. Lần nọ, bà quyết định gom hết tất cả quà cáp, thư tình của Nguyễn Tất Nhiên lâu nay gửi cho mình đem đến nhà bạn, nhờ bạn trả lại hết. Sự kiện đó đã làm cho nhà thơ si tình chấn động. Ông viết ngay bài thơ “Kẻ tự đóng đinh tim” cho Minh Thuỷ:

Vì chẳng được cầm tay nhau kể lể
Nên chuyện tình cứ thế, thảm hơn
Chúa cũng cau mày ngắm nỗi cô đơn
Của một kẻ đóng tim mình trên thập giá!

Chiều em đi học về, thơm tóc thả
Áo suông eo trinh bạch cả giáo đường
Ta ngọt ngào gọi khẽ, người đi luôn
Nên lũ thiên thần bỗng nhiên thất chí
Bay xuống trần gian làm thi sĩ
Nâng Thánh Kinh mà hát thơ tình
Có con chiên nào thoáng ngạc nhiên
Rồi lại đắm chìm trong vần nhã nhạc…

Chiều em đi học về, chim trắng bước
Ngang giáo đường nhòe nhoẹt màu vôi phai
Có động lòng xin hãy rút khăn tay
Lau giùm mắt kẻ xương bày trên thánh giá
Là ta đó, em ơi, đang tầm tã
Mưa đầy hồn đau đớn thương thân
Lỡ yêu tín đồ phải chấp nhận gian truân
Phải muối mặt giao du cùng quỷ sứ
Tính nhân hậu đã hồi nào hóa dữ
Chỉ vì em lành lặn quên chàng
Chỉ vì em… gõ nhẹ cửa thiên đàng
Bình thản gửi cho hai hàng bím tóc!

Vì chẳng được ra đường đứng, khóc
Nên hình hài cứ thế, ốm o hơn
Đời không dung đứa tự thị ngông cuồng
Người cũng thế nhìn ta chán ghét
Ta điên đảo, người đâu cần hay biết
Ta té lên té xuống chẳng ai màng
Ta còng lưng gánh bụi giữa hoàng hôn
Người lãnh đạm hất ta rơi vực tối!

Chúa cũng lắc đầu vô phương cứu rỗi
(Cứu rỗi làm gì một thứ nghênh ngang
Cứ nổi cơn đòi Thượng Đế ngang hàng
Đấng Ngàn Tuổi tim già khô độ lượng !)

Ta phải chết cho Nước Trời thịnh vượng
Cho thánh thần chúc phúc bình an
Cho em còn mãi mãi dịu hiền ngoan
Mà hãnh diện có thằng đen đúa
Luôn nhăn nhó mặt mày chê Chúa khó
Nhưng cắn răng không hở miệng trách em!

Trong một bài khác, ông còn trách cụ thể về việc Minh Thuỷ đã từng nhận thư, quà của ông như sau:

........

Ta vẫn nhớ trưa nào em ngồi hát
Ta thèm hôn lên mắt tiểu thư buồn
Ta vẫn ăn năn những lúc đón đường
Em khó chịu mà thư nào cũng nhận!
...........
(Giữa trần gian tuyệt vọng)

Cũng là thơ hờn trách nhưng có gì nhẹ nhàng, đằm thắm hơn chứ không “phẫn uất” như thơ viết cho Bùi Thị Duyên, vì Nguyễn Tất Nhiên đã nhận ra vẻ dịu dàng “Em hiền như ma soeur” của Minh Thuỷ. Phải nói những bài thơ ông viết cho Minh Thuỷ tình tứ, cảm động hơn, dù “chuyện tình” này không ồn ào như với Bùi Thị Duyên. Hình ảnh thắt bính tóc của Minh Thuỷ đi vào thơ ông thơ mộng lắm, ngay cả khi có nguy cơ hai người chia tay:

Em không còn thắt bính
Nuôi dưỡng thời ngây thơ
Anh không còn luýnh quýnh
Giữa sân trường trao thư
.............

Em thường hay mắt liếc
Anh thường ngóng cổ cao
Ngoài đường em bước chậm
Quán chiều anh nôn nao
........

 Hai năm tình lận đận
Hai đứa cùng xanh xao
Hai năm trời mùa lạnh
Hai đứa cùng hư hao
........

(Hai năm tình lận đận)

Lên đại học, Nguyễn Tất Nhiên vào học Luật khoa, Minh Thuỷ vào Vạn Hạnh, Sài Gòn. Từ đó, hai người hầu như không còn gặp nhau. Thế nhưng, thỉnh thoảng trên báo, ông vẫn có thơ cho Minh Thuỷ, như đoạn thơ dưới đây là một, vẫn da diết lắm:

Trời mưa , không lớn lắm
nhưng đủ ướt đôi đầu !
tình yêu , không đáng lắm
nhưng đủ làm ... tiêu nhau !
...............

em tính còn ham chơi
lưng ngoan dòng tóc bính
môi trinh non thích cười
chiều chiều hay giỡn nắng
tình trôị. kệ tình trôi
............
(Thơ Khởi Tự Mê Cuồng)

Thì xin nhẫn nhục cưu mang vợ chồng

Năm 1975, biến cố đất nước. Chính sự kiện này đã vô tình “đẩy” Nguyễn Tất Nhiên và Minh Thuỷ gặp lại nhau, ấy là khi cả hai cùng trở về Biên Hoà sinh sống. Nguyễn Tất Nhiên đi làm… rẫy ở Long Thành (Đồng Nai), Minh Thuỷ làm nhân viên hợp tác xã ở thành phố. Dường như sự bình lặng của thời kỳ này đã làm “nguội” những sôi nổi bốc đồng của tình yêu tuổi trẻ một thời. Hai người đến với nhau có vẻ thanh thản, hiểu đời hơn. Tình yêu từ đó được nối lại.

Năm 1978, họ chính thức làm đám cưới. Tuy nhiên, với một tâm hồn quá mẫn nhạy, thậm chí hơi khác thường, ngay cả khi chuẩn bị chuyển từ vị trí người tình thành người chồng, Nguyễn Tất Nhiên vẫn có những bài thơ dự cảm rằng mình không xứng với sự dịu dàng, hiền ngoan, với kiểu “con nhà gấm lụa thánh hiền” của Minh Thuỷ. Nghe người ta chúc “trăm năm hạnh phúc” ông cũng lo nghĩ. Ông viết:

“Phu thê nếu đã nợ rồi
Thì tôi đâu ngại ngỏ lời yêu em
Như con chim mới tập chuyền
Bâng khuâng gấm lụa thánh hiền em ra
Mặt trời rực rỡ phương xa
Ở đây hạnh phúc chỉ là đau thương
............

Phu thê nếu đã buộc ràng
Thì xin nhẫn nhục cưu mang vợ chồng
Tôi quanh năm sống hoang đàng
Cũng xin nhỏ lệ hoàn lương, khóc tình”.
(1978 ở Việt Nam)

Với những bài thơ viết cho người vừa thành vợ của mình, dễ thấy Nguyễn Tất Nhiên yêu Minh Thuỷ thật tình – thứ tình yêu không còn ai oán, hờn trách, hơn thua như xưa nữa mà đong đầy mặc cảm, lo lắng, làm như tạng người ông thì chỉ yêu thôi chứ đừng cưới, khi yêu thì “hùng hổ” nhưng khi cưới thì “ăn năn”. Như bài “Uyên ương” cái tựa thơ đã rõ là nói về tình vợ chồng, nhưng sao mà… hoài tiếc, thổn thức với những gì đã qua:

....
Có những chiều ta muốn hôn em, rồi khóc
Mùa bình an nào chờ đợi uyên ương?
Nhớ hôm xưa em mảnh khảnh tan trường
Hương trinh khiết ngây ngây chiều nắng lụa
Áo đông phương còn e dè trước gió
Ðôi tà ngoan chưa phỉ sức tung tăng
Bụi trần gian chưa gợn vướng mi cong
Thơ ta sáng theo hồn ta trẻ nhỏ
Nhớ hôm xưa em bình minh thiếu nữ
Môi vô tư chưa bợn nhuốm hơi người
Tay măng tơ chưa vọc nước dòng đời
Tóc bính thảnh thơi chưa phiền khói thuốc
Ta lẽo đẽo theo tình ê ẩm bước
Ðể chiều về nghẹ thấm thía gian nan!
Nhớ hôm xưa em mơ mộng nhẹ nhàng
Hay hát khẻ đôi bài tình man mác
Trang thư nhỏ ép bông hoa, làm dáng
Cài tơ nhung lên tóc mượt, làm duyên
Cười với tình nhưng... tránh vội sang bên
Như thể sợ tình yêu làm lấm áo!
Chim trong tổ biết chi đời giông bão
Em con cưng nào biết tuổi lưu đày
......

Với tính cách khác thường của Nguyễn Tất Nhiên như thế, quả nhiên cuộc sống của họ không hạnh phúc lắm, chủ yếu là do “tính nết hoang đàng” cố hữu của Nguyễn Tất Nhiên – như ông thường tự nhận, toàn là “nhẫn nhục cưu mang vợ chồng”. Dù đã có với nhau hai con trai, nhưng hai người thường xuyên có những cuộc “di cư” mỗi người một nơi mỗi khi trong nhà có “giông bão”. Năm 1992, trong một lần Minh Thuỷ dẫn hai con “di cư” như thế thì nghe tin Nguyễn Tất Nhiên đã tự kết liễu đời mình trong một ngôi chùa ở California, Mỹ (họ sang Mỹ từ năm 1978).

Chính Minh Thuỷ cũng không tin ông chọn giải pháp đó dù quá biết tính cách khác thường của ông. Vì những chuyến “di cư” như thế, đối với bà, chỉ là cách để ông “biết điều” hơn với vợ con mà thôi, nhưng than ôi, “chính vì em mà thiên tài chán sống”, ông đã từng cảnh báo như thế trong một bài thơ thời còn độc thân rồi mà.

ĐOÀN VỊ THƯỢNG
Nguồn: VCPN



Thứ Ba, 12 tháng 3, 2019

KÝ CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Tiếng “cây” trong ngôn ngữ Việt Nam khi dùng theo nghĩa bóng là chỉ các bậc tài nghệ trong nghề. Cây làm bàn, cây sáng kiến, cây lý luận, cây truyện ngắn, cây tiểu thuyết… Hiện giờ tiếng “cây” đó đang bị ô nhiễm vì đời sống kinh tế khó khăn – một điều đáng buồn. Viết về Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi muốn gọt sạch lớp bụi ô nhiễm, lấy lại chính xác nghĩa bóng của từ để gọi anh: Cây ký.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Có lẽ trong văn học hiện nay Việt Nam, sau Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn thứ hai nổi bật lên với thể ký. Ký của anh có cái là truyện, có cái là tùy bút, có cái chỉ mới là ghi chép, nhưng chúng đều là ký văn học. Đóng góp của anh chính là tính chất văn học của ký này. Không ít nhà văn cũng viết ký, nhưng đó lại là ký thông tấn, ký tân văn. Thời gian trôi qua, các sự kiện lùi lại sau, đời sống xã hội thay đổi, những bài ký như thế chết đi trong im lặng. Những bài ký còn lưu lại được, còn được ghi nhớ như ký Nguyễn Tuân, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đích thực là những tác phẩm văn học.

Nhìn vào hai tập sách Rất nhiều ánh lửa (1979) và Ai đã đặt tên cho dòng sông (1985), điểm qua mục lục các bài viết, có thể nhận ra một dấu hiệu phổ biến quen thuộc của người viết ký: Đi đến nhiều nơi khác nhau. Từ Huế, sau ngày đất nước thống nhất, Hoàng Phủ Ngọc Tường rộng dài bước chân đến Quảng trị, ra sông Hồng, về đất Mũi, ngược lên Bắc, dọc ngang khắp các miền Tổ quốc, rồi lại trở về vòng quanh non nước xứ cố đô. Mỗi nơi đến một thời điểm để lại những sự kiện của nơi ấy, thời điểm ấy trong mỗi bài ký được biết ra kịp vào lúc ấy. Nhà văn có mặt bên hàng rào điện tử khi trận chiến vừa im tiếng súng mở ra một trận chiến không tiếng súng cũng đầy nguy hiểm, hy sinh. Anh đến giữa một lớp “bình dân học vụ” ban đêm bên Cồn Hến trong những ngày đầu mới giải phóng. Anh lên rừng hồi chứng kiến cảnh “thằng Hác” chết dưới gốc hồi một cái chết nhục nhã, phi lý, làm phân bón cho cây. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đi, đã thấy và đã viết những gì thấy trong khi đi. Chỗ này anh giống tất cả những người viết ký khác. Vậy thì anh khác người ra sao để thành đáng nhớ, đáng quý?

“Vâng, thuở ấy sông đã xanh như bây giờ, như đã xanh từ thuở Việt Thường. Tôi là người thư sinh đất Thăng Long, theo đám cưới Huyền Trân qua đây giữa một ngày dòng sông bồi hồi son phấn kinh thành. Thuở ấy, dòng sông Châu Hóa còn hoang dại, chim nhạn đậu đầy bãi, hoa tầm xuân mọc chen với cỏ lau, chính là hoa tường vi thơm ngát những khu vườn bây giờ. Tôi qua đây, yêu mến dòng sông nên ở lại, dẫy cỏ, lật đá, trồng cây từ buổi ấy. Sau bảy trăm năm trôi qua, mỗi tấc đất khát bỏng này đã uống biết bao nhiêu mồ hôi và máu. Tôi nhận ra ở mỗi con người quanh tôi, trĩu nặng một nỗi lòng thương cây nhớ cội, và nét điềm tĩnh của mảnh đất mà họ đã cày cuốc và gieo trồng”. Đoạn kết in chữ ngả của bài Hoa trái quanh tôi này cung cấp cho người đọc cái nhìn phát giác về đặc điểm nổi bật và xuyên suốt ngọn bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ký không vụ bề ngoài sự kiện, mà đi vào bề sâu sự kiện. Những sự kiện trong ký của anh vừa thực tế, cụ thể lấy thẳng từ cuộc sống, lại vừa lung linh, ảo ảnh dưới ánh sáng lịch sử - văn hóa được chiếu rọi một cách bất ngờ, lý thú. Vâng, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là ký văn học bởi vì cái chất lịch sử - văn hóa đó. Đọc đoạn trích trên câu văn, mạch văn cuốn hút ta như bản nhạc, lời ca, đồng thời ta được khoái cảm thưởng thức dư vị lịch sử thoảng lại từ cõi Việt Thường, Châu Hóa, bồi hồi xúc động nỗi lòng thương cảm nàng Huyền Trân và tổng hợp lại tất cả là ý niệm cảm nhận hình dáng con sông Hương gắn chặt với kinh đô Huế trong tổng thể các đặc điểm lịch sử - văn hóa phong phú và lãng mạn của nó.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là người am hiểu cổ sử và cổ văn, lại có một vốn hiểu biết khá rộng về lịch sử và văn hóa phương Tây. Dễ hiểu với thể ký anh có được khoảng sân rộng để phát huy đến mức cao nhất sở trường, thế mạnh này của mình. Bất cứ viết về cái gì và viết về nơi đâu, tôi thầm nghĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đặt bút xuống trang viết khi đã tìm được mạch liên tưởng của nơi này với nơi kia, hôm nay và ngàn xưa, nhất thời và muôn thuở và khi đã quyết được với mình là từ trang viết đó khả dĩ có được một chút gì đấy còn lại với người, với đời cho dù sự kiện đã vĩnh viễn bị vùi lấp trong dòng thời gian. Nói về sự gắn bó của sông Hương và thành phố của nó, nhà văn muốn mượn hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng Kim - Kiều để so sánh “tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”. Trong một mức độ nhất định, cũng có thể nói được như vậy về sự gắn bó của Hoàng Phủ Ngọc Tường và thể ký. Ý muốn vượt ra khỏi những ràng buộc giới hạn của thể loại và tìm ra những khả năng mới của nó. Tác giả - người trình bày, người thuật việc, thành tác giả - người tâm sự, người giãi bày. Ký không chỉ là ký, mà còn là sử, là triết lý, là cổ thi. Tôi không nghĩ mình quá lời khi nhận xét như thế về cây bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Cố nhiên, so với bậc thầy Nguyễn Tuân thì Hoàng Phủ Ngọc Tường tài nghệ chưa bằng. Ở họ Nguyễn ký đã trở thành một nghệ thuật nghề văn khó có lại. Ở họ Hoàng ký đang là một xu hướng tự khẳng định có tính sáng tạo. Hãy giở bất kỳ bài ký nào của anh ra và chú ý dù chỉ một biện pháp liên tưởng thôi. Liên tưởng là gợi mở, là gắn mối những sự việc khác nhau trong không gian và thời gian về cùng một bình diện dưới lực hút quy tụ của cảm xúc và suy nghĩ của nhà văn để mở ra khác nhau những chiều so sánh, đối chiếu trong tâm thức tiếp nhận của người đọc. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động toàn bộ vốn tri thức lịch sử và văn hóa đủ cả Đông Tây kim cố vào từng bài viết, tạo nên những liên tưởng vừa rộng, vừa sâu. Anh nói đến điều chảy lặng lờ của sông Hương khi ngang qua thành phố bằng cách so sánh gợi lại một kỷ niệm khi lần đầu thấy sông Nêva cuốn trôi những tảng băng, từ đó ngược dòng lịch sử nhân loại nhắc tới một ý tưởng triết học của Hêracơlít lấy hình ảnh dòng sông chảy, qua bấy nhiêu hồi ức liên tưởng ấy để trở lại với con sông Hương nhẹ nhàng, lặng lẽ. Anh viết: “Đấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hao đăng, bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng” (Ai đã đặt tên cho dòng sông)Cái lặng lờ của dòng sông, như vậy, không còn cái lặng lờ của nước nữa. Đoạn kết bài Rừng hồi đầy ý nghĩa và sâu sắc cũng chính nhờ có sức liên tưởng chính xác và mạnh mẽ của tác giả. Nhìn cái xác “thằng Hác” (tiếng Tày của người Trung Quốc) bị đạn chết dưới gốc hồi, trong đầu tác giả bật nhớ lại một mẩu tự sự của Kim Thánh Thán có lần đã ngồi tính được mấy niềm vui trong đời. Mượn một cách tính niềm vui đầy tính nhân tạo của Thánh Thán, nhà văn đưa thêm cái ý vị triết lý nhân sinh vào lòng vui đến hả hê của mình trước sự đại bại của kẻ thù.

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đan dệt những liên tưởng các chiều lịch sử - văn hóa như vậy đem lại nhiều nguồn thông tin cho người đọc. Thông tin tư liệu xác thực của thực tế. Thông tin trí thức của các ngành khoa học xã hội. Thông tin thẩm mỹ của những rung động cảm xúc. Người phát thông tin ở đây là tác giả không phải trong vai trò người chứng kiến, người kể lại, mà đóng vai trò nhân vật lịch sử, nhân vật văn hóa đã thể nghiệm cuộc sống, bây giờ muốn được giải bày để chiêm nghiệm cùng người đời. Do đó tính thời sự, cấp thiết của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là ẩn chứ không phải lộ, là ngầm chứ không hiện, là tỉnh bề sâu chứ không phải động bề nổi. Đó là tính thời sự của cảm xúc tâm hồn hơn là tính thời sự của thời gian, địa điểm. Phê bình Hoàng Phủ Ngọc Tường không hướng ký vào những vấn đề nóng hổi của thời hiện đại thì vừa oan cho anh, vừa không đúng với anh. Tôi chắc chắn có một điều là ngòi bút ký của anh không thích dụng, không có đất tung hoành nếu như đó chỉ là những bài ký kể về việc khô khan máy móc, thiếu đi những mạch ngầm liên tưởng cần thiết, do đó chỉ gượng ép khái quát lên những suy nghĩ, nhận xét ồn ào nhiều hơn là sâu lắng. Tôi nói điều này theo cách phân chia của tôi là có hai loại ký - ký văn học và ký báo chí. Không phải phủ nhận giá trị, tác dụng của loại thứ hai trong một khoảng thời gian bó buộc nhất định loại này không vượt được cái ranh giới nghiệt ngã thời gian tính cụ thể đó - tôi vẫn nghiêng về loại thứ hai hơn tác động lâu dài vượt qua cái cụ thể - định lượng để thành cái cụ thể - định tính. Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971) một bên, Rất nhiều ánh lửa và Ai đã đặt tên cho dòng sông một bên - đó là hai chặng khác nhau của Hoàng Phủ Ngọc Tường để khẳng định mình với tư cách nhà văn đích thực theo nghĩa nghệ thuật của danh từ. Không vượt được quan mình ở chặng thứ nhất anh đã là không phải nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện nay.

Cây bút này nổi bật một đặc điểm nữa; chất Huế. Trước hết là những bài ký dành riêng cho cảnh vật và con người xứ cố đô. Ai đã đặt tên cho dòng sông, Về chiếc Panh xô và khẩu súng của Trường, Hoa trái quanh tôi… là những bài ký hay, giàu cảm và suy tư. Nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế, hiểu Huế thì đó là một lẽ đương nhiên. Tôi muốn đi xa hơn tìm một căn nguyên thầm kín để cắt nghĩa cho sự thành công đầy mỹ mãn của những trang viết ấy: Phải chăng ở đây đã có một sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế với một tâm hồn nhà văn dễ rung động, nhạy cảm, tinh tế. Phải là sự tương giao, correspondance, đến mức hòa quyện chặt chẽ mới sinh ra được những ánh văn tài hoa không để một lần thứ hai viết được như thế. Ngỡ như không thể nào khác được: Viết về sông Hương là như vậy, viết về “văn hóa vườn” ở Huế là như vậy. Đó thực sự là những áng văn, tôi lại nói mình không quá lời đâu, vì câu chữ được chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo đẹp đẽ, vì cảm xúc phong phú bất ngờ mới mẻ. Nhà văn là người làm văn phải coi sóc đến văn khi viết. Huống đây Huế lại là một đối tượng rất văn và nên văn. Hoàng Phủ Ngọc Tường bằng những bài viết về Huế đã làm đẹp thêm thành phố của anh - đúng, thành phố của anh trên trang viết không giống của ai và không ai có, làm vẻ vang thêm truyền thống lịch sử và văn hóa của thành phố Huế trong tổng thể phức hợp đời sống của nó nhìn qua con mắt của Hoàng Phủ Ngọc Tường dường như là một con người đầy trầm tư mơ mộng không ngừng trăn trở từ quá khứ vươn về hiện tại, thích lặng lẽ, không ồn ào, thích thâm trầm không phô trương. Nói Huế nói sông Hương, nhà văn muốn nói nhiều hơn chuyện xứ sở, một vùng đất, mà nói đến chuyện con người, chuyện lẽ sống ở đời qua bao thăng trầm biến thiên của thời gian và nhân thế. Mượn cách nói chính của nhà văn tôi muốn nói là tôi có một dòng văn học về Huế - “và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” - anh thuộc trong các nghệ sĩ đó.

Chất Huế của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường vượt ra ngoài phạm vi chỉ cái cụ thể riêng biệt của Huế thành như một tính chất văn phong của nhà văn. Anh thiên về nhìn con người, sự vật, sự kiện được phản ánh dưới góc độ lịch sử - văn hóa như đã nói và qua lăng kính của một sự cảm nhận dịu êm, nhẹ nhàng. Chất thơ bàng bạc trong ký của anh nếu có giúp mở rộng trường liên tưởng của mạch văn thì cũng không phải không có phần làm nhẹ sức tác động của sự kiện. Diễn tả cái ước vọng chế ngự cát của người dân vùng cát Quảng Trị, anh viết “Ước vọng ấy bắt đầu mọc (mầm) trong tâm hồn người nông dân từ khi còn là một cậu bé chăn trâu, lặng lẽ ngồi ngắm đôi mắt trong suốt của con trâu già, trong đó bao giờ cũng hiện bóng cái vệt trắng lạ lùng ấy một khi con trâu no cỏ, nghiêng đầu ra phía đồng cát ngửi gió mặn từ biển thổi về” (Chế ngự cát). Chi tiết quan sát thật tinh, nhưng đưa vào đây không thật thích ứng nó như cảm giác vuốt ve con mắt hơn là cái nhìn thật của cơ quan nhìn. Cũng như trong bài này, đoạn liên tưởng quá khứ về những khách lữ hành muôn đời đã từng đi qua dải cát miền trung, nhắc đến Cao Bá Quát nhà văn nói đúng bầu tâm sự của ông, nhưng cho rằng đọc “Bài ca đi trên cát” của Cao “thấy nỗi sợ cát của người bộ hành ngày xưa vẫn còn in dấu sâu sắc đến như thế” thì hơi khiên cưỡng, vận vào. Tôi muốn gọi tính chất văn phong này của Hoàng Phủ Ngọc Tường là nét mờ - viết về Huế mà trần trụi quá thì thành ra thô thiển, nhưng viết về những vùng khác Huế mà vẫn “mờ” đi thì lại không đúng và không hay.

Cái khác người của Hoàng Phủ Ngọc Tường là gì để cũng cùng đi và viết ký như nhiều người khác mà anh lại viết thành công, trở thành cây ký xuất sắc của văn học ta? Năm tháng mải miết trôi, dòng sự kiện đổi thay nhanh chóng, một phần các trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng rơi rụng, chìm mất như bao nhiêu trang của các tác giả khác. Nhưng anh vẫn có phần của mình còn lại - phần ký tâm hồn. Câu hỏi tôi nêu lên như một dẫn dắt tìm hiểu. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự cho câu trả lời. Có một năm anh đi nhiều, đi dài đến các vùng thực tế đất nước trở về Huế. “Những sự kiện thật xô bồ trong hai cuốn sổ dày đã ghi đến hết trang cuối nhưng chữ nghĩa thì cứ bò qua dưới mắt tôi như một bầy kiến, không hồi hộp, không vang động, tôi ngồi vào bàn, từng chốc lại đứng dậyHình như Gô ganh từng nói rằng ông ta chỉ có thể bắt đầu vẽ khi đã ngoảnh mặt về phía khác, để khỏi bị cái bên ngoài lấn át” (Hoa trái quanh tôi).  Thế là rõ: ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là từ thực tế thoát ra khỏi thực tế, sau khi ngoảnh vào lich sử văn hóa hiện trở ra đời. Tôi nghĩ tiếng Việt thần diệu không vẩn đục vẫn giữ nguyên ý nghĩa tiếng “cây” để nói về anh: cây ký. Mong anh tiếp tục viết là anh.

PHẠM XUÂN NGUYÊN
Nguồn: Cửa Việt


NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG: ĐÃ VIẾT - ĐÃ CHƠI VÀ ĐÃ SỐNG

Bạn bè nói ông Sáng ham chơi. Ông đi nhiều, nhậu khoẻ tới mức khiến nhiều người tự hỏi, chẳng hiểu ông sáng tác vào lúc nào. Đồng nghiệp văn chương lại trầm trồ, rằng ông Sáng có sức làm việc đáng nể. Số trang viết của ông nhiều tới mức khiến không ít người thắc mắc, rằng viết khỏe đến vậy thì còn đâu thời gian rảnh mà lang thang, thu nạp vốn sống. Chỉ tác giả “Chiếc lược ngà” biết rõ, với ông, hai khái niệm ấy không thể tách rời: “Chơi để viết và viết để chơi. Đơn giản vậy thôi”.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Viết

Nhận xét về “một trong những con khủng long quý hiếm của nền văn học thời chiến trận mà tác phẩm không có hận thù”, nhà văn - nhà phê bình văn học Ngô Thảo tổng kết bằng một câu ngắn gọn nhưng không thể đầy đủ hơn: “Nhà văn sinh ra vốn được mặc định phải gánh trên vai rất nhiều trọng trách. Riêng ông Sáng chẳng chịu gánh cái gì nhưng mang lại một gánh sách cho đời, âu cũng là một trường hợp đặc biệt”.

Nói ông mang lại cả gánh sách không sai, khi nhìn vào một danh sách rất dài các tác phẩm văn xuôi (Con chim vàng,Người quê hươngNhật ký người ở lạiĐất lửa, Chiếc lược ngàBông cẩm thạchCái áo thằng hình rơmMùa gió chướng, Người con đi xa, Dòng sông thơ ấuBàn thờ tổ của một cô đàoTôi thích làm vua25 truyện ngắnParis - tiếng hát Trịnh Công SơnCon mèo của FoujitaNhà văn về làng….) cũng như các kịch bản phim điện ảnh – truyền hình (Cánh đồng hoangPho tượngCho đến bao giờMùa nước nổiDòng sông hátCâu nói dối đầu tiên, Thời thơ ấuGiữa dòngNhư một huyền thoạiCon khỉ mồ côi và mới nhất là 30 tập phim truyền hình Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt….).

Vài năm về trước, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã chuyển về quận bảy (Thành phố Hồ Chí Minh). Mảnh đất ngoại thành với căn nhà cũ nát mà ông mua ngày nào, giờ qua bàn tay cậu con trai cả là kiến trúc sư đã biến thành căn biệt thự ba tầng lầu thoáng đãng, yên bình. Khoảnh sân nhỏ trước nhà rợp bóng mát cây sa - kê, chiếc bàn nhỏ không bao giờ thiếu ấm trà Thái Nguyên đậm đà, thức uống ông trót nghiện từ những ngày sống và làm việc ở Hà Nội. Ông lặng lẽ ngồi đó, làn khói thuốc mỏng mảnh vờn quanh mái tóc bạc trắng như cước của tuổi bát thập. Nghe ông bạn thân Ngô Thảo bình luận, ông trầm ngâm nhìn tôi, gật đầu: “Chơi chữ thú vị đấy”.

Tự nhận “viết để chơi”, nhưng Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn làm việc cực kỳ nghiêm túc. Trong Kỷ yếu Hội Nhà văn Việt Nam, ông tự bạch: “Tôi bắt đầu cầm bút năm 1952, hồi còn ở rừng U Minh đánh Pháp. Mãi tới 1956, truyện ngắn đầu tiên Con chim vàng mới được in trên báo Văn nghệ. Đã hơn nửa thế kỷ cầm bút, có một số tác phẩm, một vài giải thưởng nhưng tôi luôn tự hỏi, mình đã thật sự là nhà văn hay chưa? Đó là lời tự vấn nghiêm túc và khắc nghiệt. Tôi đã, đang và sẽ trả lời trên trang viết”.

Trong cuộc trò chuyện hôm đó, ông tâm sự với kẻ hậu sinh- là tôi - rất nhiều điều gan ruột. Ông bảo, mình chỉ có thói quen viết tay. Cũng đã có lần thử dùng máy tính, nhưng nhìn cái màn hình là thấy mất hứng. Ngày còn trên rừng, ông toàn ngồi võng sáng tác. Bản thảo hoàn thành là nhân viên điện đài chuyển ngay ra Hà Nội. Vì thế, chỉ sau một tuần, người dân Nam Bộ đã được nghe Chiếc lược ngà qua sóng phát thanh.

Viết, với ông, là chép ra giấy những điều đã nghĩ rất chín trong đầu. Nhiều truyện đã theo đuổi ông cả chục năm nhưng thấy chưa chín nên nhất định chưa đặt bút. Ông thai nghén những tác phẩm mới của mình mọi lúc, mọi nơi. Đang uống rượu, đang hàn huyên với bè bạn ở quán cà phê vỉa hè hay đang ngồi xe taxi, những cốt truyện, chi tiết vẫn không ngừng ám ảnh ông. Ông cười, đời văn có chút thành công nào là nhờ chịu đi, chịu học. Tuổi trẻ cứ phơi phới theo chân bộ đội, lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ cứ thế nhập vô mình, rồi bước vào trang viết, riết rồi biến thành nét riêng không trộn lẫn.

Ông cũng bảo, “Tôi mê chi tiết. Viết văn mà không có chi tiết đắt thì giống y chang xã luận còn gì. Tôi nghĩ, văn học là tổng hợp của những chi tiết. Mà chi tiết trong đời sống thì chẳng ai có thể sáng tác được. Tôi luôn tránh dùng cụm từ đi thực tế sáng tác, bởi phải sống thật trong thực tế mới có đủ vốn liếng để viết. Vào chiến trường, bom đạn đâu biết anh là nhà văn mà chừa ra. Cũng nhờ những chuyến đi, tôi mới biết xẻ dọc Trường Sơn dù sao cũng khó chết hơn bởi đi chút, nghỉ chút. Nhưng hành quân trên đồng nước Cửu Long thì đừng hy vọng nghỉ ngơi. Trực thăng luôn soi đèn, Dakota thả pháo sáng, đi giữa đêm vẫn phải ngụy trang. Nấu cơm không được có khói, tắm sông không để lại gợn sóng, con gà trống được đạp mái nhưng không được phép gáy… Vì thế, tôi mới có những cây sứ cùi, mới có chi tiết cô giao liên bán bánh tằm rất đắt hàng vì người ta đồn cô se bánh bằng cái bắp vế của cổ (truyện ngắn Xã đội trưởng), anh Bảy Ngàn cởi quần trỏ c. lên trời trêu thằng lái trực thăng cho bõ ghét (truyện ngắn Một chuyện vui). Rồi vì gái điếm vô đồn Mỹ, nổi hứng xin lính cho bắn thử mà khá nhiều bộ đội ta thương vong vì pháo đĩ…. Những hạt vàng ấy, tôi tài cán cỡ nào mà hư cấu cho nổi”.

Chơi

Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn mang đậm đặc chất anh Hai Nam Bộ, “làm hết sức, chơi hết mình”. Ông chậm rãi kể tôi nghe, lan man đủ chuyện thú vị, từ chơi tới nhậu.

“Hồi mới tập kết ra bắc, người ta biết tới tôi vì chức vô địch giải bóng bàn chứ không phải vì tập bản thảo Đất lửa cất dưới đáy ba lô. Trước đó, tôi nổi tiếng về tài chơi đàn băng-giô, rồi còn tập tọng sáng tác nữa đấy. Nhớ ca khúc đầu tay, ca từ chiều mòn sương vương bị chỉ huy phê bình, tôi thất vọng quá nên mới bỏ nhạc quyết định chuyển qua viết văn đấy chứ. Nhưng âm nhạc luôn là yếu tố không thể thiếu trong đời tôi. Đất lửa thành hình từ giai điệu Giọt mưa thu tôi nghe một đồng đội huýt sáo trong lúc chờ qua lộ Cái Sắn, đồn bốt giặc đóng giăng giăng. Sau này, tôi vẫn có thói quen nghe nhạc khi ngồi vào bàn viết. Nhận nhuận bút kịch bản được ba nghìn đô-la, mang mua đất thì giàu to nhưng tôi quyết định mua cây đàn piano cho Dũng (đạo diễn điện ảnh Nguyễn Quang Dũng) học nhạc. Ông Lân “kính”, chủ nhà hàng Lotus chắc vẫn chưa quên hình ảnh tôi chạy xe gắn máy chở hai thằng con trai (đều đặn hai đêm một tuần trong vòng mấy năm trời) tới tầng hầm trong quán ông thưởng thức nhạc bán cổ điển. Sự cần mẫn nghe nhạc của ba cha con đã khiến khối vị khách ngạc nhiên đấy”.

Ông cười hiền: “Đã ngoài 80 nhưng tôi vẫn chơi hoài. Vài năm trước, ngày của tôi luôn bắt đầu nơi quán cóc cà phê lề đường. Ngồi với đủ loại người, nghe đủ loại chuyện. Giờ về nhà mới, xa trung tâm nhưng bạn bè gọi đi nhậu là tôi hiếm khi từ chối. Bạn rượu bây giờ phần đa đều ít tuổi hơn tôi. Ngày còn trẻ, tôi chọn chơi với mấy ông già để học hỏi. Giờ họ lẫn cẫn, già lão y như tôi, học gì nữa. Vì thế, tôi chọn ngồi với người trẻ, họ sẽ bắc nhịp cuộc sống hôm nay để mình không trở nên lạc hậu. Nói vậy thôi chứ dù đã ở tuổi bát tuần, tôi vẫn phải lao động, để cái đầu không bị mụ mẫm. Năm 2008, tôi vẫn còn rong ruổi làm một chuyến đi khắp miền tây, cùng một doanh nghiệp xây lại kiên cố những cây cầu khỉ cho bà con đỡ cực. Mới đây, để hoàn thành kịch bản 30 tập Khoảnh khắc Võ Văn Kiệt, tôi vẫn phải về lại những địa danh đã gắn với ông Sáu Dân năm xưa lấy cảm xúc. Mọi người hay đùa tôi, “già rồi mà vẫn còn gân lắm”.

“Nhớ lần chuẩn bị đi B, tôi ra quán cơm tám giò chả nổi tiếng ở phố Huế, bao nguyên một bàn và mời khách chung quanh cùng ăn. Có người thưa tới tận Hội Nhà văn Việt Nam rằng tôi chơi ngông, lãnh đạo Hội cười xòa, “cha Nam Bộ sắp vào chiến trường, còn ít tiền cho xài nốt chứ để làm chi”. Bạn bè bảo, đến chơi cũng đúng kiểu anh Hai, bất cần, phóng khoáng, tôi nhớ mãi”.

Nghe tôi tò mò, vặn vẹo chuyện nhậu của ông, vốn cũng nổi tiếng không kém những trang viết, nhà văn cười lớn. “Những ngày lặn lội khắp chiến trường, tôi luôn là người gan lỳ nhất. So tinh thần với lính tráng thì tôi không dám, nhưng đâu có súng nổ là ở đó có tôi. Có người bảo, chắc nhờ rượu, tôi thấy cũng có lý. Có lần, đưa tụi tôi về căn cứ, cô giao liên ôm theo cây súng trường. Tôi nói: Dẹp, cân lên xem súng nặng mấy ký rồi đổi ngang cho tôi từng đó ký rượu, uống cho đã. Đang băng rừng mà gặp trực thăng thì rất nguy hiểm, có tí men rượu, mình không còn sợ, chân tay đỡ run”.

“Tôi mang tiếng chơi nhiều, nhờ vào rượu là chính. Mà lạ thật, tuổi già cái gì cũng xuống, chỉ mỗi tửu lượng là lên. Tôi uống nhiều nhưng rất hiếm người chứng kiến tôi say. Nhậu giờ đã trở thành nhu cầu giao tiếp, tôi uống nhưng nghe nhiều hơn nói, vì dân nhậu, khi đã sương sương thường không nói dối bao giờ. Tôi học được nhiều, nảy ra nhiều ý tưởng hay cũng từ bàn nhậu”. Và như một định mệnh, ông đã chọn cách “từ biệt thế giới này, sau một giấc ngủ trưa dài, ngay sau bữa rượu trưa” - như nhà thơ Nguyễn Duy bàng hoàng thông báo với đông đảo bạn hữu, khi nghe tin ông đột ngột qua đời.

Và sống

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn quảng giao. Ông chơi nhiều, quen nhiều và thân thiết với rất nhiều người, thuộc nhiều giới, nhiều lứa tuổi khác nhau. Ông bảo, trong cuộc đời, ông luôn chọn cách sống hồn nhiên, vô tư, không đối phó với bất cứ ai, bất cứ điều gì. “Đừng bao giờ nghĩ tới điều xấu, đừng làm hại bất kỳ ai. Viết văn thì đừng nghĩ đến tiền. Cứ sáng tác bằng toàn bộ tâm sức, đừng khoác lên vai nhà văn những trách nhiệm, nghĩa vụ quá nặng nề. Chơi giúp tôi viết rất tự nhiên, không gò bó, không câu nệ triết lý, tư tưởng. Viết giúp tôi được đi, được chơi, được trải nghiệm và được sống trọn vẹn hơn. Cuộc đời tôi, vậy cũng đã thỏa nguyện lắm rồi”.

 HUYỀN NGA
Nguồn: NVTPHCM



THANH THẢO VỚI TRƯỜNG CA

Kẻ viết giống như người đi đường mà mỗi bước đi lại vung vãi tác phẩm của mình cho đời. Đến cuối đường, ai cũng cố lượm lặt những gì viết ra, tỉ mẩn sắp lại mong có tấm có món để đời. Số đông chỉ được mớ hổ lốn, đỡ hơn, thì được mẹt hàng xén. Dạng này khó thành tác giả (dù có thể có thẻ hội viên). Số còn lại, cực ít. Cái họ tung ra như những miểng vụn bừa bộn, đôi khi văng rất xa nhau, nhưng xem kĩ, mỗi miểng kia lại là một mảnh ghép của một bức tranh toàn vẹn. Chỉ dạng ấy mới thực là tác giả. Trường hợp lớn, thì họ đã là tác giả ngay từ miếng ghép đầu tiên.
Nhà thơ Thanh Thảo

Điều gì khiến những sáng tác rời rạc, rải rác, bề bộn kết thành một bức tranh duy nhất, những mảnh vỡ gắn thành nhất thể? Kẻ viết nào mới là tác giả ?

Mượn cách nói của Chế Lan Viên: kẻ ấy phải có cái lõi trầm trong ruột. Khi trong ruột đã có lõi trầm, thì mỗi cái được viết ra, dù rất không đâu, rất xa nhau cũng đều là một làn hương từ một thứ trầm duy nhất đó.

Lõi trầm ấy còn có thể là gì khác hơn một tư tưởng nhân văn riêng? Mỗi tác giả chân chính xuất hiện là sự cất tiếng của một tư tưởng nhân văn thực sự nào đó. Không có điều này, anh chỉ là kẻ a dua, là bản sao, là cái bóng của ai đó mà không tự biết, cái viết ra sẽ chỉ là những vay mượn, vá víu không tự biết (dù có thể rất hồn nhiên)

Phần cốt lõi nhất của tư tưởng nghệ sĩ là gì nếu không phải là những quan niệm riêng ? Quan niệm nào vậy ? – Quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ. Nếu quan niệm nhân sinh trả lời câu hỏi về hạnh phúc, thì quan niệm thẩm mỹ trả lời câu hỏi về cái đẹp. Cả hai tìm thấy nhau trong cùng một băn khoăn chung: thế nào là giá trị người, giá trị sống. Mỗi nghệ sĩ chân chính phải là một niềm băn khoăn, một câu trả lời. Tất nhiên, bằng sáng tác của mình. Băn khoăn ấy là cái lõi trầm trong ruột người nghệ sĩ. Dù có thể anh ta không ý thức rõ về nó, dù có khi bất lực trước nó. Kẻ viết có thành tác giả hay không, lớn hay bé, phụ thuộc vào điều anh có hay không mối băn khoăn ấy và tầm cỡ nó thế nào.

Trong thế hệ của mình, Thanh Thảo thuộc số ít người viết đã có băn khoăn như thế ngay từ sáng tác đầu tay:

Hạnh phúc nào cho tôi ?
Hạnh phúc nào cho anh ?
Hạnh phúc nào cho chúng ta ?
Hạnh phúc nào cho đất nước?
Những câu hỏi chưa bao giờ nguôi được.

                           (Thử nói về hạnh phúc)

Đó cũng là những câu hỏi đeo bám suốt đời thơ Thanh Thảo. Cho đến tận sáng tác gần đây nhất, trường ca Metro, sau 40 năm lăn lộn trường văn trận bút, câu hỏi ấy đâu đã chịu buông tha anh: “nhưng hạnh phúc là gì?”,”không ai đủ sức trả lời / dù còn cả cuộc đời trước mặt” . Cũng đeo bám như thế là băn khoăn khôn cầm về cái đẹp. Lúc này: “Cái đẹp là sự thật”, lúc kia: “Nhìn cái đẹp hiện diện, thơ linh cảm cái đẹp sẽ hiện diện”, chỗ khác:“Cảm giác về cái đẹp thường gắn liền với cảm giác nuối tiếc, nó hướng ta nhìn lại cái đã qua bằng cái nhìn sâu xa hơn”(Khối vuông rubich)v.v… Chúng là những băn khoăn song sinh, song hành. Cả hai thường nhập làm một trong niềm băn khoăn về giá trị sống, giá trị người:“Mong một ngày hiện rõ / chất thật mỗi con người”, “phải trả giá cho mỗi phẩm chất người / dù rất nhỏ” (Đêm trên cát)... Toàn bộ sáng tác Thanh Thảo, xét đến cùng, mượn cách hình dung của chính anh, cũng là một khối rubích, mà mỗi tiếng thơ tựa một ô màu, tất cả những ô màu ngỡ rất hỗn loạn, kì thực lại xoay quanh một cái trục bí mật duy nhất là mối băn khoăn ấy thôi.

Vỡ lẽ của Thanh Thảo cho mối băn khoăn ấy là gì? Cất công tìm kiếm, người đọc sẽ thấy ẩn trong thế giới nghệ thuật phong phú của anh hai chìa khóa: lấp lánh và lặng lẽ. Chơi chữ chăng? giật gân chăng? Không. Lặng lẽ tỏa sáng, lặng lẽ làm người, đó là cái đẹp và hạnh phúc, đó là giá trị sống, giá trị người theo quan niệm Thanh Thảo. Trong cái thế giới ồn ào đầy rẫy những bạo tàn, phàm tục, giả trá này, cái đẹp thuộc về sự lặng lẽ. Những tinh thể quí giá thường kết tinh trong lặng lẽ. Những phẩm giá cao quí thường lấp lánh trong lặng lẽ. Vẻ đẹp cứ lặng lẽ làm chính nó. Con người cứ lặng lẽ là mình. Không màu mè, không ồn ào, không phô phang, không diễn. Không được ai biết đến, không cần ai biết đến. Hiện diện thế là đẹp, được sống như thế là hạnh phúc. Lặng lẽ tỏa sáng là vẻ đẹp thiên nhiên, lặng lẽ làm người là vẻ đẹp nhân cách cuốn hút hồn thơ Thanh Thảo. Chẳng phải thế sao ? Ai đọc cũng có thể thấy vô vàn những hình sắc khi thì bất ngờ hực sáng, lấp lóa, lấp loáng, khi thì long lanh, lóng lánh, lấp lánh trong cỏ cây, sông nước, biển núi, mây rừng của thế giới thi ảnh Thanh Thảo, dù ở thời trận mạc hay thời bình, dù trong quá khứ lịch sử hay trong cuộc sống đương thời. Ai đọc cũng sẽ thấy những vẻ đẹp người mà Thanh Thảo cả đời say mê khám phá như lòng nhân hậu, đức hi sinh, đặc biệt là tính can đảm, trung thực, nghĩa khí của thế giới nhân vật trên mọi chặng thơ anh, dù của những người lính hay người mẹ, nghệ sĩ hay nghĩa sĩ, nhà thơ hay trẻ thơ… bao giờ cũng hiện ra trong lặng lẽ. Mỗi vẻ thiên nhiên ấy khác nào một giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng/ ! Mỗi chất người ấy khác nào một đạo hào quang ấp ủ trong cõi sâu lặng lẽ của con người ! Lấp lánh mà lặng lẽ, lặng lẽ mà lấp lánh, là giá trị cũng là hạnh phúc, vì thế, nó là vẻ đẹp thơ suốt đời Thanh Thảo. Ngay từ sáng tác đầu tay, nó đã đến với anh. Và anh sẽ cứ tìm kiếm nó, tôn vinh nó suốt cả đời thơ mình. Bởi thế, đó chẳng phải là cái trục bí mật của khối rubích thơ anh sao? chẳng phải cái lõi trầm trong hồn thơ anh sao?

***

Lõi trầm trong hồn thi sĩ chắc chắn sẽ nhạt hương nếu thiếu đi thành phần này: quan niệm riêng về thơ. Quan niệm thơ, quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ của chính kẻ viết bao giờ cũng đồng hành và chuyển hóa lẫn nhau để cùng làm nên cái lõi trầm bí mật của đời thơ tác giả. Có thể xem đó là tam vị nhất thể của một quan niệm nghệ thuật toàn vẹn ở một kẻ viết chân chính.

Trong thơ, kẻ viết nào chỉ quen lối nằm mai phục để chộp từng ý tưởng, từng thi tứ đến từ đâu đó ngoài mình, kiểu ăn đong, chắc chắn không thể đi đường dài. Kẻ đi đường trường tựa như cây lớn, ít bận tâm ở cành nhánh, mà chăm lo nhiều cho gốc rễ. Ngay từ rất sớm, Thanh Thảo đã xem cái gốc của thơ chính là nhân cách thơ. Thơ là sự cất tiếng của nhân cách nhà thơ, đó là xác tín của thi sĩ này. Có nhân cách thơ, tất sẽ ra thơ, có gốc tất sẽ đâm cành. Khi nhân cách nhà thơ lên tiếng, đó đã là thơ rồi. Quan niệm này được anh phát biểu ngay từ đầu những năm 80 thế kỉ trước: “Thơ bắt đầu từ đâu ? Từ ý tưởng, thực tế, từ cái nhìn hay cảm xúc? Theo tôi, thơ phải bắt đầu từ chính nhân cách của nhà thơ, nó là xương sống của cả đời thơ. Sau đó tới tài năng và lao động. Dĩ nhiên chỉ có nhân cách không đủ thành thơ, cũng như chỉ có xương sống chưa đủ thành người. Nhưng sẽ ra sao nếu con người thiếu xương sống ? Đối với nhà thơ, nhân cách vừa là tiền đề, vừa là kết quả của tài năng và lao động. Có một quan hệ biện chứng giữa những điều này(…) Thơ kín đáo ngay ở chỗ nhà thơ khi viết buộc phải phơi trần tâm hồn mình trên trang giấy, ở chỗ nhà thơ không còn nơi trú ẩn nào khác cho nhân cách của mình, ngoài bộc lộ nó thành tâm”[1]. Đây không hẳn là một quan niệm độc đáo, song, chắc chắn là quan niệm đúng đắn. Đáng nói hơn, nó giúp ta lí giải được nhờ đâu thi sĩ có thể đi đường dài với thơ. Khi xem nhân cách thơ vừa là tiền đề, vừa là kết quả của tài năng và lao động, đồng thời thấy rõ có một quan hệ biện chứng giữa những điều này, Thanh Thảo không chỉ đem đến một cách hiểu riêng về nhân cách thơ mà còn hé mở một mong cầu: người thơ thứ thiệt phải sống thơ trước khi làm thơ. Đời sống hàng ngày của một nhân cách như thế, tự nó đã là sự chưng cất, sự kết tinh thơ rồi. Coi gốc của thơ là nhân cách thì trữ lượng thơ của một hồn thơ xem như đồng nhất với số phận người thơ. Chừng nào còn sống thơ, chừng ấy còn nguồn thơ. Phải có một nguồn thơ như thế mới có thể đi đường dài, mới có thể trường kì với trường ca.

Quan niệm về gốc của thơ thường nhất quán với quan niệm về sản phẩm thơ. Coi trọng việc sống thơ, Thanh Thảo cho rằng thơ là dòng sống thực của cá thể từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Một nhà thơ có nhân cách, chỉ cần nắm bắt và thể hiện được những dòng sống thực đó của mình, bản thân nó đã là thơ. Dù từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc kia có thể rất bất chợt, bất định, có vẻ hỗn loạn, nhưng mỗi khoảnh khắc ấy lại bật lên từ một gốc chung, xoay quanh một trục chung là nhân cách người thơ. Do đó, đời sống thực của một nhân cách thơ cũng có cấu trúc tựa hồ rubich. Chỉ cần thành thực phơi trải, tự nó đã là thơ thứ thiệt, thơ quí. Bởi nó là dạng thơ khước từ mọi trang sức thỏn mỏn thường tình. Và Thanh Thảo đã bình tĩnh đem đến cho thi đàn thứ thơ như thế. Người ta đã nhận thấy thơ anh là những dòng sống thực của chính tâm hồn anh. Một dòng sống đầy những đứt nối, bất chợt rất gần với quan niệm của các nhà siêu thực: “âm thanh vỡ vụn mảnh gương lấp lánh trong khuya / nước mắt nhà thơ độc hành / những vệt sao thấm nhanh vào cát/ cát vang khô khốc”,”hãy kêu tới đáy lòng Cao Bá Quát / bàn tay nhà thơ nắm chặt dòng sông / vung thành gươm trên cát bỏng”, “họ lấm láp sình lầy bước vào thơ Đồ Chiểu / họ để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ”, “những cây bàng chợt rùng mình cảm thấy / một khung trời gãy gập của mùa đông”,”những con cá bơi cả vào giấc ngủ / những ngôi sao vàng óng ánh tiếng cười”, “trên khuôn mặt cày sâu những nếp nhăn nghèo đói / ta gặp lại niềm vui trong trẻo của nước mưa” … Nhưng, vẻ “siêu thực” nọ không hẳn xuất phát từ lí thuyết, mà có lẽ từ sự trải nghiệm thơ của bản thân anh nhiều hơn. Những vẻ đẹp sáng của thiên nhiên, của con người cứ lấp lánh trong âm thầm, long lanh trong lặng lẽ rồi bất chợt bừng lên vào khoảnh khắc nào đó, từng khoảnh khắc như thế cứ dệt nên dòng sống thực của hồn thơ, dệt nên mỗi bài thơ Thanh Thảo.

***

Một hồn thơ như Thanh Thảo không thể không bén duyên với trường ca. Bởi dòng sống thế kia chỉ thực sự thoải mái khi thả sức trong một hình thức phóng khoáng với một cấu trúc luôn mở thôi. Mà trường ca chính là một thể đầy hứa hẹn cho hình thức ấy, cấu trúc ấy. Quan niệm và nhân cách thơ của Thanh Thảo đã giúp anh thoải mái marathon với trường ca, mặc sức "đi tới biển" cùng trường ca.

Về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX đến giờ. Người ta đã đưa ra nhiều cách định nghĩa, định danh khác nhau. Người bận tâm phân định nó với những anh hùng ca và sử thi thời cổ. Người loay hoay khu biệt nó với thơ dài, truyện thơ, khúc ngâm. Gặp gỡ có, bất đồng có. Thái độ với trường ca cũng vậy: lắm người hoài nghi, khối người hài lòng, không hiếm người nghiện. Song, bất chấp những phân hóa, chia rẽ, trường ca vẫn cứ trường ca, cả trong nước lẫn ngoài nước. Từ quan sát của mình, tôi thấy khi thơ trữ tình muốn trình bày những suy cảm về những vận động lớn lao, thậm chí kì vĩ của đời sống bằng một hình thức lớn, khi ấy trường ca xuất hiện. Nói gọn hơn, khi thơ trữ tình muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cái kì vĩ thì trường ca bắt đầu lên tiếng. Các trường ca hiện đại của ta manh nha từ thời Thơ Mới, lác đác trong cuộc chống Pháp, rộ lên suốt thời chống Mỹ và bội thu sau chống Mỹ, chẳng phải là một bằng chứng sinh động hay sao?

Không phải thi sĩ nào cũng có thể là tác giả trường ca. Không ít người định dấn thân vào thể này, sau đã bỏ cuộc. Người thì đã lên những đề cương tỉ mỉ cho các bản đại trường ca, cuối cùng đề cương hoen rỉ trong ngăn kéo. Người thì gắng kẽo kẹt cho hết một bản, rồi cạch đến già. Sự ấy cũng thường tình. Trong điền kinh, cùng môn chạy thôi, có người vô địch cự li ngắn, nhưng chìm nghỉm khi marathon. Trong trận mạc, có người giỏi đoản binh mà bí trường trận. Có tạng thơ chỉ sở trường ở những thể vừa vừa trung trung. Có tạng chỉ thực là nó ở những thể nhỏ nhỏ xinh xinh. Hễ họ bén mảng sang thể lớn là lập tức hẫng chân, cụt hơi. Ấy cũng là thường.

Do mấu chốt của trường ca là ở chữ “trường”, nên một tác giả trường ca, theo tôi, ít nhất phải có đủ “tam trường”: trường vốn, trường lực và trường hơi. Vốn trải nghiệm, vốn tri thức, vốn nhân văn phải dồi dào; năng lực sáng tạo hình thức trong ngôn ngữ phải sung mãn ; và phải nuôi được cảm hứng, cảm xúc thật bền, không đuối, không hụt, không cụt. Tam trường đó phải hiện ra thành kiểu tư duy trường ca. Không phải ai cũng có tư duy này! Người có tư duy trường ca thường phải xử lí thật biến hóa mối tương tác giữa những cặp đối cực sống còn này: cái bi - cái hùng, cái kì ảo - cái tả thực, cái kì vĩ - cái đời thường, tính hồn nhiên - tính tổ chức cao, cả đường bay - từng nhịp vỗ cánh… Ở đây, tay nghề rất quan trọng. Nhưng khối người sành sỏi mọi ngón nghề mà vẫn bại. Dường như hơn cả chuyện tay nghề, là chuyện tạng thơ. Trong khi tạng thơ này vất vả đến bế tắc trước những đòi hỏi phản trái đó, thì tạng thơ khác lại thoải mái tung hoành giữa những nguyên tắc gò bó khắt khe kia. Với họ, trường ca cứ tuôn trào dễ dàng như thơ ngắn, thậm chí, còn dễ hơn thơ ngắn. Cứ thế, họ thành cây trường ca, nhà trường ca. Tóm lại, kẻ viết phải có gốc trường ca mới mong thành cây trường ca.

Thanh Thảo đã trường ca ngay từ cái đầu tay. Chẳng phải thế sao? “Thử nói về hạnh phúc” chào đời như một bài thơ ngắn, nhưng nó đã tràn đầy hơi thở trường ca rồi. Những trải nghiệm chiến trường ác liệt, bề bộn được soi chiếu, chưng cất bằng một tầm nhân văn cao, thể hiện trong những băn khoăn về hạnh phúc và giá trị người trước sự sống còn của đất nước, được phơi trải trong một hình thức mở của thơ dài. Đó chẳng phải là những nhịp thở hào sảng của trường ca đó ư ? Và chùm thơ kỉ lục gồm 13 bài được trình làng trên Tác phẩm mới, cũng như tập “Dấu chân qua trảng cỏ” tập hợp những bài thơ ngắn, về thực chất là những mảnh vỡ khác nhau của một bản trường ca. Có thể xem chúng như là những tiền thân, phân thân khác nhau của trường ca “Những người đi tới biển” được viết sau đó. Nói vậy không phải cố vơ vào cho đầy một ôm, mà chính bởi chúng mang một hơi thở chung, một phong độ sáng tạo chung, thuộc một kiểu tư duy chung với trường ca này và với cả những trường ca sau này của Thanh Thảo như “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Bùng nổ của mùa xuân”, “Khối vuông rubich”, “Đêm trên cát”, “Cỏ vẫn mọc”… và mới đây là “Metro”.

Tôi biết giới nghiên cứu đã chỉ ra nhiều đặc sắc của thơ Thanh Thảo. Đã có không ít luận văn cử nhân, thạc sĩ, luận án tiến sĩ ngữ văn đào sâu vào các bình diện khác nhau của trường ca Thanh Thảo như tư tưởng nhân dân, chất tự sự và chất trữ tình, yếu tố hiện thực và yếu tố triết luận, hình tượng và biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu… Bản thân tôi cũng đã viết và hướng dẫn dăm ba cái. Nhưng đọc trường ca Thanh Thảo, nét tâm đắc nhất với tôi vẫn là việc xử lí cặp đối cực này trong tư duy của anh: tính hồn nhiên và tính tổ chức cao. Trong sáng tạo, hai gã này chúa là xung khắc nhau, thậm chí vật lộn nhau. Liệu có cọc cạch mâu thuẫn gì không nhỉ ?

Rõ ràng, một mặt Thanh Thảo xem thơ là dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, nghĩa là đề cao tính hồn nhiên gần như tuyệt đối của thơ. Mặt khác, anh lại được biết đến như một nhà cách tân hình thức, không ngừng săn tìm những cấu trúc mới cho mỗi bản trường ca. Nghĩa là liên tục tìm tòi ứng dụng và phát kiến những hình thái tổ chức tân kì cho thể loại, trong đó có cả những dạng tổ chức rất phức tạp, rất gò bó. Trái khoáy. Vậy mà vẫn đâu vào đấy. Lạ.

Có lẽ, trong các tay bút duyên nợ với thể loại đồ sộ này, Thanh Thảo là người coi trọng và dấn thân vào cấu trúc nhiều hơn cả, thành hơn cả. Khước từ những hình thái tổ chức quen thuộc của trường ca như kéo dài thơ ngắn ra thành trường thi, gia tăng sử kiện để thành sử ca, bám riết vào tự sự để thành truyện thơ, mượn hơi khan để thành khan đời mới, nương theo sân khấu để thành hoạt cảnh thơ, kết những thi khúc rời thành tổ khúc thơ, xâu các trường đoạn thành liên khúc thơ, pha trộn các thể mà thành một hỗn dung thể thức v.v…, Thanh Thảo đã bứt hẳn sang những địa hạt khác để nhập về những hình thái thật phá cách, như giao hưởng (Những người đi tới biển, Bùng nổ của mùa xuân, Trẻ con ở Sơn Mỹ, Đêm trên cát…), rubích (Khối vuông rubích), điện ảnh (Cỏ vẫn mọc), kịch (Trò chuyện với nhân vật của mình), gần đây còn tìm sang cả… metro (Metro). Toàn những cấu trúc lạ hoắc. Cứ y như một lối “chơi” sáng tạo, “chơi” cấu trúc.  Vậy mà, đọc vẫn vào. Người đọc vừa bị cuốn theo dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của mạch thơ, vừa có khoái thú vì đang được dạo trong những công trình kiến trúc lạ, được thưởng ngoạn những cấu trúc tân kì. Nhờ đâu mà những phản trái lại hòa hợp được vậy ? Nhạc trưởng Thanh Thảo đã dùng chiếc đũa chỉ huy nào?  Tôi nghĩ rằng, chiếc đũa ấy chẳng thể là gì khác hơn một năng lực mạnh mẽ ở anh: năng lực phát giác sự hài hòa giữa cái hỗn loạn và cái trật tự.

Tìm kiếm trật tự cho cái hỗn loạn dường như là sở trường lớn của hồn thơ này. Trước hết là trong tư tưởng. Thơ Thanh Thảo, nhất là chất thơ của sự lặng lẽ, chẳng phải là vẻ đẹp của cái trật tự muôn đời giữa sự hỗn loạn đó sao? Chẳng phải toàn bộ thơ anh, nhìn từ mỹ học, chính là mong cầu khôn nguôi về một trật tự nhân văn trước cái loạn của thời chiến và cả cái loạn của thời bình nữa đó sao? Mong cầu ấy cũng là một cái trục bí mật của khối rubich thơ Thanh Thảo vậy.

Nhưng thôi. Hãy trở lại với chuyện hỗn loạn-trật tự riêng trong hình thức. Dòng sống thực vốn đầy những bất định, bất chợt, ngẫu nhiên, ngẫu hứng, ngẫu cảm… là hỗn loạn. Còn những hình thái cấu trúc lại là các dạng trật tự. Phóng túng trong trật tự, trật tự mà phóng túng. Chúng hòa hợp bằng cách nào? Giải pháp của Thanh Thảo: dòng sống thực luôn phải là hơi thở tràn trề trong sinh thể trường ca, còn trật tự vừa là bộ khung sườn ẩn vừa là những đường viền linh hoạt. Dòng sống thực (cảm xúc, ý tưởng, thi ảnh…) thì vẫn phóng túng hồn nhiên, còn tổ chức vĩ mô (cấu trúc hình tượng, cấu trúc chương khúc, hệ thống chủ đề…) trên toàn khối thì phải tuân thủ trật tự. Dường như đó cũng là dạng tổ chức phổ biến trong nhiều hình thức của sự sống thì phải ? Hẳn có người sẽ nghi ngờ về tính tự nhiên, chân cảm trong lối viết như vậy. Họ cho rằng cấu trúc gò bó thế dễ giết chết chân cảm hồn nhiên, và “chơi” cấu trúc thế liệu thơ có còn nghiêm túc? Họ quên rằng, nghệ thuật nghiêm túc nhất cũng ít nhiều mang tính trò chơi. Lí thuyết hiện đại chẳng nói vậy sao! Họ cũng quên rằng, trong âm nhạc chẳng hạn, còn gì gò bó hơn cấu trúc chặt chẽ của một bản giao hưởng ? Nhưng mỗi giao hưởng tuyệt tác vẫn cứ là dòng chảy tràn trề hồn nhiên của cảm xúc âm nhạc đó thôi. Hồn nhiên mà có tổ chức, phóng túng mà chặt chẽ, hỗn loạn mà trật tự, đó là thách thức muôn thuở của việc sáng tạo cái đẹp. Dường như, nghệ thuật chính là việc đi trên những lằn ranh mỏng manh giữa những điều phản trái đó ? Và tài năng chính là người xác lập được sự hòa hợp sống động cho những đối cực đó. Khỏi nói những bản trường ca thành công đã được ghi nhận và nghiên cứu nhiều của anh. Chỉ nói riêng cái vừa ráo mực chưa lâu và mang một dáng dấp hơi hậu hiện đại là “Metro”. Nghĩa lí nào trong cấu trúc này ?  Metro là con tàu chạy ngầm trong lòng đất. Nội điều đó đã có ý nghĩa khi nói về cái tâm thức Trường Sơn vẫn ngầm chảy trong lòng cuộc sống bề bộn, hỗn tạp này rồi. Tuy nhiên, cái đáng nói là, con tàu này có thể và luôn chạy được cả hai chiều trái nhau. Chính tính trái nhau này đã hấp dẫn nhà cách tân. Bằng sự nhạy cảm của một thi sĩ săn lùng hình thái tổ chức cho thơ, Thanh Thảo đã mượn nó để tổ chức nên trường ca “Metro” với hai dòng chảy trái chiều trong nội dung: dòng chảy tới của thời gian và dòng chảy ngược của kí ức. Đúng hơn là có hai dòng thời gian: thời gian sống (với tâm tư, thuộc quá khứ) và thời gian viết (với văn bản, thuộc hiện tại). Cả hai đan cài nhau trong dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của tâm tư thi sĩ đang trầm mình trong những kỉ niệm Trường Sơn với những trăn trở về hạnh phúc, băn khoăn về giá trị sống qua việc duyệt lại những cái được cái mất của dân tộc, của thế hệ và của cá nhân mình trong và sau cuộc chiến. Vì thế, phức điệu mà rành rẽ, tán lạc mà mạch lạc, ngẫu hứng phóng túng mà vẫn theo điệu theo bè. Nói khác đi, anh vẫn lập được trật tự cho sự hỗn loạn. Và đấy chính là một hấp dẫn không nhỏ của bản trường ca này.

Tổ chức cao mà vẫn hồn nhiên, hỗn loạn mà trật tự, kiểu hấp dẫn mang thương hiệu Thanh Thảo đó đâu chỉ ở trường ca này và đâu chỉ riêng ở trường ca !

***

Người đọc đã “phong vương” cho nhiều cây bút xứng đáng. Đã có Xuân Diệu vua Thơ Mới, Vũ Trọng Phụng vua phóng sự, Nguyễn Tuân vua tùy bút, Thạch Lam vua truyện ngắn trữ tình, v.v… Ở triều đại sau, bên cạnh những “vì vua” khác, như Nguyễn Duy vua lục bát, Nguyễn Huy Thiệp vua truyện ngắn, Lưu Quang Vũ vua kịch nói, vv… cũng có thể gọi Thanh Thảo là vua trường ca chứ sao ! Việc phong tặng cho một ai đó, đâu chỉ bằng vào việc người ấy chuyên chú hay viết được nhiều, mà quan trọng hơn cả là ở thành tựu thuộc về hàng đầu của họ.

Ném mình vào thể này mấy chục năm trời bền bỉ, quyết liệt, đến nay, gia tài trường ca của Thanh Thảo, nếu tính chi li, phải vượt con số chục bản. Con số ấy ở một thể loại như trường ca là chưa đồ sộ sao! Anh chỉ tuyển vào đây chín trường ca ưng ý nhất. Có lẽ, thế là đẹp. Đó có phải là chín nhánh cửu long của cùng một con sông trường ca Thanh Thảo không ? Có phải là chín bậc thang anh đã lần lượt bước qua để lên đài không ? Có phải là chín chiếc đỉnh bày trên sân chầu của nghiệp thơ anh không ? Mọi ẩn dụ có thể tới cũng có thể không. Nhưng có điều chắc: đó là chín thi phẩm đầy tâm huyết của một đời sáng tạo mà đứa con thi sĩ đã chọn ra như biện một mâm lễ vật thành kính dâng lên Thầy Má mình, Nhân Dân mình. Lời đề đầu tuyển tập đã nói cùng ta điều đó.

Cách làm tuyển thế, khiến tôi nghĩ tới chàng Lang Liêu xưa.

                                 Văn Chỉ - Làng quốc tế Thăng Long,
                Mùa Hè Kỉ Sửu
CHU VĂN SƠN
Nguồn: NVTPHCM

_________
[1] Văn học trong giai đoạn cách mạng mới, NXB Tác phẩm mới, 1984,  tr. 216-218



QUANG CHUYỀN - NỖI LÒNG CỦA “GÃ NHÀ QUÊ” LÀM THƠ

Như tất cả những nhà thơ quân đội, anh có nhiều thơ về chiến tranh. Với đề tài này Quang Chuyền có những nỗi niềm. Trong thơ anh ít thấy ồn ào tiếng súng đạn nhưng không vì thế người đọc không khó gì để thấy những tàn khốc, mất mát, thương đau của chiến tranh…
Nhà thơ Quang Chuyền

Quang Chuyền làm thơ từ rất sớm. Ngay từ những ngày học phổ thông anh đã có thơ in báo. Năm 1966, khi vừa tròn 21 tuổi, anh tốt nghiệp thủ khoa ngành xã hội Trường trung cấp sư phạm Việt Bắc, khi ấy cả khu tự trị Việt Bắc gồm Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang chỉ có 1 trường sư phạm. Trong thời gian học, anh được hai giáo viên nhà trường, cũng là hai nhà thơ hội viên hội văn nghệ Việt Bắc là Khánh Kiểm và Lương Thanh Nghĩa nhiệt tình giới thiệu về công tác ở Hội. Cũng phải nói thêm, sở dĩ anh nhanh chóng được  nhận về cơ quan văn nghệ của khu cũng lí do Quang Chuyền  là  một đảng viên cộng sản rất trẻ. Được kết nạp Đảng khi còn đang là một học sinh bây giờ như không có gì thật đặc biệt nhưng với ngày ấy thì đó là một “sự kiện”, rất hiếm có nên rất dễ gây niềm tin cho những người làm công tác tổ chức.

Ở Hội, Quang Chuyền được phân công làm phóng viên cho tạp chí Văn nghệ Việt Bắc. Cùng với Quang Chuyền thời gian đó còn có thêm nhà thơ Bùi Công Bính, từ thư kí toà soạn báo Hà Giang chuyển về. Bùi Công Bính từng có riêng cho mình tập thơ “Cả bản nhớ anh” xuất bản từ năm 1960. Hai người hai tính cách. Bùi Công Bính nhanh nhẹn, hóm hỉnh còn ngược lại Quang Chuyền hiền lành, ít nói.

Nhưng cũng chỉ hai năm sau Quang Chuyền đã trích máu làm đơn  tình nguyện xin đi bộ đội. Đang giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhưng cũng phải sau 7 lần làm đơn, nguyện vọng chính đáng của anh mới được cấp trên chấp thuận. Quang Chuyền trở thành lính ở trung đoàn 132 xây dựng đường dây Thống Nhất từ Bắc vào Nam dọc Trường Sơn. Sau đó hơn 2 năm, anh được điều về phòng chính trị Binh chủng Thông tin liên lạc làm công tác tuyên truyền và sáng tác.

Nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha có kể lại: “Tôi gặp Quang Chuyền mùa mưa 1974 tại sông Bung - Quảng Nam sau chiến dịch Thượng Đức. Lúc ấy Quang Chuyền có chuyến xuyên Trường Sơn cùng nhà thơ Xuân Miễn và Trọng Tân. Xuân Miễn khi đó đã là nhà thơ rất nổi tiếng còn Quang Chuyền và Trọng Tân là cán bộ tuyên huấn thuộc Bộ tư lệnh Thông tin. Sau chuyến đi đó Quang Chuyền trở thành nhà thơ còn Trọng Tân trở thành nhà văn. Hoá ra Trường Sơn là cái nôi nuôi dưỡng tạo ra những nhà văn, nhà thơ.

Đúng như nhận xét của Nguyễn Thuỵ Kha, những chiến sĩ đã qua Trường Sơn đam mê thơ phú thì sau dần đều thành danh ít nhiều trên văn đàn. Riêng ngành thông tin liên lạc, đặc biệt là Binh chủng Thông tin - liên lạc, ngoài Quang Chuyền còn có nhà thơ Anh Ngọc, Phạm Đức, Nguyễn Thuỵ Kha, Nguyễn Duy, Nguyễn Văn Chương... nhà văn Phạm Đình Trọng, Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Tiến Hải, Xuân Mai...

Trong hơn hai mươi năm bận mải binh nghiệp nhưng Quang Chuyền vẫn không ngừng làm thơ. Như tất cả những nhà thơ quân đội, anh có nhiều thơ về chiến tranh. Với đề tài này Quang Chuyền có những nỗi niềm. Trong  thơ anh ít thấy ồn ào tiếng súng đạn nhưng không vì thế người đọc không khó gì để thấy những tàn khốc, mất mát, thương đau của chiến tranh: “... Và đâu nữa đêm đất rừng chảy máuBom phạt , cây tan , dép mũ lạc người /Cả bia mộ cũng lạc tên tuổi bạn / Chỉ đất còn lưu giữ dáng người thôi..." hoặc: “Đất nhuộm chi đỏ thế / Lửa chiến tranh điêu tàn / Máu còn loang mặt đất / Chạm vào còn ấm ran” hoặc nữa: “Hồn người lẩn khuất đâu đây / Hình như trong lá trong cây của rừng”.

Quang Chuyền đã trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Thơ anh luôn xuất hiện trên báo chí văn học cả nước. Đã có cho mình 10 tập thơ in riêng cùng 2 tập in chung và mới đây, anh xuất bản tập thơ tuyển chọn. Hơn nữa anh còn vinh dự 4 lần đứng trên bục nhận giải thưởng chủ yếu là các giải thưởng văn học quốc gia. Từ binh nhì rồi trở thành trung tá, phó tổng biên tập báo Thông tin, được điều động làm phó chủ nhiệm chính trị lữ đoàn 596  Bộ tư lệnh Thông tin - liên lạc, Cương vị ấy không ít người người sẽ  thay đổi tính cách. Nhưng Quang Chuyền thì không. Tôi quen biết anh đến nay đã gần nửa thế kỉ. Đó là năm 1966, ngày anh mới về nhận công tác ở Hội Văn nghệ Việt Bắc. Khi ấy tôi công tác ở Sở văn hoá khu tự trị Việt Bắc.Tiếng là hai cơ quan nhưng ban đầu thực chất là một vì phần lớn những người đầu tiên sang công tác bên hội đều là người của sở văn hoá. Hơn nữa đó là thời kì chiến tranh phá hoại, hai cơ quan cùng sơ tán dưới một  cánh rừng già thuộc xã Cúc Đường, huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên gần 40 cây số. Hàng ngày mọi người như luôn luôn gặp nhau nên dễ trở thành thân thiết.Cảm nhận ban đầu Quang Chuyền vẫn nguyên chất một cậu học sinh nông thôn mới ra trường, có khuôn mặt bầu bĩnh, lành hiền, chất phác. Còn khá rụt rè, nghe nhiều hơn nói. Trong chuyện trò thấy anh hay lẫn giữa vần L và N. Bất cứ ai khi tiếp xúc với Quang Chuyền, dù chỉ một lần nhưng sẽ phải yêu mến anh ngay vì sự thật thà, khiêm nhường. Quan hệ với anh luôn đem lại không chỉ cho tôi mà còn cho những  người được tiếp cận anh một sự yên tâm, tin cậy.

Nhưng khi đang thân thiết thì anh gia nhập bộ đội còn tôi sau đó chuyển về Hà nội  nên bẵng tin nhau. Để mãi gần đây có dịp vào Thành phố Hồ Chí Minh, qua nhà văn Nguyễn Khoa Đăng biết điện thoại anh, tôi gọi. Kì lạ sao, dù đã gần năm mươi năm không gặp nhưng vừa thấy tôi anh đã nhận ngay ra tôi. Còn Quang Chuyền tôi vẫn thấy không mấy khác ngoại trừ anh có già hơn, trên mép nay thêm hàng ria con kiến. Vẫn ít nói, lành hiền, phúc hậu như nguyên cậu học sinh mới ra trường hồi nào. Giọng nói vẫn từ tốn, khiêm nhường, mộc mạc và tôi để ý, trong câu chuyện dù anh đã ý thức nhưng đôi khi anh vẫn không tránh khỏi lẫn giũa vần L và N.

Tôi biết, sau khi giải ngũ Quang Chuyền cùng gia đình định cư tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đã nhiều năm qua có nhà cao cửa rộng ở nơi phố thị sôi động vậy nhưng anh như lạc lõng trong đó: “Nhiều năm tôi gửi bóng mình / Ở nơi phố thị Tân Bình nắng mưa / Người đông ồn ã dư thừa / Tôi thường đi sớm về trưa một mình…” Anh đau đáu những  kỉ niệm với Tuyên Quang, nơi tuổi thơ anh trôi giạt thời kiếm sống: “Chiều thành Tuyên / Nắng khép dần cửa sổ / Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa /Chim về sải cánh qua soi / Sóng thở bồi hồi / Giục phà sang Nông Tiến...Bài thơ anh làm ngày mới vào bộ đội đã được in trong tạp chí Văn Nghệ Quân Đội từ năm 1968.     

Với nhiều người khác, cuộc sống nơi đất mới đời sống vật chất khá giả, sung túc hơn, thường tính cách dễ thay đổi nhưng anh thì hoàn toàn không khác gì. Vẫn đậm con người nông dân làng gốm Vĩnh Phúc, pha lẫn chất chân thật miền núi Tuyên Quang. Có lẽ bởi thế nên anh đã “Tự hoạ” chân dung mình một cách rất mộc  mạc, thành thực khiến người đọc phải yêu thích: “Ta là một gã nhà quê/ Bước đời không định lạc về phố đông/ Bữa ăn thường thích cua đồng / Dưa chua, tương mặn, cải ngồng bãi soi /  Trong con người “nhà quê” Quang Chuyền lành hiền kia khôn nguôi khắc khoải nỗi nhớ về quê cũ: “Ai không có một nẻo về / Ai không có một chốn quê riêng mình / Ai không có khoảng trời xanh / Ai không có một mái đình cây đa”. Đọc tâm sự của anh làm  tôi  không khỏi  nhớ tới câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân: “Quê hương nếu ai không nhớ / Sẽ không lớn nổi thành người...”

Nỗi nhớ quê hương trong Quang Chuyền không phải chỉ nhớ về những năm tháng khó khăn ngày ây: “Củ khoai, khúc sắn cong queo / Vùi trong tro trấu gieo neo mùa màng”mà còn là kỉ niệm sâu sắc. Anh có quen một người con gái quê Tuyên Quang, rồi yêu nhau thủa đi học sư phạm bên Thái Nguyên. Hai người thề ước. Mối tình mơ mộng ấy kéo dài đã mấy năm. Nhưng gần đến ngày cưới thì chị chẳng may gặp tai biến chấn thương sọ não. Nhiều người lo ngại cho anh nếu xây dựng gia đình với một người con gái đau yếu bệnh tật làm sao có thể sống bình thường nói gì đến sao có đủ sức thay anh quán xuyến gia đình còn mẹ già, bốn em dại của anh? Nhưng rồi sau nhiều thao thức, trăn trở, anh tỉ tê thuyết phục mẹ. Đời con gái có thì, người ta đã bao năm chờ đợi, nay chẳng may gặp tai ương sao đành rời bỏ? Đạo lí, tình nghĩa. Quyết tâm của anh đã cảm động được đơn vị, cảm hoá được gia đình, họ hàng. Đám cưới được tổ chức ngay khi sức khoẻ người yêu có phần trở lại. Làm sao anh quên được những ngày hạnh phúc đến với anh khi  ấy: “Mười ngày nghỉ phép thăm quê / Ta làm lễ cưới em về cùng anh / Tuần trăng chừng đã vào rằm / Nỗi vui oà vỡ tám năm đợi chờ”. Đúng là  ông trời có mắt. Sau khi xây dựng gia đình, sức khoẻ của vợ anh khá lên. Chị đã sinh cho anh ba người con, hai trai một gái, các cháu trưởng thành có công ăn việc làm ổn định và hiện nay anh có năm cháu nội ngoại quây quần. Tuy  không thể như một người bình thường nhưng những công việc gia đình, chị vẫn giúp anh quán xuyến. Hôm tôi đến thăm gia đình Quang Chuyền ở gần sân bay Tân Sơn Nhất, vợ anh vẫn lo cơm nước tiếp khách rất chu đáo. Tôi rất mừng cho bạn.

Người ta thường nói, thơ là người. Có nhà thơ viết, đại ý anh dấu đâu cũng được nhưng trong thơ thì không thể giấu. Tức là sống giả thì chắc chắn thơ dù hay mấy vẫn cứ thành giả. Hình như vậy nhưng đâu có phải vậy. Nhiều người viết rất hay, nói rất hay nhưng trong tư cách, trong hành xử lại trái ngược. Mà không phải ít.

Nhưng tôi tin chắc, thơ và người hoàn toàn là một sau khi quen biết và được đọc tất cả những gì mà nhà thơ Quang Chuyền đã viết ra. Trong cuộc đời, tính cách và thơ ca của anh là nhất quán. Anh tâm sự “tôi xin cảm ơn cuộc đời đã cho tôi những khoảnh khắc thăng hoa để viết nên những dòng thơ về con người, cuộc sống, để giãi bày lòng tôi”.

HUY THẮNG
Nguồn: NVTPHCM



Bài đăng mới nhất

TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI CUỘC THI “MỘT NỬA LÀM ĐẦY THẾ GIỚI”

Sau 8 tháng diễn ra, cuộc thi truyện ngắn viết về phụ nữ “Một nửa làm đầy thế giới” do NXB Văn hóa - Văn nghệ tổ chức (với sự tài trợ giải t...

Bài đang đọc nhiều